Hiển thị các bài đăng có nhãn Trao đổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trao đổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

LẠM BÀN VỀ THƯ NGỎ

                   * TÔ VĂN TRƯỜNG 
Từ khi có báo mạng, người ta đã có thể bầy tỏ ý nghĩ của mình một cách công khai dưới nhiều hình thức. Và cũng từ đó, danh từ "Lề phải" -  "Lề trái", mới được nhiều người biết đến.
Trưng cầu dân ý là thu thập ý dân về những vấn đế lớn của đất nước có tính chất pháp lý cao, được luật qui định. Việt Nam chưa có luật trưng cầu dân ý, cho nên việc xuất hiện thư ngỏ thực chất chỉ là ý nghĩ xuất phát của một người, một nhóm người và có thể của một tổ chức dân sự nào đó về một hoặc một nhóm vấn đề của cộng đồng, cần có sự quan tâm của nhà cầm quyền và xã hội.
Những chữ ký của thư ngỏ rất ít giá trị pháp lý, và gần đây, trong những trường hợp cụ thể, người ta đã dùng cả kỹ thuật "điểm chỉ", hoặc bằng mực, hoặc bằng ánh sáng trong các giấy tờ, văn kiện, để được pháp lý công nhận, vết vân tay đi kèm chữ ký của mỗi đương sự. Tuy chữ ký của thư ngỏ có ít giá trị pháp lý, nhưng nếu số chữ ký lên tới hàng chục nghìn người thì thư ngỏ đó có ý nghĩa, buộc đương sự phải có ý kiến hoặc hành động phản hồi.
Các nước có chế độ dân chủ đại nghị đã cho hệ thống báo mạng, blog cá nhân, nhóm, phát triển đối với một việc có liên quan tới xã hội. Hệ thống này quan trọng, những ý kiến không từ những cá nhân được chính quyền mời họp, góp ý kiến chính thức, cũng rất đáng được nghiên cứu, người ta coi đây là "nhận xét độc lập", có khi góp phần quyết định cho một chủ trương mà cá nhân hoặc nhóm được chỉ định chính thức không làm được.
Nước mất thì nhà tan, khi thuyền bị lật chết đuối cả người lái lẫn người được chở.
Tuyên bố dõng dạc, đanh thép của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về bảo vệ chủ quyền biển đảo và độc lập của tổ quốc thể hiện ý chí của hàng triệu người dân yêu nước. Thực ra, thái độ của các vị lãnh đạo cấp cao trong quan hệ với Trung Quốc ra sao, chẳng cần chờ lịch sử phán xét mà người dân hiện nay nói chung đều rõ. Vấn đề bây giờ là các vị lãnh đạo phải đoàn kết, thống nhất hành động, vì nước "đìa đã cạn" mà không biết xử lý tình hình để tạo được niềm tin trong dân chúng thì ai cứu ta? Cứu cánh không biện minh cho phương tiện, u mê, cố bám víu vào 4 tốt, 16 chữ vàng chỉ là giả tạo, mất lòng dân, không còn đánh lừa được ai.
Mất lòng dân thì dù tấc đất khó gìn
Được lòng dân, sợ chi quân thù trở giáo”
                                                                   (Kha Tiệm Ly) 
Thư ngỏ là hình thức bày tỏ thái độ, không phải văn bản chế tài, và pháp luật cũng không ngăn cấm. Thư ngỏ ngày 30/5 vừa qua về tình hình khẩn cấp của đất nước với 115 chữ ký đầu tiên (ngày nay chữ ký điện tử được chấp nhận trong thanh toán thì thư ngỏ cũng có thêm giá trị pháp lý đôi khi ngang với ký tươi) coi như những tiếng chuông cảnh tỉnh, hoặc "tiếng chim báo bão" là môt dạng vận động dư luận, động viên phong trào, tập hợp ý kiến. Đấy là một hình thức hoạt động quan trọng của xã hội dân sự, qua đó những điều tốt, điều hay được trao đổi và phổ cập trong nhân dân. Đảng và Nhà nước nếu thấy nội dung thư ngỏ có ý nghĩa, sẽ  xem xét tự điều chỉnh chủ trương, chính sách theo ước nguyện của người dân.
Hiểu biết là sức mạnh, một khi nhân dân tự trang bị được cho mình nhiều hiểu biết, dẫn tới đồng lòng nhất trí, đó là sức mạnh bất khả kháng của dân.
TVT
---------------------
* Trao đổi:
On Friday, 30 May 2014, 11:32, Nguyen An Khang <ankhang10@gmail.com> wrote:
Bác Trường kính mến!
Đầu thư, Em kính chúc Bác sức khỏe luôn dồi dào để luôn mang đến cho Cả Nhà những thông tin ở cấp thượng tầng mà như em rất khó tiếp cận được. Em kính cảm ơn Bác đã cung cấp thông tin về thư ngõ.
Trong thư đã nêu lên tình trạng khẩn cấp của đất nước và giải pháp để khắc phục và vượt qua nhằm phát triển phồn vinh đất nước. Là một người con nước Việt, kính cảm ơn những Người Bác, Người Anh đã vì đất nước này mà lao tâm suy nghĩ, hiến kế.
Sau khi đọc Thư, em nhận thấy rằng cách tiếp cận qua thư ngõ thấy vừa quen vừa lạ: giống như trưng cầu dân ý, hoặc cũng giống như trường hợp lấy chữ ký để "kiến nghị Mỹ trừng phạt Trung Quốc". Tuy nhiên, chữ "Thư ngõ" em đã nghe từ lâu nhưng đến bây giờ đối với Em chữ này vẫn là một từ tối nghĩa; văn bản "Thư ngõ" nói đến chuyện quốc gia đại sự nhưng yếu về mặt pháp lý. 
Em có ba thắc mắc về Thư ngõ kính chia sẽ cùng Bác và Cả Nhà rằng, :
- Làm thế nào để khẳng định rằng, những chữ ký ở trong thư là chính danh, không bị coi là copy và past. Lý do thắc mắc vì: Trước đây, trên VTV1 đã có nêu rằng, đã có "mạo danh chữ ký kiến nghị sửa đổi hiến pháp". Và kết quả là bản kiến nghị xem như vô nghĩa mặc dù đã có nhiều Vị Trưởng Thượng kiến nghị tâm huyết.
- Cơ sở pháp lý của Thư ngõ. Thư ngõ này chưa có cơ sở pháp lý là hợp pháp để bảo đảm cho người ký không bị cơ quan nơi anh ta công tác khiển trách, hoặc bị cơ quan công an xét hỏi là đã tham gia vào một việc làm chống lại Nhà nước trong khi anh ta đang ăn lương Nhà nước.
- Các bước xử lý thư ngõ tiếp theo chưa thấy nói đến. 
Vì biết rằng, người ký là đồng ý các giải pháp. Sau khi có đủ số chữ ký (chưa biết bao nhiêu) thì sẽ trình cho ai, khi nào...
Nếu có thể, kính mong nhận được sự chỉ dẫn của Bác và Cả Nhà. Em xin cảm ơn!
Kính mến,
Nguyễn An Khang (ETM 2004)
-------------------
Bạn Khang thân mến
Thắc mắc của bạn cũng là sự quan tâm của nhiều người liên quan đến Thư ngỏ. Mời các Anh/Chị và bạn Khang đọc bài "Lạm bàn về thư ngỏ" (File kèm theo) để có thêm thông tin tham khảo
Kính
Tô Văn Trường
------------------- 

