Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

PHẢI CHĂNG ĐÂY LÀ SỰ HIỂU BIẾT “SÂU SẮC” VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN ?

           * TRUNG HÀ   
               - (Bài 2)                                             
           Sau khi viết xong bài trước (17/5/2014), tôi không có ý định viết gì thêm nữa, song qua ý kiến nhận xét, khích lệ của nhiều bạn đọc và gợi ý của bạn bè gần xa, đặc biệt là trước sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan vào thềm lục địa của ta ở Biển đông...đã  thôi  thúc  tôi viết thêm bài này. Mong được mọi người góp ý, cùng trao đổi tiếp.
1- Không hiểu ai đã cho rằng “chủ nghĩa Mác – Lê-nin bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Nam” mà đến nỗi  PGS, TS Vũ Văn Phúc, TBT Tạp chí cộng sản phải đặt thành câu hỏi lớn cho tựa đề của bài viết để phản bác ? Có lẽ đó là người ngồi trên sao hỏa, vì quá xa với thực tiễn đã và đang diễn ra trên bề mặt quả địa cầu này.  Thực tế là cho đến nay ở các nước phương Tây (kể cả Âu, Mỹ) đã có nước nào thực hiện đúng theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin mà thành công và tồn tại được đâu ? Hoặc là cách mạng vô sản không nổ ra như dự đoán ban đầu của Mác hoặc đã nổ ra và giành được chính quyền, nhưng rồi lại sụp đổ (Nga, Đông Âu). Như vậy là ngay cả ở phương Tây, chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chưa được thực tế chứng minh là phù hợp.
                              >> Bài 1 – Trung Hà – Phải chăng  ? 
Sau khi Mác mất (1883), Ăng-ghen đã chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân theo con đường xã hội dân chủ, thay thế cho chủ nghĩa cộng sản. Một số nước Bắc Âu (Na Uy,Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan) thực hiện theo tư tưởng đổi mới của Ăng-ghen thông qua thực tế đã đạt được những thành quả đáng khâm phục ! GDP bình quân đầu người năm 2010 của mỗi nước đạt từ 30.000 đến 86.000 USD, tương đương với Mỹ và đứng trên nhiều nước tư bản phát triển khác, đời sống của nhân dân được ổn định ở mức khá cao. (Theo trù tính của các nhà kinh tế, với cung cách làm ăn như hiện nay, nếu không có gì đột biến xẩy ra thì đến hết thế kỷ XXI này GDP bình quân đầu người của Việt Nam giỏi lắm cũng chỉ đạt trên 10.000 USD).  Năm 2011, LHQ công nhận 4 nước Bắc Âu (kể trên) nằm trong 20 nước có chất lượng cuộc sống tốt nhất thế giới hiện nay.Tổ chức Minh bạch quốc tế xếp các nước này nằm trong 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới.
           2- Tác giả đã dẫn ra những thông tin về kết quả bình chọn ở một số nước, trong đó Mác vẫn được coi là nhà tư tưởng số một của thế giới để chứng minh rằng “C.Mác đã đội mồ đứng dậy”...
          Cần hiểu cho đúng : Mác là một triết gia lớn, có nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhưng trong hệ thống lý luận của Mác không phải tất cả đều đúng hoặc ngược lại. Do vậy trên thế giới vẫn có không ít người ngưỡng mộ, đó là ngưỡng mộ phần đúng chứ không phải là ca ngợi toàn bộ lý luận của Mác. Còn phần sai thì trước khi qua đời, chính bản thân Mác đã tự nói ra : “Tôi chỉ biết một điều rằng tôi không phải là người Mác-xít” (C.Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập, Tập 37. Nxb CTQG. HN, trang 603).
3- Còn đối với Việt Nam, tác giả viết : “Ở Việt Nam, kể từ “Đường kách mệnh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Luận cương chính trị do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 đến nay Đảng ta đều khảng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng”.
a) Trước hết, có lẽ tác giả nên đọc lại toàn bộ Điều lệ đảng qua các kỳ đại hội từ khi thành lập đến nay để xem có phải ngay từ 1930 đảng ta đã quyết định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng hay không ?  
         b) Với cách trình bầy như  trên, phải chăng tác giả không hề hay biết gì về sự khác nhau rất căn bản giữa “Chính cương vắn tắt” của Hồ Chí Minh và “Luận cương chính trị” của Trần Phú ? hay cố tình gộp 2 quan điểm trái ngược hẳn nhau làm một ? Sự thật lịch sử là :
                   >> Cuộc đối thoại về NIỀM TIN …  
Ngày 3/2/1930 trong cuộc Hội nghị hợp nhất 3 nhóm cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra Chính cương (vắn tắt) trong đó có nội dung chủ yếu là :
“…Đảng phải tập họp đại bộ phận giai cấp công nhân và nông dân…Đảng phải vận động tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi với giai cấp công nhân đồng thời phải tranh thủ hoặc trung lập hóa tầng lớp trung, tiểu địa chủ, phú nông và tư sản Việt Nam…Đảng phải nêu cao khẩu hiệu Việt Nam độc lập, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới”.
Bản chính cương này đã bị Trần Phú bác bỏ (theo chỉ đạo của Quốc tế cộng sản) với nhận xét rằng: “Chính cương sách lược vắn tắt đã phạm sai lầm chính trị nguy hiểm vì chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh”.(Văn kiện Đảng,Nxb CTQG 1998 t2, trang 110)
Thay vào đó là Luận cương chính trị do Trần Phú soạn thảo được hội nghị Trung ương thông qua ngày 31/10/1930, đặt đấu tranh giai cấp lên hàng đầu. Đường lối tả khuynh sai lầm đó đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu : “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, kết quả là thất bại, lực lượng bị tổn thất nghiêm trọng và cách mạng rơi vào một thời kỳ thoái trào tệ hại !
Cũng thông qua việc đề ra “Chính cương vắn tắt” kể trên mà Stalin cho rằng Nguyễn Ái Quốc không phải là cộng sản, không có lập trường giai cấp mà chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi...và  đã bị “treo giò” nhiều năm không giao công tác, coi như bị “giam lỏng” ở Mát-scơ-va. Nguyễn Ái Quốc đành phải ngồi học và tranh thủ làm luận án tiến sĩ về “Vấn đề ruộng đất ở châu Á” ở “Viện các vấn đề dân tộc ”, sau khi bảo vệ thành công, được phong hàm giáo sư nhưng Nguyễn Ái Quốc từ chối, không nhận.
Ngay từ khi mới tiếp xúc với lý luận của Mác, năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một nhận xét khác thường so với nhiều học giả uyên bác đương thời :
 “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết học nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào ? – Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì ? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, tr 456).
“Cần xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng  dân tộc học phương Đông” (Trích báo cáo của NAQ gửi QTCS năm 1924).
Còn đối với Lê-nin, là người ủng hộ phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa nhưng lại cho rằng kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng ở các nước thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của giai cấp vô sản chính quốc, cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi khi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi, vì vậy cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa chỉ là lực lượng hậu bị (hỗ trợ) của cách mạng vô sản chính quốc...
Nhưng Hồ Chí Minh lại nghĩ khác hẳn :
“Cách mạng giải phóng dân tộc không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có tính chủ động. Trong những điều kiện nhất định, cách mạng ở thuộc địa có thể nổ ra và thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Và trong trường hợp ấy, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. (HCM toàn tập,CTQG, 1995, tr 364). Điều này đã được thực tế chứng minh là đúng. Nếu cứ trung thành với quan điểm của Lê-nin mà chờ cách mạng vô sản Pháp thắng lợi thì không biết bao giờ Việt Nam mới giành được độc lập ?
Chính là nhờ phong cách tư duy độc lập, tiếp thu có chọn lọc, trân trọng nhưng không giáo điều, và với bản lĩnh tự thân dám vượt qua mọi rào cản...mà Hồ Chí Minh đã đề ra khẩu hiệu : đại đoàn kết toàn dân (khác với Mác chỉ kêu gọi giai cấp vô sản liên hiệp lại hoặc Lê-nin chỉ chủ trương liên minh công nông). Thực chất là từ năm 1941, đường lối lãnh đạo của Đảng đã trở lại với Chính cương, sách lược vắn tắt đã được phát triển lên một trình độ cao hơn, hoàn chỉnh hơn. Kết quả là Mặt trận Việt Minh ra đời mở ra một trang mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam : cả dân tộc đã tập hợp lại thành một khối thống nhất dưới ngọn cờ Đại đoàn kết toàn dân đứng lên giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, đập tan chế độ thuộc địa, phong kiến, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa... 
 4- Tình hình thực tiễn diễn ra trên đất nước ta từ sau khi kết thúc chiến tranh đến nay, trải qua gần 40 năm xây dựng đất nước theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để thực hiện chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản...kết quả thế nào ?
 -10 năm đầu tiên (1976-1985) đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội theo đúng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và mô hình cộng hòa XHCN của Liên xô. Kết quả là đi vào ngõ cụt, bế tắc,  khủng hoảng trầm trọng !
- Đứng trước nguy cơ sụp đổ, Đại hội đảng lần thứ VI ( 1986) buộc phải tìm lối thoát bằng con đường ĐỔI MỚI, thực chất là “phá rào”, rẽ sang một lối khác, từ bỏ (một phần) lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Do đó mới giải phóng được sức sản xuất, thoát khỏi đói nghèo và từng bước phát triển đi lên.
Tuy nhiên sự đổi mới đó còn nửa vời nên chỉ phát huy được tác dụng ở mức độ nhất định. GDP bình quân hàng năm tính theo đầu người từ dưới 500 USD (1988) sau 20 năm đã lên được 1.145 USD (2008), nhưng sau đó bắt đầu hết động lực và tụt dốc dần : tốc độ tăng trưởng GDP từ đỉnh cao năm 2007 : 8,46% đến nay chỉ còn 5,4% (2013).