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Vài giải pháp cho Việt Nam

                * JONATHAN LONDON
Những hỗn loạn và bạo lực bùng nổ ở Việt Nam cách đây hai tuần đã hút sự quan tâm của thế giới khỏi các nguyên nhân căn bản của căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, và thật ra là giữa Trung Quốc và khu vực.
Về bản chất, chúng xuất phát từ yêu sách vô căn cứ pháp lý của Bắc Kinh, đòi chủ quyền đối với hơn 80% biển của khu vực, và từ ý đồ của Bắc Kinh nhằm áp đặt tính chính đáng cho các yêu sách đó thông qua các biện pháp vũ lực.
Trên bình diện quốc tế, việc Bắc Kinh cho quân đội canh giữ giàn khoan dầu khổng lồ của họ trong vùng biển tranh chấp được hiểu là một hoạt động mang tính chính trị, nhằm thay đổi hiện trạng ở Đông Á. Còn đối với Việt Nam, hành động của Bắc Kinh buộc giới lãnh đạo Việt Nam phải suy nghĩ lại một cách cơ bản về tầm nhìn chiến lược của họ – một công việc vừa nguy hiểm vừa mang lại cơ hội. Hiện tại, lãnh đạo Việt Nam đối mặt với ba thách thức.
Thách thức thứ nhất là dọn dẹp và tái thiết, để giải quyết và vượt qua những hậu quả còn tồn đọng của các cuộc bạo loạn hai tuần trước. Rất cần phải nhấn mạnh rằng nguyên nhân chính xác của vụ hỗn loạn vẫn chưa được xác định, và trên thực tế, nguyên nhân đó có vẻ khác nhau tùy theo ba nơi xảy ra biến cố. Cũng cần phải lưu ý rằng bạo loạn xảy ra ở ba tỉnh chứ không phải 21, như nhiều nơi đã đưa tin sai. Chết chóc, thương tật, và thiệt hại như xảy ra đã không có lợi chút nào cho hình ảnh Việt Nam. Và những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm gia tăng áp lực, thông qua các biện pháp chính trị, kinh tế và quân sự, cũng vậy.
Liên quan đến các vụ bạo loạn, khó khăn lớn nhất của Hà Nội là mở rộng điều tra và đưa ra được một cách giải thích rõ ràng về nguyên nhân gây bạo loạn, tiến hành bồi thường nhanh chóng, và bằng mọi cách cần thiết, thể hiện cho toàn thế giới thấy tại Việt Nam vẫn sẽ là một môi trường đầu tư hấp dẫn. Người ta có thể hy vọng là những việc làm cụ thể theo hướng này đang được tiến hành.
Căn bản hơn, người dân Việt Namđang đối diện với những quyết định về tương lai của đất nước.
Trên thực tế, có hai nhóm câu hỏi khác nhau nhưng có liên quan đến nhau. Thứ nhất là nhóm các câu hỏi về những chiến thuật mà Việt Namnên sử dụng để đáp lại lối hành xử của Bắc Kinh. Thứ hai là nhóm các câu hỏi về tầm nhìn chiến lược xa hơn của Việt Nam, các mối quan hệ và các điều kiện mà nước này cần để có thể sống trong hòa bình, thịnh vượng, và an ninh trong những năm tới và thập kỷ tới.
Việc Hà Nội phản ứng với Bắc Kinh một cách thận trọng và thăm dò là điều có thể thấy trước, khi mà sức mạnh của hai bên không cân xứng và thực tế là Việt Namhiện tại không có đồng minh. Có quá ít lựa chọn, lãnh đạo Việt Nam cho thấy – ngày càng rõ ràng hơn – rằng họ không chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc, và họ sẽ phản ứng chỉ bằng các biện pháp ngoại giao và pháp lý. Mặc dù mọi nước đều có quyền tự vệ, nhưng Việt Namđã đúng khi nhấn mạnh yêu cầu phải tránh đối đầu quân sự. Quân sự hóa xung đột sẽ chỉ gây ra thất bại.
Hà Nội đã kiềm chế mọi đột phá về ngoại giao và theo quan điểm của chúng tôi, Hà Nội nên tiến hành ba bước sau đây:
1. Trước tiên, Hà Nội nên đề nghị Tòa án Quốc tế về UNCLOS ra một phán quyết rằng mọi cấu trúc tự nhiên trên biển Hoa Namđều là đá và như vậy thì chỉ được hưởng 12 hải lý lãnh hải. Trong trường hợp đó, phần biển còn lại trong khu vực (trừ các vùng đặc quyền kinh tế – EEZ – của các nước) sẽ đều có quy chế của biển quốc tế. Yêu sách của Bắc Kinh, cho rằng quần đảo Paracel [tức là Hoàng Sa trong tiếng Việt] (mà họ chiếm đóng trái phép) xứng đáng có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý chắc chắn sẽ bị tuyên vô hiệu lực. Điều đó có nghĩa là, các đảo thuộc quần đảo Paracel mà hiện tại đang bị Bắc Kinh kiểm soát sẽ đều chỉ có lãnh hải 12 hải lý, và việc triển khai giàn khoan dầu tuần trước và tuần này sẽ là bất hợp pháp.
2. Thứ hai, Việt Nam nên tham gia vụ kiện của Philippines, kiện đường 9 đoạn, dựa trên căn cứ rằng không thể có vùng nước lịch sử nào cả, trừ phi đó là một cái vịnh; mọi yêu sách về chủ quyền trên biển đều phải đặt cơ sở trên đất.
3. Thứ ba, Hà Nội nên xem xét hủy bỏ tất cả các yêu sách đối với những cấu trúc đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Malaysia, và ngồi vào bàn đàm phán, thỏa thuận với các quốc gia ASEAN khác cũng có yêu sách chủ quyền, để công nhận chủ quyền đối với những cấu trúc đá mà hiện tại các nước đó đang nắm giữ. Căng thẳng trên biển Hoa Nam chưa hề có dấu hiệu giảm bớt. Hà Nội và Manila có thể hiện ra rằng họ muốn hữu nghị với Trung Quốc đặt trên cơ sở tôn trọng, hợp tác, tuân thủ các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế. Hà Nội và Manila nên đi trước để làm gương, và nên ngay lập tức giải quyết tranh chấp giữa chính họ với nhau, đồng thời tìm cách kết nối với Malaysia, Indonesia và các đối tác khác.
Quay trở lại với chuyện tương lai của Việt Nam. Việc căng thẳng gia tăng trên Biển Đông của Việt Namđã gây ra một loạt diễn biến, buộc Hà Nội và thật ra là toàn thể người dân Việt Namphải đánh giá lại tầm nhìn chiến lược của nước mình. Rất nhiều người ở Việt Nam tin rằng cách bảo vệ đất nước tốt nhất là thoát Trung, bằng cách tiến hành những cải cách thể chế “thay đổi cục diện” – vốn dĩ cần thiết để giành được sự ủng hộ của khu vực và quốc tế. Những cải cách đó bao gồm cả cam kết thực thi nhà nước pháp quyền, thực thi các sửa đổi hiến pháp căn bản, và làm cho Việt Nam phù hợp một cách nhanh chóng và thực chất với các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền mà chính Nhà nước Việt Nam đã cam kết.
Mặc dù các bước đi táo bạo đó có thể bị nhiều người cho là bất khả thi về chính trị, hay nói đơn giản là không thể thực hiện được, nhưng các bạn hãy dành một phút để nhớ lại rằng, Việt Nam hiện đang đối đầu Trung Hoa một cách cô độc. Tuy Việt Nam vẫn phải theo đuổi quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, nhưng họ chỉ có thể sống trong an toàn, an ninh, được thế giới tôn trọng và ủng hộ, mà điều đó chỉ có thể có được nếu các lãnh đạo và nhân dân của họ xây dựng một tương lai trong đó Việt Nam được độc lập, tự do, và có một trật tự xã hội dân chủ hơn, minh bạch hơn. Cũng giống như với Myanmar, thế giới có thể ủng hộ Việt Namngay lập tức.
Điều mà Trung Quốc, Việt Nam, và toàn thể khu vực cần là năng lực lãnh đạo tốt hơn và có trách nhiệm hơn. Từ Đông Bắc Á cho đến Đông Nam Á, các nhà lãnh đạo của Đông Á phải phối hợp thúc đẩy hòa bình và trật tự trong khu vực trên cơ sở hợp tác thay vì hăm dọa.
Giới lãnh đạo chính trị Trung Hoa đã liên tục nói về sự “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc. Nhưng chỉ có chính họ phải chịu trách nhiệm về việc Trung Quốc nhanh chóng bị các nước láng giềng trong khu vực căm ghét và làm cho Mỹ cũng như các siêu cường khác trên thế giới lo ngại. Nếu muốn có hòa bình và trật tự ở châu Á Thái Bình Dương, Bắc Kinh phải áp dụng các chuẩn mực quốc tế, phải từ bỏ đường 9 đoạn vô căn cứ pháp lý, và phải bắt đầu công việc đàm phán, thương lượng một cách chính trực hơn. Khi đó và chỉ khi đó, Trung Quốc mới giành được sự tin tưởng và tôn trọng của khu vực và thế giới.