Vì vậy trải qua gần 30 năm đổi mới, tuy có đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, nhiều vướng mắc, lung túng trong quá trình lãnh đạo và quản lý đối với nền kinh tế… nên tốc độ phát triển rất chậm và không vững chắc, đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, nông dân và các dân tộc miền núi còn vô vàn khó khăn…
 5- Trong phần kết, đánh giá thành tích của công tác lý luận trong những năm qua, tác giả cho rằng “...công tác lý luận đã trực tiếp góp phần làm cho con đường đi lên CNXH nước ta ngày càng được xác định rõ hơn, đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, bước vào thời kỳ phát triển mới ở thế kỷ XXI với thế và lực mới, với một gia tốc mới, như bất cứ ai đều thấy”.
Không thể phủ nhận sự đóng góp tích cực của các nhà lý luận trong thời gian qua đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là từ khi ĐỔI MỚI. Nhưng có lẽ đánh giá như vậy hơi cao, có phần chủ quan, xa rời thực tiễn...mà thực tiễn bao giờ cũng là thước đo chân lý. Nếu như công tác lý luận đã góp phần đưa nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới ở thế kỷ XXI với thế và lực mới, với gia tốc mới... thì cần hiểu thế nào vể lời phát biểu của vị đứng đầu một Bộ (có thể coi là bộ tham mưu của nền kinh tế đất nước) :  Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Bùi Quang Vinh : “Chúng ta phải đổi mới căn bản và triệt để thể chế kinh tế của chúng ta. Phải tiếp tục thị trường hóa một cách mạnh mẽ...chúng ta sẽ tụt hậu rất nhanh so với các nước bên cạnh...bây giờ không dám so với Thái Lan, Indonexia, Malaysiađâu, tôi đang lo rằng là cả với Campuchia và Lào – những nước trước đây quá lạc hậu so với chúng ta.” (Phát biểu tại Quốc hội ngày 24/10/2013). Đó là thực trạng kinh tế-xã hội của chúng ta hiện nay, không ai có thể nắm rõ thực trạng đó hơn Bộ trưởng kế hoạch đầu tư của chính phủ.
Cho đến nay các nhà lý luận của ta cũng còn mù mờ, chưa làm rõ được thế nào là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” ? Đã là thị trường thì phải cạnh tranh bình đẳng nhưng lại lấy kinh tế quốc doanh là chủ đạo và được ưu ái đủ thứ thì còn gì là cạnh tranh? Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng lại không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về tư kiệu sản xuất thì làm sao giải phóng được sức sản xuất ? v.v... Đó là những lực cản, kìm hãm đất nước trong trạng thái trì trệ, nên đã gần 30 năm đổi mới mà chúng ta vẫn còn là một nước nghèo ! trong đó không biết các nhà lý luận có thấy được phần nào trách nhiệm của mình không ?
Một thực trạng nữa cũng đáng chú ý : Nhiều năm nay ta vẫn coi  Trung Quốc là cùng chung ý thức hệ, cùng là chế độ XHCN với “16 chữ vàng và 4 tốt”. Vậy các nhà lý luận của ta đã đi sâu nghiên cứu để chứng minh điều đó trên thực tế chưa ? Với việc thực hiện lý luận “mèo trắng, mèo đen” của Đặng Tiểu Bình thì thực chất là họ đã quẳng chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào sọt rác từ lâu rồi ! Cái gọi là “ CNXH mang đặc sắc Trung Quốc” chỉ là để  lừa bịp nhân dân trong nước và che mắt thiên hạ mà thôi. Với thế giới không biết có nhiều người bị lừa không ? còn đối với Việt Nam thì... không lẽ các nhà lý luận “chính thống” của ta cũng bị trúng quả lừa đó sao ?Và làm sao lý giải được việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa (1974), đưa 60 vạn quân gây chiến tranh biên giới (1979) tàn phá mọi cơ sở vật chất và giết hại vô cùng dã man nhân dân một nước “ ý thức hệ tương đồng”, đánh chiếm đảo Gạc Ma nằm sâu trong quần đảo Trường Sa (1988), rồi liên tục gây rối bằng nhiều biện pháp bỉ ổi ở Biển Đông và giờ đây lại trâng tráo đưa hẳn giàn khoan khổng lồ HD981 vào đặt ngay tận sân nhà chúng ta để hiện thực hóa âm mưu bành trướng, trắng trợn xâm phạm chủ quyền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc ta...
Vậy xin mạo muội đặt ra câu hỏi : lâu nay công tác lý luận của ta đã làm gì để tham mưu cho lãnh đạo sớm nhận rõ bộ mặt thật của nhà cầm quyền Trung Quốc “XHCN” từ đó có đối sách thích hợp ? Hay coi đó chỉ là chuyện vặt, không có gì mới... nên không đáng quan tâm ?
Ngày 30 tháng 5 năm 2014       
T.H
(Tác giả gủi BVB)
=======

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Phải chăng đây là sự hiểu biết “sâu sắc” về chủ nghĩa Mác – Lê-nin ?

     