j.l  và Vũ Quang Việt

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Thư mở gửi Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao

Trương Nhân Tuấn - Thư mở kính gởi: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh

Kính thưa Thủ tướng, kính thưa Bộ trưởng,
Đầu tháng 5 năm 2014 Trung Quốc đã đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 tại địa điểm cách đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa (của Việt Nam) khoảng 18 hải lý, cách đảo Lý Sơn (của Việt Nam) khoảng 119 hải lý. Việc này đã gây phẫn nộ cho mọi người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Đó là một hành vi có thể ghép vào hạng mục xâm lược, không bằng vũ trang sức mạnh, mà bằng một thủ đoạn tinh vi bao bọc dưới lớp vỏ khai thác dầu khí.
Các nỗ lực của nhà nước Việt Nam hôm nay, quốc tế và quốc nội, tố giác hành vi xâm lược này đồng thời khẳng định trước quốc tế tư cách (tự vệ) chính đáng của Việt Nam. Điều này được mọi tầng lớp người Việt Nam ủng hộ.
Đảo Lý Sơn, một đảo cận bờ thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đảo Tri Tôn là một cấu trúc địa lý thuộc quần đảo Hoàng Sa mà quần đảo này đã thuộc về Việt Nam từ thời xa xưa. Những nhà cầm quyền Việt Nam, liên tục qua các triều đại vua chúa, nhà cầm quyền khác nhau, đã khám phá, khai thác, quản lý và tuyên bố chủ quyền trên các đảo này mà không hề gặp bất kỳ một chống đối, hay phản đối nào của các triều đại, hay nhà cầm quyền Trung Quốc, cho đến sau Thế chiến thứ II.
Do hoàn cảnh lịch sử, nước Việt Nambị phân chia thành hai vùng lãnh thổ tại vĩ tuyến 17, lần lượt mang tên: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa.
Chiếu theo tinh thần Hiệp định Genève 1954 (được các nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, TQ bảo trợ), các nước công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Vĩ tuyến 17 là đường ranh quân sự tạm thời, không phải là đường phân định biên giới về chính trị hay lãnh thổ.
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.
Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam được tái xác định theo Hiệp định Paris năm 1973: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đã công nhận."
Tinh thần hai hiệp định, cũng là một chân lý làm nên chất keo gắn bó nhân dân và đất nước Việt Nam: đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…
Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước Việt Namduy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.
Thưa Thủ tướng, thưa bộ trưởng,
Trên tinh thần tôn trọng "độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam" của các hiệp ước quốc tế này (mà các nước Mỹ, Trung Quốc, Anh, Pháp… đồng bảo trợ chúng), bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), nếu có làm tổn hại, hay đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chúng đều không có giá trị.
Nhà cầm quyền Trung Quốc viện dẫn công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết nhằm ủng hộ tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc tháng 9 năm 1958, cho rằng nhà nước VNDCCH đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa (và Trường Sa).
Điều này hiển nhiên không đúng.
Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng viết trong khoản thời gian 1954-1973, có liên quan đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần hai Hiệp định 1954 và 1973, do đó không có giá trị pháp lý ràng buộc.
Dầu vậy, những ngày vừa qua, trong các cuộc họp báo, các viên chức của Việt Nam, thuộc Bộ Ngoại Giao vì muốn phản biện lại lý lẽ của Trung Quốc (khi vịn vào công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng), đã có những tuyên bố bất lợi. Các tuyên bố này có thể làm tổn hại đến quyền lợi của dân tộc Việt Nam, đến sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước Việt Nam, đồng thời khép mọi khả năng đòi lại Hoàng Sa (và các đảo Trường Sa) đã lọt vào tay Trung Quốc của thế hệ tương lai.
Những người này, nhân các cuộc họp báo, có cho rằng "Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập, có chủ quyền…"… hoặc "bạn không thể cho ai thứ mà bạn không có chủ quyền…".
Lập luận cho rằng "Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập, có chủ quyền…", từ miệng một viên chức cao cấp thuộc bộ ngoại giao, có thể vô hiệu hóa yếu tố nền tảng của quốc gia Việt Nam được xác định do hai hiệp định 1954 và 1973: "độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam".
Lập luận cho rằng "bạn không thể cho ai thứ mà bạn không có chủ quyền…", từ miệng một viên chức cao cấp thuộc bộ ngoại giao, mặc nhiên nhìn nhận VNDCCH chưa bao giờ có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Lập luận thứ nhất sẽ khép lại mọi khả năng đòi lại Hoàng Sa của các thế hệ Việt Nam trong tương lai bằng thủ tục pháp lý.
Lập luận thứ hai sẽ đóng lại mọi khả năng kiện tụng của Việt Nam hôm nay (là nhà nước tiếp nối nhà nước VNDCCH).
Vì các lẽ này, tôi trân trọng yêu cầu:
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng,
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh,
Nhanh chóng có biện pháp đính chánh, hay sửa chữa lại các phát ngôn thiếu dè dặt và sự chín chắn của các viên chức bộ Ngoại giao trong buổi họp báo vừa qua.
Tôi trân trọng cám ơn.
Pháp quốc, Ngày 26 tháng 5 năm 2014
Trương Nhân Tuấn. (truongnhantuan@yahoo.fr)
Nhà nghiên cứu nghiệp dư về lịch sử và tranh chấp biên giới Việt-Trung