Hà Tuấn Trung trunghatuan@gmail.com
Kính chào anh Bùi Văn Bồng
Tôi là đảng viên ĐCSVN, 65 năm tuổi đảng, cán bộ nghỉ hưu tại Hà Nội.
Qua đọc bài viết " Phải chăng..." đăng trên TCCS tháng 4/2014, tôi thấy cần có vài lời phản biện để mọi người rộng đường suy ngẫm, phân biệt phải trái rõ ràng. Do vậy tôi xin gửi tới anh bài viết kèm theo để anh nghiên cứu, sử dụng. Trân trọng cảm ơn.
* TRUNG HÀ
Qua đọc bài viết của PGS, TS Vũ Văn Phúc với tựa đề : “Phải chăng chủ nghĩa Mác – Lê-nin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Namđăng trên TCCS ngày 24/4/2014, tôi thấy cần góp ý vài điều như sau :
                                                       1-Về chủ nghĩa cộng sản :
Phải chăng tác giả không biết hay đã cố tình bỏ qua những thay đổi trong quan điểm của Mác, Ăng-ghen về chủ nghĩa cộng sản. Thể hiện trong lời nói đầu của cuốn “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, xuất bản ngày 6/3/1895 Ăng-ghen đã viết : “Lịch sử chứng tỏ chúng ta đang mắc sai lầm. Quan điểm của chúng ta hồi đó chỉ là ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều hơn, không những đã xóa bỏ những mê muội của chúng ta hồi đó mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản, phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt…Chẳng có mục tiêu lớn “CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN” gì cả, đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Mác đề xuất lúc trẻ nhưng đã vứt bỏ lúc cuối đời”. (Tạp chí Thông tin lý luận số 10/2007).
                                 2- Về sự khác nhau giữa Mác và Lê-nin
Không có lẽ tác giả không thấy được sự khác nhau giữa Mác và Lê-nin
Sau khi công bố “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”, Mác, Ăng-ghen đã thành lập tổ chức Quốc tế cộng sản (Quốc tế I - 1864) để chỉ đạo thực hiện… Song thực tiễn cuộc sống diễn ra mấy thập kỷ sau đó đã khiến cho các ông nhận ra sai lầm và tự mình phủ định những quan điểm trước đó để đổi mới tư duy : tuyên bố giải tán Quốc tế cộng sản (1876), thay đổi mục tiêu và phương pháp đấu tranh theo hướng xã hội dân chủ…
Nhưng Lê-nin đã không hưởng ứng những sự thay đổi đó mà vẫn kiên trì bám theo những luận điểm ban đầu của Mác về bạo lực cách mạng và xây dựng xã hội cộng sản dựa trên nền tảng đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản…
Sau khi Mác và Ăng-ghen qua đời, Lê-nin đã kịch liệt phê phán những môn đệ trung thành với những ý tưởng đổi mới của Mác, Ăng-ghen như Béc-tanh, Cao-ski…coi đó là những kẻ “xét lại”, phản bội…qua tác phẩm : “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cao-sky”. Thực chất là gián tiếp phê phán Mác, Ăng-ghen.
 Lê-nin còn đưa ra luận điểm các nước nông nghiệp lạc hậu có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản – trái hẳn với luận điểm của Mác v.v...
    3- Về chủ nghĩa Mác – Lê-nin 
đối với cách mạng Việt Nam
 Tác giả đã cố tình gán ghép về nguyên nhân thắng lợi của cách mạng VN là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin : “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, giáo dục, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng chính trị, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, là minh chứng thuyết phục nhất chứng tỏ rằng, học thuyết Mác - Lê-nin đã thực sự đóng vai trò lý luận dẫn đường cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.”Một sự ngộ nhận hết sức sai lầm.
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Namthông qua Hồ Chí Minh như thông qua một bộ tinh lọc và có những bổ sung cực kỳ sáng tạo ngoài những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chính vì vậy mới có được những thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ Quốc Việt Namtrong thế kỷ XX .
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.Lý luận Mác – Lê-nin nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, nhưng Hồ Chí Minh lại cho rằng :
            “ Nghe  người  ta  nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (HCM toàn tập, tập 5, tr 272).
“Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc” (XYZ ,Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Ban THTW, 1949).
            Về lực lượng cách mạng : Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết được, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo...với khẩu hiệu : “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Kết quả là sự ra đời của Mặt trận Việt Minh (1941) đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Sau khi giành được chính quyền trong cách mạng Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh không tuyên bố xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản mà chủ trương thiết lập chế độ dân chủ cộng hòa, (không dập khuôn theo mô hình cộng hòa xã hội chủ nghĩa của Liên Xô). Rồi sau đó thành lập chính phủ liên hiệp, gồm những người yêu nước và có năng lực không phân biệt thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo….
Như vậy, nguyên nhân căn bản của cuộc đấu tranh giành được độc lập và kháng chiến thành công là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế...đã phát huy được truyền thống yêu nước, chống xâm lược của cả dân tộc và tranh thủ được ủng hộ của quốc tế...chứ không phải là đã thực hiện theo lý luận về đấu tranh giai cấp,  của chủ nghĩa Mác - Lê-nin (cả Mác và Lê-nin đều không có khái niệm đại đoàn kết). Nếu thực hiện đúng theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin thì không thể có thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng 8/1945 và thành công rực rỡ của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Từ những điều kể trên cho thấy những quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ bản là khác biệt so với các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nếu như quy luật nhận thức của mỗi người đối với sự vật, hiện tượng khách quan là một quá trình... thì có thể thấy rõ nhận thức, quan điểm của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa cộng sản cũng không ngoài quy luật đó.Với những quan sát và trải nghiệm trên khắp năm châu bốn biển trong suốt cả cuộc đời, quan tâm nghiên cứu đủ các loại học thuyết, các chủ nghĩa trên thế giới…Người cũng mong muốn có một xã hội cộng sản chủ nghĩa như ước mơ của Mác, nhưng đã sớm  nhận ra đó chỉ là ý tưởng cao đẹp, nhưng không có khả năng biến thành hiện thực. Tuy nhiên mục tiêu giành và giữ độc lập cho đất nước giữa thế kỷ 20 đòi hỏi phải tranh thủ sự giúp đỡ của phong trào cộng sản quốc tế, vì vậy đành phải chấp nhận thực hiện một số điều ngoài ý muốn...Cho đến những năm cuối đời (1965 – 1969) Hồ Chí Minh đã dành thời gian nghiền ngẫm, cẩn trọng biên soạn một bản Di chúc tâm huyết để lại cho toàn đảng, toàn dân, đề cập đến mọi vấn đề hệ trọng của đất nước, song trong đó không có lời  nào  căn  dặn phải đưa nước ta đi lên chủ nghĩa cộng sản mà chỉ nhấn mạnh rằng : “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là : Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, DÂN CHỦ VÀ GIẦU MẠNH, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế  giới”.
4- Ca ngợi một chiều thắng lợi, cố tình lẩn tránh, không đề cập đến những sai lầm, thất bại của đảng trong các thời kỳ chủ trương thực hiện theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin :
- Những năm 30 của thế kỷ XX, Trần Phú thực hiện theo chỉ đạo của Quốc tế cộng sản (Đệ tam) chủ trương đặt nhiệm vụ đấu tranh giai cấp lên hàng đầu, dẫn đến thất bại của cuộc khởi nghĩa Xô- viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu : “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.
-Từ 1953 đến 1956 : Tiến hành cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức theo sự áp đặt của Liên xô, Trung Quốc ... phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây nên một trong hậu quả nặng nề trong lịch sử của đất nước.
            -Từ 1976 đến 1985 : Thực hiện chuyên chính vô sản, triệt để cải tạo công thương nghiệp, xóa bỏ giai cấp tư sản, kinh tế tư nhân, đối xử tệ bạc và thành kiến nặng nề với những người đã làm việc trong bộ máy chính quyền cũ...Xây dựng nền kinh tế theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và mô hình cộng hòa XHCN xô viết của Liên xô...kết quả đưa đất nước vào một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng.
            Thử đặt câu hỏi : nguyên nhân căn bản của những lần thất bại đó là gì ? Phải chăng cũng đều là do lãnh đạo đã đi chệch khỏi lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin ? Câu trả lời là trái lại, vì đã làm đúng lý luận về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản và xây dựng chế độ XHCN để tiến lên chủ  nghĩa cộng sản !
              5-Về nguyên nhân sụp đổ của LX và các nước XHCN Đông Âu
Tác giả cho rằng “ ...bắt đầu từ sai lầm trong xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền ở đó, do đi chệch khỏi chủ nghĩa Mác - Lê-nin chân chính, mà còn là sự xét lại và phản bội chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời không thể không kể đến những âm mưu thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chính chủ nghĩa đế quốc quốc tế sử dụng...”
Về vấn đề này trong bài “Cận cảnh Liên xô và Đông Âu sụp đổ “ đăng trên báo Tuanvietnamnet – 7/11/2013, thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Bộ công an phân tích như sau :
Một là, Đảng cộng sản Liên Xô đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ "cái uy" của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù...
 Hai là,Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng cộng sản Liên Xô đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSLX với nhân dân Liên Xô. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSLX xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.
 Ba là,những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.
Trên đây là những biểu hiện nổi bật chủ yếu sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất là các cán bộ chủ chốt ở cấp cao.
Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng cộng sản Liên Xô và các "phiên bản" Đông Âu của nó thuộc trường hợp này.”
Tham khảo thêm nhận xét của các nhà nghiên cứu trên thế giới cho thấy: « ...nguyên nhân quan trọng vÒ sù sôp ®æ cña §CSLX sau 74 n¨m cÇm quyÒn lµ n¹n tham nhòng trong bé m¸y l·nh ®¹o : “sù ®åi b¹i, try l¹c trë nªn phæ biÕn, n¹n tham «, hèi lé chÝnh lµ ®Æc ®iÓm cña thêi kú Brªgi¬nÐp”, mµ ®iÓn h×nh lµ Tæng bÝ th­ư ! “Brªgi¬nÐp thÝch c©u c¸ vµ s¨n b¾n. ViÖc ®i s¨n vµ c©u c¸ cña Brªgi¬nÐp còng gièng nh­ư nhµ vua ®i tuÇn thó vËy, tiÒn h« hËu ñng, kÐo theo ®ã lµ nh÷ng buæi yÕn tiÖc linh ®×nh. Lóc nµy, trong quan chøc cña Liªn X« thÞnh hµnh phong c¸ch “tiÖc tïng” vµ “quµ biÕu”. Mäi ng­ưêi ®Òu coi quµ biÕu kiÓu nµy nh­ư mét “nghi thøc giao tiÕp b×nh th­ưêng” mµ ng­ưêi cã thÓ tiÕp nhËn quµ biÕu nhiÒu nhÊt kh«ng ai kh¸c chÝnh lµ Tæng bÝ th­ưBrªgi¬nÐp...nh÷ng chiÕc xe h¬i ®­ưîc biÕu tÆng cña Brªgi¬nÐp ®· chÊt ®Çy mÊy gara «t«, sóng s¨n th× chÊt ®Çy mét c¨n phßng lín ! v.v...” Tõ ®ã mµ h×nh thµnh c¶ mét m¹ng l­ưíi ®Æc quyÒn ®Æc lîi, tham nhòng phæ biÕn tõ trªn xuèng d­ưíi. (xem : “Bµn vÒ c«ng t¸c x©y dùng n¨ng lùc cÇm quyÒn cña ®¶ng” - trang 38, 39 - NXB ChÝnh trÞ quèc gia - Hµ Néi - 2010).
 MÇm mèng cña sù tan r· vµ mÊt chÝnh quyÒn cña §¶ng céng s¶n Liªn X« vµo n¨m 1991 chÝnh lµ ë chç ®ã chø ®©u ph¶i chØ v× nh÷ng sai lÇm cña Gooc – ba - ch«p vµ sù ph¸ ho¹i cña c¸c thÕ lùc thï ®Þch bªn ngoµi . Mặc dù với hơn 20 triệu đảng viên cộng sản cùng vài chục triệu đoàn viên thanh niên công-xô-môn với lực lượng quân đội và cảnh sát, an ninh hùng hậu...nhưng khi mà đại đa số nhân dân đã mất hết lòng tin, đã bất bình và quay lưng lại với đảng cầm quyền thì không có cách gì có thể cứu vãn được nữa !
Ngoài ra cũng cần phân tích thêm về bức tường Béc-lanh nổi tiếng ngăn cách 2 miền nước Đức, cũng là để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào các nước XHCN từ phía tây, do nước Cộng hòa dân chủ Đức (Đông Đức), một nước giầu nhất trong phe XHCN làm tiền đồn. Thế mà tự dưng năm 1989 bức tường đó lại bị đổ ! Phải chăng là do các thế lực thù địch quốc tế và nhà cầm quyền Tây Đức phá để thôn tính Đông Đức ? Sự thực hoàn toàn ngược lại, chính là do nhân dân Đông Đức ngày càng bất mãn với chế độ vô sản chuyên chính mất dân chủ, đời sống ngày tụt hậu, thu nhập bình quân chỉ bằng ¼ so với Tây Đức...nên số người trốn chạy sang Tây Đức (bằng các ngả đường vòng qua các nước khác) ngày càng nhiều, số còn lại gây áp lực lớn với chính quyền đòi được tự do đi lại...buộc lãnh đạo phải nhượng bộ...thế là bức tường Béc-lanh kiên cố bị vô hiệu hóa ! nói một cách khác là từ trong nhân dân Đông Đức phá ra chứ không phải từ các thế lực thù địch bên ngoài phá vào. Đó là hệ quả tất yếu của đường lối lãnh đạo sai lầm theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin v.v...
T.H
-----------------

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Mất nước lỗi tại ai?


Việt Nam mất nước, mất lãnh thổ vùng biên giới, mất đảo mất biển ở Biển Đông, một mặt là do tham vọng bành trướng của Trung Quốc, nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là do thái độ nô tài của trí thức Việt Nam. 
Thái độ này đặc biệt được phóng đại lên, được truyền tải hết mức trên những cơ quan truyền thông VN, cá nhân cũng như thuộc cơ quan trong nước và nước ngoài, từ hơn thập niên nay. Dưới hiệu quả của nó, người dân Việt Nam được ru ngủ với những bài viết, những trang phóng sự, những bài phỏng vấn… mà nội dung chỉ là những thứ cóp nhặt của người khác, còn không là bóp méo dữ kiện lịch sử, diển giải sai lầm tài liệu pháp lý. Nó chỉ có giá trị của những liều thuốc an thần.
Tham vọng bành trướng của Trung Quốc, người Việt qua các thế hệ đã từng trãi, đã có kinh nghiệm, do đó luôn có các phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa. Tham vọng chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh của Trung Quốc không phải là một âm mưu, nó đã là một thực tế từ lâu.
Vùng Trường Sa, từ « không có tranh chấp » trở thành « có tranh chấp ». Vùng Hoàng Sa, từ « vùng có tranh chấp » trở thành vùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là một quá trình tiệm tiến, thành hình sau hàng chục năm. Trong nước hình như không ai biết đến sự đổi thay này. Quả nhiên, đó là « công lao » của học giả nô tài, là do hiệu quả của những liều thuốc an thần.
Bây giờ, khi mà phía Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của VN để khai thác, ta mới thấy sự lúng túng của phía VN, từ lãnh đạo cấp cao nhà nước cho tới tầng lớp trí thức nô tài. Riêng người dân thì, không chừng, vẫn còn đang gật gờ dưới hiệu quả của những thang thuốc ngủ.
Không mấy ai thấy và hiểu được những sự thật éo le được che đậy phía dưới tấm bình phong 4 tốt và 16 chữ vàng. Khi có người nhắc đến bất kỳ điều nào có thể đe dọa đến vẹn toàn lãnh thổ của VN, người đó nhất định là Tàu, là phản động, là phản quốc, là tay sai đế quốc Mỹ...
Lẽ thường, lãnh đạo nghe học giả để có cái nhìn chiến lược. Rốt cục cả nước chỉ toàn nghe những dối gian hay những « lời chim chóc » ! Cái nhìn chiến lược cũng bị méo mó.
Những lời thật đã nói lên. Dĩ nhiên, do « thật », thì nếu không mất lòng thì cũng rất khó nghe. Rốt cục có mấy ai nghe ?
Bây giờ mất nước đã là sự thật. Nếu xét nguyên nhân, ai là thủ phạm, thì lãnh đạo CSVN là những người trọng tội hàng đầu. Tiếp theo là tầng lớp trí thức nô tài, những người sẵn sàng hóa trắng thành đen, biến không thành có để bảo vệ chủ. Sau cùng, thành phần đồng lõa, là các cơ quan truyền thông, các trang web « độc lập » có công đưa những liều thuốc an thần đó đến từng nhà, từng người, làm như 700 tờ báo và hàng trăm đài radio, truyền hình trong nước làm việc chưa đủ hiệu quả.
Việt Namcô đơn hơn bao giờ hết. Tranh chấp Hoàng Sa không hề được ghi trong DOC (Tuyên bố ứng xử giữa TQ và các nước ASEAN). Các nước ASEAN đứng ngoài, không có ý kiến về vụ này là hợp lý. Còn Hoa Kỳ, từ thập niên 90 đã có tuyên bố « không có ý kiến » về tranh chấp chủ quyền các đảo ở biển Đông, chỉ yêu cầu tôn trọng quyền tự do qua lại và các bên tôn trọng Luật Biển 1982. Việc TQ đặt giàn khoan 981 có vi phạm Luật Biển 1982 không? Theo tôi là không. Mỹ cũng không thể tuyên bố đi quá những gì đã cam kết trong quá khứ. Còn Nga, họ chỉ mong cho hai bên Việt-Trung sớm đánh nhau để bán thêm vũ khí.
Vì vậy, mất nước trước hết do mình. Sau đó mới là giặc.
Trương Nhân Tuấn 
(Blog Trương Nhân Tuấn / TTHN )
========

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Một quốc hội lập pháp

               * TS. NGUYỄN MINH TUẤN
Chức năng lập pháp là một chức năng quan trọng, vốn có của Quốc hội. Tuy nhiên, ít quốc gia nào trên thế giới lại có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật như ở Việt nam.
Chỉ tính riêng trong năm 2013, các cơ quan nhà nước ở trung ương đã ban hành 1 Hiến Pháp, 17 Luật, 22 Nghị quyết của Quốc hội; 3 Pháp lệnh, 8 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; 215 Nghị định của Chính phủ; 703 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; 106 Thông tư liên tịch. Như vậy, tính sơ bộ trong một năm các văn bản được ban hành đã vượt con số 1.000 văn bản, chưa kể Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao… Thực trạng đó khiến ta phải đặt một câu hỏi vậy “quyền lập pháp” của Quốc hội hiện nay có còn là lập pháp nguyên thủy không? Làm thế nào để khắc phục tình trạng này trước đòi hỏi Quốc hội ngày càng phải chuyên nghiệp hơn, phải giải quyết nhiều hơn những “đơn đặt hàng” từ cuộc sống?
-         Lập pháp nguyên thủy và lập pháp ủy quyền 
Quốc hội thực hiện quyền lập pháp. Tuy nhiên thực tế ở Việt Nam“chức năng lập pháp” đúng nghĩa lại do nhiều cơ quan thực hiện. Quốc hội lập pháp nhưng thực tế đa phần các dự luật là do Chính phủ và các Bộ ngành đệ trình. Sau khi luật có hiệu lực lại cần phải có những văn bản hướng dẫn của những cơ quan này mới có thể đi vào cuộc sống. Chính qui định không rõ ràng như vậy nên ở Việt Namquyền lập pháp vốn thuộc về Quốc hội, nhưng hóa ra trên thực tế đã chuyển một phần lớn sang Chính phủ và các Bộ, vì hồn cốt của luật lại nằm ở các dự luật và văn bản hướng dẫn thi hành. 
                   >> Quy trình lập pháp Hoa Kỳ…
Luật được ban hành ra nhưng vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành, điều đó nảy sinh cách hiểu những văn bản hướng dẫn thi hành luật hóa ra “quan trọng hơn cả luật”. Như vậy trật tự, nguyên tắc và giá trị vốn có của hệ thống pháp luật sẽ bị đảo lộn, tạo điều kiện nảy sinh sự tùy tiện trong giải thích và thực thi luật pháp của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.  
Mỗi đạo luật do có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, nên không tránh khỏi tình trạng nội dung và tinh thần của luật bị biến dạng, biến tướng hoặc không thân thiện với đối tượng được điều chỉnh, dễ cho việc quản lý, nhưng lại khó cho người dân khi thực hiện. Ủy quyền cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn, nhưng đáng tiếc chúng ta chưa có cơ chế xác định rõ nội dung, mục đích và phạm vi uỷ quyền, hình thức giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện nghĩa vụ ban hành qui phạm được uỷ quyền ra sao. 
-        Hạn chế lập pháp ủy quyền, cương tỏa quyền lập quy
Toàn bộ quyền lập quy lâu nay phải bị cương tỏa dần và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ để bảo vệ dân quyền. Quốc hội cần ban hành nhiều đạo luật nhỏ, cụ thể, chi tiết và có thể thi hành được ngay sau khi có hiệu lực. Việc làm này sẽ cắt giảm việc ủy quyền lập pháp ban hành văn bản hướng dẫn. 
Chúng tôi cũng cho rằng cần thiết phải có một quy phạm qui định rõ nếu không có ủy quyền của Quốc hội ngay trong chính văn bản Luật thì cũng không đặt ra vấn đề cần có văn bản hướng dẫn thi hành, đạo luật đó có thể thi hành được ngay. Quy phạm cần thiết đó có thể là: “Trong từng đạo luật, tùy từng trường hợp cụ thể, Quốc hội sẽ xác định rõ nội dung, phạm vi ủy quyền cho Chính phủ, một Bộ hoặc chính quyền địa phương ban hành văn bản hướng dẫn.” Qui định như vậy sẽ minh thị rõ ủy quyền về vấn đề gì, phạm vi đến đâu cụ thể trong ngay văn bản Luật của Quốc hội. Hay nói cách khác, Chính phủ, một Bộ ngành hoặc chính quyền địa phương không đương nhiên có quyền hướng dẫn, mà quyền đó có được trên cơ sở trao quyền của Quốc hội, vì Quốc hội mới có quyền lập pháp nguyên thủy. Cách làm rành mạch này sẽ hạn chế được tình trạng có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như hiện nay, hạn chế tình trạng phân tán, chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn, không rõ ràng giữa các văn bản hướng dẫn liên quan đến một vấn đề. Khi văn bản hướng dẫn thi hành có sự xung đột, mâu thuẫn với luật do Quốc hội ban hành thì vẫn phải thực hiện nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật của Quốc hội. 
-         Tăng số lượng và chất lượng Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp
Muốn có một Quốc hội lập pháp chuyên nghiệp thì phải gia tăng số lượng và tính chuyên nghiệp của Đại biểu Quốc hội. Đại biểu phải là người dành nhiều thời gian, tâm huyết cho hoạt động của Quốc hội. Hiện nay Đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm vẫn chiếm số lượng lớn. Những Đại biểu này ngoài việc thực hiện nhiệm vụ Đại biểu thì họ còn phải thực hiện các công việc theo chức trách nơi mình công tác, không có nhiều thời gian chuyên tâm vào hoạt động lập pháp. 
Để hoạt động lập pháp của Quốc hội được tăng cường, cần gia tăng số lượng Đại biểu chuyên nghiệp của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp sẽ có điều kiện tốt hơn để phản biện các dự luật, cản trở những dự luật có thể gây phương hại cho lợi ích của cử tri đã bầu ra mình. Thực chất Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội mới là “công xưởng của Quốc hội”, vì đây là bộ phận chuyên môn của Quốc hội, có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án Luật thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Đại biểu chuyên nghiệp ở Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phải là những người không kiêm nhiệm chức vụ nhà nước hoặc tư nhân nào khác, là những người thạo nghề (thạo giao tiếp, thuyết phục, thương lượng, nắm vững các quy trình và thủ tục làm việc của Quốc hội...) và có điều kiện làm việc chuyên nghiệp (thu nhập cao, bộ máy giúp việc chuyên nghiệp, có nhiều đặc quyền của Đại biểu Quốc hội...)..
Tóm lại, việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả chức năng lập pháp của Quốc hội là đòi hỏi khách quan của cuộc sống hiện nay. Một Quốc hội thực sự phải là Quốc hội lập pháp chuyên nghiệp. Ngoài việc nhà nước cần phải hạn chế việc ủy quyền lập pháp, thì một Quốc hội chuyên nghiệp cần có những Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp. Khi quyền lập quy của Chính phủ từng bước bị cương tỏa, số lượng Đại biểu quốc hội chuyên nghiệp được tăng cường, các dự án luật sẽ được xem xét cẩn trọng hơn, khi đó chất lượng luật chắc chắn sẽ được nâng cao, đảm bảo tính khách quan, ổn định và khả thi hơn.
N.M.T   (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)
----------------