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Phải chăng đây là sự hiểu biết “sâu sắc” về chủ nghĩa Mác – Lê-nin ?

     

Hà Tuấn Trung trunghatuan@gmail.com
Kính chào anh Bùi Văn Bồng
Tôi là đảng viên ĐCSVN, 65 năm tuổi đảng, cán bộ nghỉ hưu tại Hà Nội.
Qua đọc bài viết " Phải chăng..." đăng trên TCCS tháng 4/2014, tôi thấy cần có vài lời phản biện để mọi người rộng đường suy ngẫm, phân biệt phải trái rõ ràng. Do vậy tôi xin gửi tới anh bài viết kèm theo để anh nghiên cứu, sử dụng. Trân trọng cảm ơn.
* TRUNG HÀ
Qua đọc bài viết của PGS, TS Vũ Văn Phúc với tựa đề : “Phải chăng chủ nghĩa Mác – Lê-nin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Namđăng trên TCCS ngày 24/4/2014, tôi thấy cần góp ý vài điều như sau :
                                                       1-Về chủ nghĩa cộng sản :
Phải chăng tác giả không biết hay đã cố tình bỏ qua những thay đổi trong quan điểm của Mác, Ăng-ghen về chủ nghĩa cộng sản. Thể hiện trong lời nói đầu của cuốn “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, xuất bản ngày 6/3/1895 Ăng-ghen đã viết : “Lịch sử chứng tỏ chúng ta đang mắc sai lầm. Quan điểm của chúng ta hồi đó chỉ là ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều hơn, không những đã xóa bỏ những mê muội của chúng ta hồi đó mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản, phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt…Chẳng có mục tiêu lớn “CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN” gì cả, đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Mác đề xuất lúc trẻ nhưng đã vứt bỏ lúc cuối đời”. (Tạp chí Thông tin lý luận số 10/2007).
                                 2- Về sự khác nhau giữa Mác và Lê-nin
Không có lẽ tác giả không thấy được sự khác nhau giữa Mác và Lê-nin
Sau khi công bố “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”, Mác, Ăng-ghen đã thành lập tổ chức Quốc tế cộng sản (Quốc tế I - 1864) để chỉ đạo thực hiện… Song thực tiễn cuộc sống diễn ra mấy thập kỷ sau đó đã khiến cho các ông nhận ra sai lầm và tự mình phủ định những quan điểm trước đó để đổi mới tư duy : tuyên bố giải tán Quốc tế cộng sản (1876), thay đổi mục tiêu và phương pháp đấu tranh theo hướng xã hội dân chủ…
Nhưng Lê-nin đã không hưởng ứng những sự thay đổi đó mà vẫn kiên trì bám theo những luận điểm ban đầu của Mác về bạo lực cách mạng và xây dựng xã hội cộng sản dựa trên nền tảng đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản…
Sau khi Mác và Ăng-ghen qua đời, Lê-nin đã kịch liệt phê phán những môn đệ trung thành với những ý tưởng đổi mới của Mác, Ăng-ghen như Béc-tanh, Cao-ski…coi đó là những kẻ “xét lại”, phản bội…qua tác phẩm : “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cao-sky”. Thực chất là gián tiếp phê phán Mác, Ăng-ghen.
 Lê-nin còn đưa ra luận điểm các nước nông nghiệp lạc hậu có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản – trái hẳn với luận điểm của Mác v.v...
    3- Về chủ nghĩa Mác – Lê-nin 
đối với cách mạng Việt Nam
 Tác giả đã cố tình gán ghép về nguyên nhân thắng lợi của cách mạng VN là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin : “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, giáo dục, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng chính trị, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, là minh chứng thuyết phục nhất chứng tỏ rằng, học thuyết Mác - Lê-nin đã thực sự đóng vai trò lý luận dẫn đường cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.”Một sự ngộ nhận hết sức sai lầm.
Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Namthông qua Hồ Chí Minh như thông qua một bộ tinh lọc và có những bổ sung cực kỳ sáng tạo ngoài những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chính vì vậy mới có được những thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ Quốc Việt Namtrong thế kỷ XX .
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.Lý luận Mác – Lê-nin nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, nhưng Hồ Chí Minh lại cho rằng :
            “ Nghe  người  ta  nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (HCM toàn tập, tập 5, tr 272).
“Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc” (XYZ ,Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Ban THTW, 1949).
            Về lực lượng cách mạng : Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết được, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo...với khẩu hiệu : “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Kết quả là sự ra đời của Mặt trận Việt Minh (1941) đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Sau khi giành được chính quyền trong cách mạng Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh không tuyên bố xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản mà chủ trương thiết lập chế độ dân chủ cộng hòa, (không dập khuôn theo mô hình cộng hòa xã hội chủ nghĩa của Liên Xô). Rồi sau đó thành lập chính phủ liên hiệp, gồm những người yêu nước và có năng lực không phân biệt thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo….
Như vậy, nguyên nhân căn bản của cuộc đấu tranh giành được độc lập và kháng chiến thành công là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế...đã phát huy được truyền thống yêu nước, chống xâm lược của cả dân tộc và tranh thủ được ủng hộ của quốc tế...chứ không phải là đã thực hiện theo lý luận về đấu tranh giai cấp,  của chủ nghĩa Mác - Lê-nin (cả Mác và Lê-nin đều không có khái niệm đại đoàn kết). Nếu thực hiện đúng theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin thì không thể có thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng 8/1945 và thành công rực rỡ của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Từ những điều kể trên cho thấy những quan điểm của Hồ Chí Minh về cơ bản là khác biệt so với các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nếu như quy luật nhận thức của mỗi người đối với sự vật, hiện tượng khách quan là một quá trình... thì có thể thấy rõ nhận thức, quan điểm của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa cộng sản cũng không ngoài quy luật đó.Với những quan sát và trải nghiệm trên khắp năm châu bốn biển trong suốt cả cuộc đời, quan tâm nghiên cứu đủ các loại học thuyết, các chủ nghĩa trên thế giới…Người cũng mong muốn có một xã hội cộng sản chủ nghĩa như ước mơ của Mác, nhưng đã sớm  nhận ra đó chỉ là ý tưởng cao đẹp, nhưng không có khả năng biến thành hiện thực. Tuy nhiên mục tiêu giành và giữ độc lập cho đất nước giữa thế kỷ 20 đòi hỏi phải tranh thủ sự giúp đỡ của phong trào cộng sản quốc tế, vì vậy đành phải chấp nhận thực hiện một số điều ngoài ý muốn...Cho đến những năm cuối đời (1965 – 1969) Hồ Chí Minh đã dành thời gian nghiền ngẫm, cẩn trọng biên soạn một bản Di chúc tâm huyết để lại cho toàn đảng, toàn dân, đề cập đến mọi vấn đề hệ trọng của đất nước, song trong đó không có lời  nào  căn  dặn phải đưa nước ta đi lên chủ nghĩa cộng sản mà chỉ nhấn mạnh rằng : “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là : Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, DÂN CHỦ VÀ GIẦU MẠNH, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế  giới”.