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Lại phải nói về 'VĂN HÓA' TỪ CHỨC


Nhà báo Trần Đăng Tuấn nổi lên như một “người hùng” khi làm đơn từ chức Phó Tổng Giám đốc thường trực Đài Truyền hình Việt Nam (VTV).
Ở một xã hội không có văn hóa từ chức, thì hành động của Trần Đăng Tuấn chỉ là một cái cớ “lộ diện” để chúng ta biết nhiều hơn về một con người, về sự đời nói và làm khác biệt.
1. Điều mà Trần Đăng Tuấn là có một không hai trong lịch sử 40 năm VTV, cũng như trong lịch sử nghị trưởng Việt Nam đương đại. Sai phạm tày đình, tham nhũng khắp nơi, chỉ đến khi bị lộ, bị yêu cầu làm đơn từ chức như một cách cho giữ chút thể diện khi mất chức hoặc giáng cấp, thuyên chuyển, những kẻ tham lam sâu mọt mới bất đắc dĩ làm.
Trần Đăng Tuấn không vi phạm những điều nổi cộm ấy, chẳng có lỗi gì, nhiều công là đằng khác. Vậy tại sao phải làm thế? Số đông tiếc nuối, thắc mắc không hiểu nổi tại sao có một nhà báo uy tín, tiếng tăm hàng đầu của VTV lại làm một việc đột ngột, thua thiệt như vậy. Người ta bàn ra tán vào đủ lý do. Sự thực đích xác thế nào thì chỉ mình ông Trần Đăng Tuấn mới rõ.   Xưa nay Trần Đăng Tuấn vốn là người ít nói và dù là một bậc thầy truyền thông, ông cũng rất kiệm xuất hiện trên báo, đài.
Trần Đăng Tuấn không cần trả lời, bình luận về kẻ sĩ, vai trò kẻ sĩ. Vì như nhiều người nói ông chính là một kẻ sĩ thời hiện đại.
Thời Phong kiến, nam nhi học để ra làm quan, để có địa vị trong xã hội “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nếu không hợp thế thời, bị đè nén trù dập hay không được trọng dụng hoặc chán nản mà “ưu thời mẫn thế”, thì rời bỏ chốn phồn hoa, cáo quan về quê ở ẩn. Sống ở quê, trồng rau, nuôi cá, lao động chân tay mà “tránh sự đời” dù vẫn âm ỉ nuôi mộng sĩ phu. Có người sẽ trở lại quan trường khi được mời, trọng dụng; người nuôi chí nhưng làm cố vấn cho hậu bối tâm phúc, đệ tử thay mình tiếp nối, kẻ lại rũ hẳn khát vọng, lảng tránh sự đời, gửi tâm sự vào thơ phú vịnh ngâm.
Tinh thần trọng danh dự một cách cực đoan, dùng cái chết để tỏ lòng, để chứng minh phẩm giá của đạo sĩ Nhật Bản cũng có trong không ít kẻ sĩ Việt phẩm tiết thời xưa. Ngày nay, trí thức đông lên, kẻ sĩ ít đi. Trí thức hiện giờ phần thì có “trí” nhưng “vơi” thức, phần thì có “thức” mà “trí” mỏng, số đông thúc thủ an phận. Tựu chung là lắm kẻ hèn.
Cuộc đấu tranh giữa chức vụ, bổng lộc lòng tham, danh tiếng với phẩm tiết trong sáng và đáng kính, luôn tạo tỉ lệ nghịch.
Nhà báo Trần Đăng Tuấn và bà Lê Thị Liên 
(vợ của ông Kim Ngọc, vợ cố Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú) 
tại Vĩnh Phúc 2010 
Trần Đăng Tuấn, người có công sáng lập VTV3 và Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC), trong mắt nhiều các nhà báo và giới nghệ sĩ là một người rất thông minh, mà lại mang tiếng “dại”. Ông chỉ còn là “cựu” “nguyên” phó TGĐ VTV, một chức vụ nhiều người mơ mà ông đã bỏ, thực tế đó là vị trí thành đạt nhất trong cuộc đời làm báo của ông. Song ở đời, ai tường minh, ngã ngũ “khôn – dại” đến cùng?!
2. Trần Đăng Tuấn đang sống tại căn hộ chung cư tầng 23 một cao ốc 25 tầng trên phố Hoàng Đạo Thuý. Vợ ông, BTV Nguyễn Thị Ngọc Trâm (SN 1963) vốn là phát thanh viên của VTV, khi ông về Đài làm phó rồi Trưởng Ban Thời sự. Từng học ĐHSK - ĐA khoa Diễn viên, nhưng cô gái Hà Nội Ngọc Trâm lại theo nghề truyền hình, làm báo. Hiện bà là đạo diễn, người phụ trách chương trình Vì người nghèo, Ban Chuyên đề, VTV con trai. Con chung duy nhất của họ cũng là con trai độc nhất của Trần Đăng Tuấn, cậu bé Trần Chí Hiển rất giống cha, đang học lớp 8 Trường Quốc tế Pháp. Tương lai cậu bé sẽ du học Pháp.
Ít ai biết, Trần Đăng Tuấn đã và đang là một người thầy. Ông hiện là Tổng Giám đốc Tập đoàn AVG, trụ sở 15 Hồ Xuân Hương, sát báo Tiền phong. Ông hay di chuyển trên một chiếc ô tô 15 chỗ, có tài xế riêng. Ông vẫn làm thầy dạy báo chí, truyền hình, đó là khởi nghiệp của ông.
Trong ngôi nhà có sân, vườn rộng ở Mỹ Đình, bố mẹ ông đang sống. Cụ ông, Trần Phạm Mô là một và cụ bà đều là những công nhân chân chất ở TP dệt Nam Định. Yêu văn chương chữ nghĩa, lại sống ở Thành Nam, một trường thi lớn của miền Bắc cuối thế kỷ XIX đầu XIX, đất học nức tiếng, cụ Trần Phạm Mô kỳ vọng vào các con trai của mình bằng việc đặt tên những người anh hùng: Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản. Con trai trưởng và cô út Trần Phương Mai có gương mặt giống bố.
3. Trần Quốc Tuấn học giỏi từ nhỏ, từng đoạt giải học sinh giỏi văn miền Bắc. Cậu bé Tuấn ham đọc sách, thậm chí đi ngủ còn lén đem sách chui vào màn đọc nên bị cận, biệt danh Tuấn “kính” ra đời từ đấy. Thi đại học đỗ cao được chọn du học nước ngoài. Anh theo học Đại học Tổng hợp Matxcơva Lomonosov (MGU), khoa Báo chí từ 1975 – 1981. Anh tự đổi tên mình là Trần Đăng Tuấn cho bình dị hơn.
Từ Liên Xô về, anh giảng dạy Báo chí tại Phân viện Báo chí & Tuyên truyền (từ 2006 lên Học viện). Cùng nhiều giảng viên khác, anh ở căn hộ tập ngay đầu dãy giữa khu tập thể giáo viên. Những năm 90 thế kỷ trước, khu nhà hay bị ngập nước. Rồi bà mẹ lên ở cùng chăm sóc anh khi vợ chồng anh ly hôn, con gái Hương Thuỳ sống với mẹ.
Cho đến nay, người xem và giới nghề vẫn nhắc tới Trần Đăng Tuấn -một trong các nhà bình luận quốc tế hàng đầu của ngành truyền hình nói riêng và giới báo chí VN. Ông không chỉ trần thuật, kết nối sự kiện như tình trạng phổ biến của những bài/ lối bình luận thường thấy, mà luôn sắc sảo trong nhận định, dự đoán, kiến giải. Người xem mê Trần Đăng Tuấn bình luận quốc tế, quên dung nhan gày gò, khuôn mặt có vẻ khó tính với đôi mắt nhỏ sau cặp kính cận 7,50. Thỉnh thoảng ông vẫn trở lại trường cũ giảng dạy hay tập huấn cho phóng viên các đài địa phương. Em gái ông cũng nối tiếp làm giảng viên Báo ảnh. Khu tập thể giáo viên, người bán nhà, người sang nhượng, nay toàn nhà tầng, đường lát bê tông. Em trai ông cùng vợ và 2 con gái sống tại ngôi nhà của anh. Trừ lối đi vào, còn cảnh quan đã nhiều thay đổi. Trong ký ức tôi, những gì thuộc về xưa cũ đã hằn vào tâm trí. Ngôi nhà cũ, trường cấp 1, cấp 2, trường đại học khi chưa xây dựng hiện đại – gần nhà tôi, vẫn luôn sống động trong giấc mơ, trong nỗi nhớ. Tôi chưa từng được học Trần Đăng Tuấn ở giảng đường Phân viện BC&TT, nhưng biết rõ thầy Tuấn là một người thầy giỏi, uy tín của không ít thế hệ học trò trường Báo, của các phóng viên trẻ ở VTV3, các đài, địa phương.
Lối của ký ức luôn dẫn tôi về kỷ niệm ngôi nhà tôi lúc chưa xây. Cả khu tập thể nhà cấp 4, cứ mưa là ngập nước. Mùa Hè thì mát. Chưa ai xây hộp; chỉ có tường rào, đó đây còn những rặng cúc tần. Giữa sân nhà tôi có khoảng đất trồng cây me, táo, ổi, đất hẹp mà cây rất xanh tốt. Đó là đêm Trung Thu năm 1992 khi tôi 12 tuổi. Mẹ tôi trải chiếu ra sân để bố tiếp các bạn trong đó có Trần Đăng Tuấn mà tôi gọi là ”chú”. Tôi ngồi nép một góc “hóng chuyện”. Trung Thu là Tết của trẻ con. Tôi không ham rước đèn phá cỗ với bạn, mà cứ thích ngồi nép một góc hóng hớt nghe bố và các chú nói chuyện nghề nghiệp, nghệ thuật. Hồi cấp 2, môn học phổ thông của tôi có tiếng Nga và Âm nhạc. Sách tiếng Nga in bìa cứng tím than, giấy trắng đẹp, NXB Cầu vồng Matxcơva in để phát cho nhiều trường phổ thông học, có trường học tới hết cấp 3, thành môn thi tốt nghiệp .
Chú Tuấn hỏi tôi thích nước Nga không? Có chứ, biết nước Nga qua những truyện thiếu nhi:Bông hồng vàng, Bác sĩ Aibôlit và phim hoạt hình Hãy đợi đấy... À không, còn nhiều chương trình thể thao, ca nhạc, xiếc, quay xổ số của Đài Nga, xem qua TV đen trắng, những bộ phim truyện luôn phân rõ “quân nó”, “quân mình”. Chú Trần Đăng Tuấn kể chuyện nước Nga rồi bảo tôi đem cuốn sách tiếng Nga ra. Chú hỏi tôi thích dịch trang nào, tôi chọn trang nhiều chữ nhất, ở phần chưa học, chú đọc như tiếng Việt, tôi phục quá há miệng ra. Đúng là trẻ con! Chú đã trở lại Nga làm nghiên cứu sinh, từ 1986 – 1988, là Tiến sĩ Báo chí rồi thì đọc cuốn sách tiếng Nga lớp 7 ấy nhằm nhò gì.
4. Sau này, chú Trần Đăng Tuấn về Đài THVN công việc bận rộn, tôi ít được gặp ông chỉ biết ông đã làm được kỳ tích: bỏ thuốc lá (dù trước đó nghiện nặng) và vẫn thế, ưa hài hước nhưng chỉ tủm tỉm và ít nói trong đám đông. Chú Tuấn giờ béo hơn xưa, vẫn bận rộn cả chủ nhật. Chú lúc nào cũng bận. Chú có tài tổ chức, nói, viết rất gây chú ý, ảnh hưởng. Rời chức Phó TGĐ, Chú Tuấn về VFC làm BTV bình thường. Chú chưa biên tập phim nào, đó là bước đệm rất nhỏ để chuyển qua làm ở tập đoàn AVG. Thỉnh thoảng lại đọc thơ của chú in trên An ninh thế giới, tờ báo mà nhà văn Hữu Ước khai sinh, ông cũng là người khai sinh ra ANTV, truyền hình Công an nhân dân có liên kết với AVG.
Rời chức phó TGĐ ông đi rất nhiều nơi, hình như đi để bù lại cho những năm tháng ngồi trên ghế một ông quan báo chí. Trần Đăng Tuấn thương những đứa trẻ vùng cao, ông đã nhiều lần bỏ tiền túi, vận động bạn bè lên miền núi phía Bắc làm từ thiện. Tháng 9.2011, ông lập ra chương trình dài hạn “Cơm có thịt” cho trẻ con vùng cao. Chúng còi cọc, thiếu chất, cơm không đủ no, làm việc nhiều, trường lớp thiếu thốn thiết bị, có khi ăn độn, đứt bữa, nói gì đến “Cơm có thịt”!. Cùng 2 nhà văn - biên kịch VFC Phạm Ngọc Tiến, Trần Thùy Linh là những người tâm huyết đã làm từ thiện lâu năm, ba người là thành phần nòng cốt làm nên phong trào gây sức hút trên trang cá nhân của mình, kêu gọi các chiến hữu gần xa góp sức (web:phamngoctien.com;blog: trandangtuan. worldpress.com).
Không chỉ bạn bè văn nghệ mà nhiều bạn đọc các trang của họ, đã gửi tiền ủng hộ về tài khoản của Trần Đăng Tuấn. ĐD Trần Quốc Trọng đã nhiều lần ủng hộ nhưng chưa lần nào đi cùng đoàn vì toàn bận làm phim. Mỗi tháng, nhóm Trần Đăng Tuấn lại thu gom quần áo cũ vẫn lành sạch, mua thêm quần áo, sắm bát đĩa nồi niêu mới, chất lên xe. Xe thuê hay xe của ai thì tất cả cùng chung tiền mua xăng, ăn uống bỏ tiền, không dùng một đồng nào trong quỹ từ thiện. Các cô giáo ở trong những căn hộ thiếu thốn cắm bản, cắm lớp, được trao tiền để mua thịt để nấu ăn cho lũ trẻ. Các nhà báo, nhà văn đem túi ngủ, ngủ dưới sàn những căn phòng tập thể giáo viên, sang hơn thì thuê nhà trọ nếu gần thị trấn, ở ghép để tiết kiệm tối đa chi phí. Trưởng đoàn Trần Đăng Tuấn luôn sẵn sàng lên đường khi gom được tiền, đồ đạc. Họ đã lên Hà Giang, Lào Cai, đến Lai Châu, Yên Bái. Theo nhà văn Trần Thùy Linh (phó giám đốc VFC), tổng số tiền bạn đọc đóng góp cho quỹ “Cơm có thịt” đã lên hơn 4 tỷ đồng. 
Trần Đăng Tuấn quả là một “người lạ”. Trong cuộc sống thực dụng, tham vọng bát nháo và nhiều giá trị đảo lộn, tha hoá, ông bỏ địa vị công danh, dồn thời gian, tâm sức cho trẻ em từ mầm non cho đến hết cấp học ở miền núi phía Bắc, là một sự lạ đáng quý. Làm từ thiện thành một niềm vui, động lực của cuộc sống hiện nay của ông.
(Theo Tạp chí  Duyên Dáng Việt Nam)
---------------

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

'XÂM LƯỢC MỀM' là thế đấy !