4- Ca ngợi một chiều thắng lợi, cố tình lẩn tránh, không đề cập đến những sai lầm, thất bại của đảng trong các thời kỳ chủ trương thực hiện theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin :
- Những năm 30 của thế kỷ XX, Trần Phú thực hiện theo chỉ đạo của Quốc tế cộng sản (Đệ tam) chủ trương đặt nhiệm vụ đấu tranh giai cấp lên hàng đầu, dẫn đến thất bại của cuộc khởi nghĩa Xô- viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu : “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.
-Từ 1953 đến 1956 : Tiến hành cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức theo sự áp đặt của Liên xô, Trung Quốc ... phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây nên một trong hậu quả nặng nề trong lịch sử của đất nước.
            -Từ 1976 đến 1985 : Thực hiện chuyên chính vô sản, triệt để cải tạo công thương nghiệp, xóa bỏ giai cấp tư sản, kinh tế tư nhân, đối xử tệ bạc và thành kiến nặng nề với những người đã làm việc trong bộ máy chính quyền cũ...Xây dựng nền kinh tế theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và mô hình cộng hòa XHCN xô viết của Liên xô...kết quả đưa đất nước vào một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng.
            Thử đặt câu hỏi : nguyên nhân căn bản của những lần thất bại đó là gì ? Phải chăng cũng đều là do lãnh đạo đã đi chệch khỏi lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin ? Câu trả lời là trái lại, vì đã làm đúng lý luận về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản và xây dựng chế độ XHCN để tiến lên chủ  nghĩa cộng sản !
              5-Về nguyên nhân sụp đổ của LX và các nước XHCN Đông Âu
Tác giả cho rằng “ ...bắt đầu từ sai lầm trong xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền ở đó, do đi chệch khỏi chủ nghĩa Mác - Lê-nin chân chính, mà còn là sự xét lại và phản bội chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời không thể không kể đến những âm mưu thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chính chủ nghĩa đế quốc quốc tế sử dụng...”
Về vấn đề này trong bài “Cận cảnh Liên xô và Đông Âu sụp đổ “ đăng trên báo Tuanvietnamnet – 7/11/2013, thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Bộ công an phân tích như sau :
Một là, Đảng cộng sản Liên Xô đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ "cái uy" của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù...
 Hai là,Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng cộng sản Liên Xô đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSLX với nhân dân Liên Xô. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSLX xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.
 Ba là,những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.
Trên đây là những biểu hiện nổi bật chủ yếu sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhất là các cán bộ chủ chốt ở cấp cao.
Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng cộng sản Liên Xô và các "phiên bản" Đông Âu của nó thuộc trường hợp này.”
Tham khảo thêm nhận xét của các nhà nghiên cứu trên thế giới cho thấy: « ...nguyên nhân quan trọng vÒ sù sôp ®æ cña §CSLX sau 74 n¨m cÇm quyÒn lµ n¹n tham nhòng trong bé m¸y l·nh ®¹o : “sù ®åi b¹i, try l¹c trë nªn phæ biÕn, n¹n tham «, hèi lé chÝnh lµ ®Æc ®iÓm cña thêi kú Brªgi¬nÐp”, mµ ®iÓn h×nh lµ Tæng bÝ th­ư ! “Brªgi¬nÐp thÝch c©u c¸ vµ s¨n b¾n. ViÖc ®i s¨n vµ c©u c¸ cña Brªgi¬nÐp còng gièng nh­ư nhµ vua ®i tuÇn thó vËy, tiÒn h« hËu ñng, kÐo theo ®ã lµ nh÷ng buæi yÕn tiÖc linh ®×nh. Lóc nµy, trong quan chøc cña Liªn X« thÞnh hµnh phong c¸ch “tiÖc tïng” vµ “quµ biÕu”. Mäi ng­ưêi ®Òu coi quµ biÕu kiÓu nµy nh­ư mét “nghi thøc giao tiÕp b×nh th­ưêng” mµ ng­ưêi cã thÓ tiÕp nhËn quµ biÕu nhiÒu nhÊt kh«ng ai kh¸c chÝnh lµ Tæng bÝ th­ưBrªgi¬nÐp...nh÷ng chiÕc xe h¬i ®­ưîc biÕu tÆng cña Brªgi¬nÐp ®· chÊt ®Çy mÊy gara «t«, sóng s¨n th× chÊt ®Çy mét c¨n phßng lín ! v.v...” Tõ ®ã mµ h×nh thµnh c¶ mét m¹ng l­ưíi ®Æc quyÒn ®Æc lîi, tham nhòng phæ biÕn tõ trªn xuèng d­ưíi. (xem : “Bµn vÒ c«ng t¸c x©y dùng n¨ng lùc cÇm quyÒn cña ®¶ng” - trang 38, 39 - NXB ChÝnh trÞ quèc gia - Hµ Néi - 2010).
 MÇm mèng cña sù tan r· vµ mÊt chÝnh quyÒn cña §¶ng céng s¶n Liªn X« vµo n¨m 1991 chÝnh lµ ë chç ®ã chø ®©u ph¶i chØ v× nh÷ng sai lÇm cña Gooc – ba - ch«p vµ sù ph¸ ho¹i cña c¸c thÕ lùc thï ®Þch bªn ngoµi . Mặc dù với hơn 20 triệu đảng viên cộng sản cùng vài chục triệu đoàn viên thanh niên công-xô-môn với lực lượng quân đội và cảnh sát, an ninh hùng hậu...nhưng khi mà đại đa số nhân dân đã mất hết lòng tin, đã bất bình và quay lưng lại với đảng cầm quyền thì không có cách gì có thể cứu vãn được nữa !
Ngoài ra cũng cần phân tích thêm về bức tường Béc-lanh nổi tiếng ngăn cách 2 miền nước Đức, cũng là để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào các nước XHCN từ phía tây, do nước Cộng hòa dân chủ Đức (Đông Đức), một nước giầu nhất trong phe XHCN làm tiền đồn. Thế mà tự dưng năm 1989 bức tường đó lại bị đổ ! Phải chăng là do các thế lực thù địch quốc tế và nhà cầm quyền Tây Đức phá để thôn tính Đông Đức ? Sự thực hoàn toàn ngược lại, chính là do nhân dân Đông Đức ngày càng bất mãn với chế độ vô sản chuyên chính mất dân chủ, đời sống ngày tụt hậu, thu nhập bình quân chỉ bằng ¼ so với Tây Đức...nên số người trốn chạy sang Tây Đức (bằng các ngả đường vòng qua các nước khác) ngày càng nhiều, số còn lại gây áp lực lớn với chính quyền đòi được tự do đi lại...buộc lãnh đạo phải nhượng bộ...thế là bức tường Béc-lanh kiên cố bị vô hiệu hóa ! nói một cách khác là từ trong nhân dân Đông Đức phá ra chứ không phải từ các thế lực thù địch bên ngoài phá vào. Đó là hệ quả tất yếu của đường lối lãnh đạo sai lầm theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin v.v...
T.H
-----------------