TQ xâm nhập Việt CHÚNG TA 
ĐƯƠNG MẤT NƯỚC TỪNG PHẦN 
VÀO TAY GIỚI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC.
               * NGUYỄN TRỌNG VĨNH 
TQ tuồn đủ mọi hàng hóa rẻ tiền vào lũng đoạn thị trường nước ta, bóp nghẹt mọi sản phẩm của ta; họ thực hiện mọi thủ đoạn thâu tóm kinh tế nước ta đồng thời phái thương nhân vào phá hoại kinh tế của ta; về chính trị, họ cũng chi phối phía ta; về quân sự, họ không ngừng lấn, cướp biển đảo của ta, bắt tàu cá, tịch thu tài sản, đánh thuyền viên, đâm hỏng tàu, bắn ngư dân, phá mọi hoạt động của ta trong thềm lục địa của mình, báo chí của họ luôn đe dọa dùng vũ lực với ta.
Mọi sự việc nêu trên, những ai quan tâm theo dõi đều đã biết cả.
Tình hình còn nguy hiểm và bức xúc hơn là chúng ta đương mất nước từng phần vào tay những nhà cầm quyền TQ, và sẽ mất nữa:
Trước đây họ đã mua được hàng ngàn ha rừng biên giới, một đoạn bãi biển Đà Nẵng, người Việt Nam không ai vào được. Thế là mất chủ quyền, cũng là mất một phần đất nước vào tay TQ.
Vài năm gần đây, họ đổ tiền vào đầu tư bất động sản, địa ốc, những nơi ấy họ đã xây nhà hay chưa cũng là lãnh địa của họ rồi.
Họ chi 40 triệu đôla mua hơn 6 triệu cổ phiếu của Công ty Vinacafe Biên Hòa, trở thành cổ đông lớn thứ 2 của công ty. Họ tăng cường mua cổ phần của nhiều công ty nước ta, đến một lúc họ mua được 51% cổ phần, sẽ biến thành công ty của TQ, những mảnh đất mà các công ty này tọa lạc sẽ nghiễm nhiên trở thành đất của TQ.
          Tập đoàn Yulun, Giang Tô xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm tại Vụ Bản, Nam Định chiếm 80.000 m2 đất. Lấy Tập đoàn dệt may Việt Nam làm bình phong, TQ dự kiến xây dựng nhà máy dệt tại huyện Nghĩa Hưng chiếm diện tích khoảng 1.500 ha.
Theo một người dân Kỳ Anh nói: “Người TQ hầu như đã làm chủ thức tế huyện Kỳ Anh”.
Họ xây dựng tường cao tốc dọc phía Đông đường quốc lộ suốt từ Kỳ Anh qua Cẩm Xuyên đến chân Đèo Ngang, phía trong bức tường ra biển, họ là gì trong đó không ai biết được.
Họ thuê cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Họ được Đài Loan nhượng dự án khu kinh tế Formosabao gồm cả cảng Vũng Áng chiếm một diện tích rất rộng, riêng cảng là 3.300 ha. Cảng Vũng Áng là điểm cực kỳ xung yếu, nó là yết hầu của miền Trung, TQ làm chủ, khi họ trở mặt, họ có thể khống chế đường giao thông của ta cả trên bộ lẫn trên biển, chia cắt nước ta làm 2 phần. Cửa Việt và Vũng Áng, họ cấm người ra vào, có thể họ đương xây dựng thành căn cứ quân sự.
Tóm lại, những nơi mà TQ thuê, mua, đầu tư đã trở thành lãnh địa của TQ. Người Việt Nam, công an, chính quyền địa phương không được vào, ngay cả công trường nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân do TQ thầu đương xây dựng, phó Giám đốc công an tỉnh Bình Thuận cũng không được vào. Thế là tất cả những nơi nói trên, ta mất chủ quyền, chẳng phải là mất nước từng phần là gì?
Những nơi TQ thuê, mua, đầu tư họ đều đưa người của họ sang làm. TQ trúng thầu 90% công trình trọng điểm của nước ta. Bằng nhiều thủ đoạn, bất chấp luật pháp của nước ta, họ đưa ồ ạt lao động phổ thông vào. Thế là họ vừa thực hiện được mục đích di dân vừa bố trí được đội quân thứ 5 hàng vạn người rải khắp nước ta. Rất nhiều người trong số họ lấy vợ Việt Nam, sau thời hạn 50, 70 năm sẽ có hàng trăm “làng TQ” trong nước ta.
Cứ đà này, sớm muộn nước ta sẽ trở thành “thuộc quốc” hoặc “thuộc địa kiểu mới” của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Đại Hán!
Vì đâu nên nỗi?
Phải nói thẳng ra đây là trách nhiệm của các cấp nắm quyền của ta từ dưới lên trên.
Hoặc do mê muội bởi “16 chữ, 4 tốt”, “cùng ý thức hệ”, mà không thấy được giới cầm quyền TQ miệng thì nói “hữu nghị”, nhưng hành động thì ác độc, đầu óc thì thâm hiểm, nên tạo cho họ mọi sự dễ dàng. Làm gì có “cùng chung ý thức hệ”? Từ khi Đặng Tiểu Bình nói: “Mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì họ đã đi theo con đường TBCN rồi, dù vẫn nêu xây dựng CNXH đặc sắc TQ. Còn ở nước ta, tuy tên nước vẫn là XHCN, nhưng trong nội dung có gì là XHCN đâu!?
Hoặc do không tiếp thụ được ý chí quật cường của cha ông, nên tự ty, tự cho mình là nước nhỏ, quân yếu, nhân nhượng họ cho yên, vẫn giữ được quyền, được ghế.
Hoặc quá sợ họ đánh, nên họ đề xuất gì, yêu cầu gì đều chấp nhận; họ sai trái, vi phạm luật pháp của ta, không dám xử lý.
Hoặc có vị “ăn xôi chùa ngọng miệng”, quyền ký thì ký, quyền bỏ qua thì bỏ qua, để mặc họ muốn gì cũng được.
Hoặc chỉ thấy tiền, cho thuê, bán, cho đầu tư, cấp dự án, thì được tiền, tiền cho ngân sách đồng thời cho cả cá nhân, cho nhóm lợi ích, bất chấp sự nguy hại cho đất nước, đúng là “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.
Phải làm gì?
1. Nhân dân kêu gọi những ai trong bộ máy cầm quyền còn tâm huyết với dân tộc, với Tổ quốc hãy đấu tranh thực hiện dân chủ, quay lại với dân, dựa vào sức mạnh của dân ngăn chặn mối nguy cho đất nước.
2. Các tổ chức, các lực lượng yêu nước liên kết nhau thành sức mạnh đấu tranh quyết liệt loại bỏ những hình bóng của loại Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, ủng họ người có thực đức, thực tài xuất hiện cùng nhau giữ độc lập, tự chủ và đưa đất nước tiến lên.
            Xây dựng tuyến đường cao tốc Lào Cai - Hà Nội là chuốc họa.
Tôi rất tâm dắc với suy nghĩ của bạn Hoàng Mai về con đường cao tốc Lào Cai - Hà Nội, cho rằng: “Mục đích trước mắt của tuyến đường này là để hàng hóa TQ xâm nhập Việt Nam một cách nhanh hơn, rẻ hơn, qua đó nhằm bóp chết nền sản xuất của Việt Nam, cũng là để vơ vết tài nguyên của Việt Nam một cách nhanh hơn…”.
Tôi nghĩ, đến một thời cơ nào đó, TQ xuất quân đánh ta thì chính con đường cao tốc này cho phép bộ đội cơ giới của họ tiến rất nhanh đến Hà Nội. Từ xưa đến nay, các thế hệ cầm quyền TQ chưa bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính nước ta và tiến xuống bá chiếm Đông Nam Á.
Đồng ý với bạn Hoàng Mai, tôi cho rằng con đường cao tốc Lào Cai - Hà Nội lợi cho ta thì ít, lợi cho TQ thì nhiều. Trong khi tài chính của ta đương rất khó khăn, nợ nước ngoài đã chồng chất mà vay để chi một khoản tiền khổng lồ 896 triệu đôla cho con đường cao tốc này thì thật là phi lý. Là con nợ của TQ, sau này không chỉ phải trả bằng tiền mà còn phải trả họ bằng nhiều thứ khác theo đòi hỏi của họ.
N.T.V
(Tác giả gửi BVB)
-------------------

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

''Chẻ phần trăm' bài viết trên báo Tuổi trẻ ?