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

BIỂN ĐẢO và TÌNH YÊU NGƯỜI LÍNH

Nhà xuất bản Thông tin-Truyền thông vừa in xong và nộp lưu chiểu tháng 4-2014 Tập thơ: "Biển đảo và tình yêu người lính", số lượng 4.500 cuốn. Tập thơ gồm 38 bài thơ của tác giả Bùi Văn Bồng. Tập thơ 120 trang, khổ 14.5 x 20.5. BVB kính mời bà con đón đọc và cùng chia sẻ với tác giả. Sau đây là ảnh bìa, lời giới thiệu của Nhà xuất bản, ảnh phần đầu bài thơ đầu và xin trích 5 bài thơ trong tập thơ này:
Bìa 1 Tập thơ
Trích Lời giới thiệu của Nhà xuất bảm
                                      
Trang 5
---------------->
*** BVB trân trọng mời bà con đọc tham khảo một số bài thơ trong tập thơ này:

Bùi Văn Bồng

CÂY PHONG BA TRƯỜNG SA

            Lá xanh in giữa màu mây
Cành cây như những cánh tay vươn dài
            Vững như dáng đứng thời trai
Xanh che công sự trạm đài Trường Sa
            Mùa khô gió cát tràn qua
Mùa mưa bão tố phong ba chẳng sờn
            Nắng nung cháy đỏ hoàng hôn
Sạm đen những tấm lưng trần dẻo dai
            Mưa tuôn gió quất liên hồi
Đá xây công sự vỡ rồi lại xây
            Cây phong ba vẫn dạn dày
Xanh gan góc giữa trời mây thủy triều

            Những trang thư của người yêu
Gửi ra đảo tím trong chiều nhớ thương
            Cây phong ba thành tấm gương
Nhìn cây bỗng thấy đời thường rõ hơn

            Trước bình minh
            Trước hoàng hôn
Lá xanh có mặt trời tròn kết hoa
            Mặt trời thức với đảo xa
Phong ba ru khúc ngân nga tháng ngày
            Bầy chim biển tụ về đây
Bình yên ngủ dưới bóng cây mát lành

            Bão giông càng mọc thêm cành
Vượt lên nắng lửa tươi xanh với đời
            Đứng bên thềm đảo chơi vơi
Vẹn nguyên sắc lá cho người tin yêu

            Sóng lay chân đảo sớm chiều
San hô mặn chát
                        đất nghèo phù sa
            Cây phong ba trong phong ba
Rễ vươn bám đá
                         xanh ra biển trời .
                                                B.V.B

--------------

TÌNH YÊU LÍNH ĐẢO

Lính đảo nói rằng lính đảo yêu
Lòng nhớ nôn nao sóng thủy triều
Nay đã xa nhà ra gác đảo
Vấn vương một dáng nét yêu kiều

Lính đảo nói rằng lính đảo thương
Một cô bạn học buổi tan trường
Mắt như tiên nữ sa trần thế
Mái tóc vương mềm thơm thoảng hương

Lính đảo nói rằng lính đảo say
Mơ gặp người thương để giãi bày
Khung trời tuổi mộng năm nao ấy
Ai đã rụt rè cho nắm tay…