Báo Tuổi trẻ liều mạng “chơi” Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trơ trẽn “nịnh” Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Published on April 15, 2014   ·   No Comments
pham-duc-hai
Những bản “hùng ca” của Đức Hải đã đưa tờ Tuổi trẻ nổi tiếng một thời xuống bùn?
Nhớp nhúa trong trò chơi phục vụ quyền lực chính trị cá nhân, sử dụng ngòi bút tống tiền doanh nghiệp, nạn tham nhũng tràn lan từ những khoản từ thiện của bạn đọc, doanh nghiệp đến những khoản tham nhũng vặt, tệ nạn cờ bạc, rượu chè, trai gái nhan nhản tại tòa soạn báo Tuổi trẻ từ “tổng hành dinh” 60A Hoàng Văn Thụ đến các văn phòng đại diện báo Tuổi trẻ từ nam chí bắc. Không lạ khi từ thời Phạm Đức Hải “bỗng dưng” trở thành Tổng biên tập dưới áp lực của Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, tờ báo Tuổi trẻ “tự nhiên” xuống dốc không phanh khi chính thức trở thành cái loa truyền thông của ông Trương Tấn Sang và nay lại đèo bồng thêm ngài Phó Thủ tướng “thứ nhất” Nguyễn Xuân Phúc và còn vị mới nổi nữa mà Người Trong Cuộc sẽ từ từ tiết lộ, nhưng trước hết, hãy xem Phạm Đức Hải đã chỉ đạo báo Tuổi trẻ “đối xử” với các vị lãnh đạo quốc gia như thế nào?
Đầu tiên phải kể đến đối xử của báo Tuổi trẻ đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, độc giả có thể thấy hầu hết các bài viết trên báo Tuổi trẻ về ông Nguyễn Phú Trọng đều “made in” TTXVN theo kiểu miễn cưỡng phải đưa, không hề có bất cứ một sự “đầu tư” nào để có bài viết cho “ra hồn” về Tổng Bí thư, có chăng chỉ là một số tin bài với số dòng đếm được trên đầu ngón tay, làm cho có lệ của đám phóng viên tại các Văn phòng đại diện, giật tít các phát biểu ngây ngô, vô thưởng vô phạt, dưới tầm của một nguyên thủ quốc gia, đại loại như “Tranh chấp lãnh thổ diễn biến phức tạp” (báo Tuổi trẻ số ra ngày 9/10/2013), “Những gì giải quyết được phải giải quyết ngay” (phát biểu kiểu “trồng cây gì, nuôi con gì” trên báo Tuổi trẻ ngày 8/12/2013), “năm ngoại giao được mùa” (nói về công tác ngoại giao của Việt Nam mà ông Nguyễn Tấn Dũng là tác nhân chính trong năm 2013), “Phải biến giá trị truyền thống thành sức mạnh vật chất” (báo Tuổi trẻ số ra ngày 18/3/2014), “Hết đất, Đà Nẵng dựa vào đâu để phát triển?” (báo Tuổi trẻ số ra ngày 19/3/2014),…
Nhưng có lẽ cú shock truyền thông nặng nhất mà ông Tổng Trọng phải gánh chịu bởi báo Tuổi trẻ là hôm sáng ngày 28/9/2013 khi ông cầm trên tay tờ Tuổi trẻ, đập vào mắt ông là dòng tít: “TBT Nguyễn Phú Trọng: Chỉ nên áp dụng hai mức tín nhiệm” khiến ông vô cùng ngỡ ngàng, không lẽ mình “lú” tới mức phát biểu thế này mà mình không nhớ? Xem kỹ thì trong bài báo Tuổi trẻ đã biến phát ngôn của cử tri Nguyễn Văn Sơn (phường Quán Thánh) thành phát biểu của Tổng bí thư phủ nhận “công trình” lấy phiếu tín nhiệm mà chính ông Trọng và Ban Thường trực Nghị quyết TW4 đã khởi xướng nhưng “lỡ thất bại”… Uy tín của Tổng Bí thư từ lâu đã là dấu chấm hỏi rất to trong lòng nhân dân thì nay lại “nhờ” báo Tuổi trẻ mà ông lại trở thành tâm điểm cho người dân bàn tán, cười cợt.
nguyen-phu-trong
Báo Tuổi trẻ đã làm nhục Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi dựng chuyện, bịa đặt lời phát biểu của cử tri thành phát ngôn của ông theo kiểu “tự vả vào mặt mình”
Ngược lại với ngài Tổng Bí thư “đáng thương”, vai trò của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại thể hiện “cực kỳ sinh động” trên báo Tuổi trẻ, thậm chí là “cực kỳ hài” với những bài viết mang tính “pi a” dày đặc từ tay bồi bút Giáng Hương (tức Nguyễn Văn Thanh, Quốc Thanh) thực hiện mà bạn đọc đã biết rõ trong bài viết trước khi “Giáng Hương” chấp bút cho hàng loạt các phát biểu ấn tượng của ngài Chủ tịch nước như: “Như một cử tri đã nói trước kia là một con sâu làm rầu nồi canh, bây giờ nhiều con sâu lắm. Thật hết sức xấu hổ, nhưng không lẽ cứ để hoài như vậy. Một con sâu, rồi nhiều con sâu đã thấy nguy hiểm rồi, còn để có một bầy sâu thì chết đất nước này!” (báo Tuổi trẻ số ra ngày 09/05/2011) , “Tôi nghe khá nhiều dư luận về một số trường hợp cán bộ có thu nhập bất thường, sang tận Singapore mua hết biệt thự này đến biệt thự kia, nhưng cũng chưa có điều kiện để kiểm tra, kết luận thực hư như thế nào”(bài “phỏng vấn” của Quốc Thanh trên báo Tuổi trẻ ngày 25/6/2012); “Ai làm quan cũng một lúc thôi, chứ có ai làm quan suốt đời. Làm sao khi về vườn còn gặp nhau vui vẻ” (trích “dự thảo” tiếp xúc cử tri Quận 1, ngày 26/4/2013 do Quốc Thanh biên soạn); “Tôi nói điều này với tư cách cá nhân thôi: Ta hô khẩu hiệu nhiều quá (!?) Còn câu “Một bộ phận không nhỏ” là một câu hết sức đau đầu. Nghe dư luận thì rất nhiều nhưng tìm thì không thấy…” (trích “dự thảo” tiếp xúc cử tri Quận 4, ngày 10/10/2013);…
Ngay cả trong những sự kiện lớn của đất nước chẳng liên quan gì đến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhưng Phạm Đức Hải và bộ sậu báo Tuổi trẻ còn tranh cãi “nảy lửa” với nhau để tìm cách lồng ghép hình ảnh, phát biểu của ngài Chủ tịch nước vào để lấy lòng, nịnh Trương Tấn Sang. Chẳng hạn như vào các đợt kỷ niệm Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, báo Tuổi trẻ năm nào cũng trơ trẽn gán hình ảnh ngài Chủ tịch nước vào các bài viết, phóng sự liên quan, dù trong giai đoạn lịch sử hào hùng, đau thương của dân tộc này không có bất kỳ dấu ấn nào mang tên Trương Tấn Sang cả, ngay cả cách cầm súng có lẽ Trương Tấn Sang còn chưa biết, nói chi đến biết đánh giặc (Bà con lưu ý : Năm 1979, khi toàn bộ đồng bào và chiến sĩ cả nước đang hướng về cuộc chiến vệ quốc khốc liệt đang diễn ra ở cả 02 đầu biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc thì ngài “Thành ủy viên dự khuyết” Trương Tấn Sang vẫn còn đang bận bịu suy tư với việc “nuôi con gì, trồng cây gì” ở nông trường Phạm Văn Hai, Bình Chánh, TPHCM).
Cũng không phải phi lý khi Chủ tịch nước chỉ nhắc đến sân sau truyền thông của mình là báo Tuổi trẻ mà không phải bất kỳ tờ báo nào khác khi thăm Thụy Điển tháng 9/2013 khi phát ngôn trước đông đảo kiều bào: “Bài báo Tuổi Trẻ rất cảm động!” và ngài còn tận tâm hướng dẫn kiều bào “tìm trên mạng” để đọc báo Tuổi trẻ.
truong-tan-sang-mai-thi-hanh
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và “nhất phẩm phu nhân” Mai Thị Hạnh trong chuyến thăm Thụy Điển (ảnh do Võ Văn Thành thực hiện khi còn độc quyền điếu đóm cho ngài Chủ tịch nước)
Một điều độc giả dễ dàng kiểm chứng qua anh bạn Google khi đối chiếu kết quả tìm kiếm các bài viết báo Tuổi Trẻ về “tứ trụ triều đình” đương chức của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Kết quả chứng minh, ngài Chủ tịch nước chuyên đánh võ mồm, “nói nhiều làm ít” được báo Tuổi trẻ vinh danh nhiều nhất với 35% tổng số bài viết về các vị lãnh đạo, trong khi đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ được 26% (chủ yếu là bài viết với nội dung bình thường, hoặc là nội dung “xấu”), nhưng “thê thảm” nhất vẫn là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hoạt động nhiều là thế, bao nhiêu sự kiện xã hội, an ninh quốc phòng, bao nhiêu chỉ đạo hành pháp gắn liền với đời sống dân sinh nhưng báo Tuổi trẻ chỉ nhắc đến chưa đầy 11% tổng số bài viết về lãnh đạo, mà phần lớn lại toàn bài có ý chơi đểu Thủ Tướng.(Nguoitrongcuoc/TTVA)