Bây giờ da dẻ hồng tươi nắng
Nhớ nón nghiêng che một chiều xa
Nhìn cây bàng nhớ xưa hò hẹn
Tán lá xanh êm đến thật thà

Nỗi nhớ đất liền bao vấn vương
Yêu lá thư hồng của hậu phương
Yêu thơ, mê hát, yêu con sóng
Thềm đảo chao nghiêng buổi triều cường

Và say, lính đảo thường say đắm
Ngắm cánh hải âu sáng chân trời
Như cánh cò xưa trên đồng biếc
Yêu những vầng mây giữa trùng khơi

Lính đảo yêu thế, thương là thế
Ai gửi tâm tình hẹn nhớ thương
Không mạng, chẳng game và đừng chat

Xin một con tem với thư thường.                      
 B.V.B
----------------

TIẾNG NÓI VIỆT NAM
Ở TRƯỜNG SA

Đây là Tiếng nói Việt Nam…”
Biết mấy tự hào âm thanh ấy
Nắng Trường Sa, gió cát Trường Sa
Nỗi nhớ quê nhà xôn xao sóng vỗ

Loa phóng thanh trên cành phong ba
Đài bán dẫn đặt bên công sự
Bình yên đảo xa chiều lộng gió
Lính trẻ quây quần nghe Tiếng nói Việt Nam...

Ôi! Tiếng của quê hương, Tổ quốc
Bốn ngàn năm vang đến cõi bờ xa
Tiếng gươm giáo thuở nào đi giữ nước
Tiếng gió đồng dào dạt khúc dân ca

Nghe xạc xào bờ lau bãi sậy
Tiếng võng trưa kẽo kẹt dưới tre làng
Tiếng thoi đưa nhịp nhàng trong xưởng máy
Tiếng trống trường mỗi sáng mặt trời lên

Nghe tha thiết tiếng suối rừng cuộn chảy
Sáo diều ru mướt gió chiều hè
Tiếng ve ngân dìu dặt hàng me
Nhịp hò khoan xóm chài trăng bát ngát…

Nơi Trường Sa đêm ngày sóng hát
Cứ ngân vang Tiếng nói Việt Nam
Thao thức đồng quê mùa gieo hạt
Cành san hô đảo đá bỗng xanh mầm

Thiêng liêng tiếng quê hương, Tổ quốc
Hải đảo thân yêu như ngõ xóm đường làng
Mỗi buổi sáng lại vang lên thân thuộc
“Đây là Tiếng nói Việt Nam…”
                                            B.V.B 
-------------

TA YÊU BIỂN

Ta yêu biển đâu chỉ màu xanh ngắt
Nhuộm ánh trời dìu dặt cánh hải âu
Ta yêu biển
             mênh mông sóng bạc đầu
Hoa lãnh hải gọi mùa về tha thiết…

Ta bỗng thấy Lạc Long Quân cưỡi sóng
Năm mươi chàng trai
                   ngực đón gió biển Đông
Con của biển lại trở về với biển
Hóa hàng dương ngăn sóng cuộn bão giông

Biển đỡ nâng những con tàu hối hả
Những ngư dân trần lưng vất vả
Ngư phủ già hóa cá ngư ông
Nơi tụ dồn gặp gỡ những dòng sông…

Ta yêu biển tình yêu dâng sóng biển
Nơi nụ cười mặn muối cá đầy khoang
Nơi nhiều loài hải sinh quý hiếm
Nơi mỏ dầu cháy sáng lửa giàn khoan

Sóng tiếp sóng theo đường viền chữ S
Cát với làng chài
ngan ngát những rừng cây
Ôi bờ biển mộng mơ và sôi động
Lộng gió khơi hương biển mãi đong đầy

Trong sóng biển có suối nguồn Tây Bắc
Có cánh hoa tím biếc dãy Trường Sơn
Có phù sa Cửu Long Giang tần tảo
Có mồ hôi, nước mắt, máu xương…

Đã bao đời mồ hôi rơi biển mặn
Nước biển xanh từ mơ ước đời xanh
Trời và biển âm dương hòa sắc nắng
Bình minh trên bãi tắm yên lành

Sóng biển trắng như mây trời tụ lắng
Suốt ngày đêm hoa sóng mãi dâng đầy
Nơi thiêng liêng chủ quyền bờ cõi
Những con tàu tuần tiễu phía chân mây
Biển quê ta có Hoàng Sa, Trường Sa
Có Cồn Cỏ, Cô Tô, Phú Quốc…
Vùng hải đảo Tây Nam và Đông Bắc
Dương cánh cung phên dậu giữ quê nhà

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa
Sóng nâng bước những người con giữ biển
Nay ngõ quê có mẹ già lưu luyến
Tiễn con trai đi giữ đảo Trường Sa…

Trải hết lòng cùng mênh mông biển biêc
Nhạc và thơ tha thiết biển quê hương
Thơ về biển chỉ xin là vệt cát
Soi ánh trời lấp lánh biển yêu thương.
BVB
---------------

TẦM NHÌN CÂY ĐÈN BIỂN

Đèn thức thâu đêm
Đêm đầy trời trăng sao
Đêm mịt mùng bão tố
Đêm mưa giông xối xả
Vẫn hướng ra biển cả
Mắt của đất liền
Cây đèn biển

Chớp sáng
Bền bỉ như kim đồng hồ
Không nghỉ
Ánh sao tỏa ra đại dương mênh mông
Những đoàn tàu khơi xa dõi trông

Cây đèn nhận ra sức dẻo dai ngư phủ
Mùa tiếp vụ
Cá đầy khoang
Hơi thở phả lên gió mặn vội vàng
Hơi thở dồn vào mắt lưới
Cây đèn bền lòng thức đợi
Con tàu về bến bình yên

Cây đèn biển soi đường biên
Đường biên trên biển không cột mốc
Lãnh hải không vẽ ngang kẻ dọc
Nhưng rất thiêng liêng
Chủ quyền

Cây đèn biển nhận ra loài cướp biển
Chúng cướp của và xâm chiếm tài nguyên
Cái “lưỡi bò” của lòng tham liếm những lớp sóng hiền
Rồi nhả ra bão giông và sấm chớp
Cái “lưỡi bò” của lòng tham chực chờ đớp
                                      như con cá mập đói săn mồi
Ôi, thói đời
Lòng tham nấp cùng bóng tối.

Tầm nhìn cây đèn biển khắp trùng khơi
Trông đợi
Những con tàu về bến
Neo bình yên bên thềm cát quê nhà.
BVB
 
------------------

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

' Tiếng nói' E.MAIL - 97

From: Vũ Trọng Khải khai.hendainhan@gmail.com
Cải cách thể chế từ câu hỏi chưa có lời giải

PS:VẬY MÀ BÁC TUYỂN LẠI ĐỊNH LÀM CHO RỐI THÊM 
BẰNG CÁI KHÁI NIỆM CÒN TỪ MÙ
HƠN “NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XHCN”?HUHU…
CHẮC SẼ MẤT THÊM…30 YEARS MORE??
Thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN? Đây là câu hỏi mà gần 30 năm
qua Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh chưa tìm được câu trả lời.

Một ngày cuối năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được
mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh. Thính giả là các lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố. Kết
thúc buổi nói chuyện, nhiều người hỏi bộ trưởng, thế nào là thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có
cái thứ đó mà đi tìm”. Gần ba mươi năm trước, khi còn là bí thư chi bộ kiêm
lớp trưởng của một lớp lý luận cao cấp học tại học viện, ông Vinh cũng đã
hỏi câu hỏi đó với các thầy giáo là các nhà lý luận, nhưng không được trả
lời. Nay, câu hỏi đó vẫn làm băn khoăn những thế hệ sau ông.
Qua nhiều nghiên cứu sau đổi mới, định nghĩa về thể chế kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa vẫn chưa được xác định rõ, theo chuyên gia kinh tế Võ Đại
Lược. Ông nói: “Chúng ta là nền kinh tế thị trường duy nhất trên thế giới
lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, làm kinh tế thị trường bị biến dạng, gia
tăng vai trò can thiệp hành chính của Nhà nước”. Lý luận chưa thông đã làm
nảy sinh hàng loạt vấn đề trên thực tế, như doanh nghiệp nhà nước ngày càng
lớn, chi tiêu công phình to, số công chức trong hệ thống nhà nước không thể
tinh giản, phân bố nguồn lực ngày càng lệch lạc... Những điều này, và nhiều
điều khác nữa, là nguyên nhân chính cho nền kinh tế rơi vào giai đoạn tăng
trưởng thấp, dài nhất kể từ khi đổi mới.
Ông Vinh đã chứng kiến rất nhiều mâu thuẫn khi còn làm ở địa phương. Một ví
dụ đơn giản, là miễn thủy lợi phí cho nông dân. Nhà nước rót tiền để công ty
thủy nông tưới tiêu nước miễn phí. Cơ chế đó tưởng là tốt, nhưng lại làm tất
cả trở nên vô trách nhiệm. Công ty thủy nông vì không thể bán sản phẩm nên
không quan tâm chất lượng dịch vụ, cơ quan thủy nông của Nhà nước cũng có
thể nảy sinh tiêu cực khi cấp tiền cho công ty thủy nông, và người nông dân
nhiều khi để nước chảy tràn bờ mà không mấy bận tâm. “Như vậy, một tài
nguyên quý như nước mà được dùng vô tội vạ”, ông Vinh kể lại câu chuyện này,
và nói: “Chúng ta cứ tưởng chúng ta tốt, chúng ta đúng khi cho không. Phân
bổ nguồn lực dựa vào ý chí chủ quan, trái quy luật thị trường để lại hậu quả
rất nghiêm trọng”.
Cho đến gần đây, yêu cầu về việc xác định mô hình phát triển và xây dựng thể
chế để phân định vai trò của Nhà nước và của thị trường lại được đặt ra. Và
một đề án về cải cách thể chế kinh tế Việt Nam đang được Bộ Kế hoạch và Đầu
tư xây dựng nhằm tìm các biện pháp giải quyết tình trạng suy kiệt của nền
kinh tế.
Những nỗ lực như vậy cần phải được tiến hành nhanh hơn trong quá trình hội
nhập quốc tế sâu rộng. Một nghiên cứu của Vụ Tổng hợp kinh tế, Bộ Ngoại giao
gửi Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tuần trước đã liệt kê hàng loạt cam kết hội
nhập kinh tế quốc tế liên quan đến cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam sau
khi ký kết các hiệp định như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP),
Hiệp định Tự do thương mại (FTA) với EU thời gian tới.
Chẳng hạn, một số FTA, đặc biệt là TPP mà Việt Nam đang đàm phán có cam kết
về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo hướng yêu cầu tất cả DNNN cạnh tranh
bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân; Nhà nước không trợ cấp cho DNNN; minh
bạch hóa quản lý DNNN. Nội dung cam kết này, theo Bộ Ngoại giao, sẽ đặt ra
thách thức về thể chế kinh tế.
Thứ nhất, cơ chế “xin - cho” thời gian qua đã thúc đẩy hình thành khu vực
hưởng lợi trên lưng người khác (rent-seeking) thu lợi nhờ các đặc quyền hoặc
độc quyền kinh doanh. Việc xóa bỏ cơ chế này đang gặp nhiều trở lực do sức ỳ
lớn của nhiều DNNN và các nhóm lợi ích hưởng lợi từ cơ chế này.
Thứ hai, chế độ quản trị của DNNN ở nước ta nhìn chung còn chịu ảnh hưởng
của tàn dư cơ chế quan liêu, chưa quan tâm đến các tiêu chuẩn, thông lệ quốc
tế trong quản trị doanh nghiệp; do đó minh bạch hóa quản lý DNNN đặt ra yêu
cầu cấp bách về đổi mới căn bản quản trị của DNNN.
Thứ ba, việc đặt các DNNN vào môi trường cạnh tranh “sòng phẳng” trong khi
sức cạnh tranh còn hạn chế, nếu không có các thể chế hỗ trợ không loại trừ
khả năng bị thâu tóm, chi phối bởi độc quyền tư nhân và/hoặc độc quyền nước
ngoài, nhất là trong những lĩnh vực cần có điều tiết của Nhà nước.
Bộ Ngoại giao cho rằng trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, cần xác định rõ đâu là yếu tố thị trường, đâu là định hướng xã
hội chủ nghĩa. Bộ cho rằng, thể chế kinh tế của Việt Nam có đặc thù, nhưng
trước hết cần theo dòng chảy chung của nhân loại. Kinh tế thị trường là
phương thức phát triển kinh tế chung của thế giới hiện nay, phải chăng định
hướng xã hội chủ nghĩa là nói đến bản chất và vai trò của Nhà nước ta.
Với cách tiếp cận như vậy và trên cơ sở kinh nghiệm của các nước, có thể
phân định rõ vai trò của thị trường và Nhà nước trong kết cấu thể chế kinh
tế ở nước ta như sau:
Thứ nhất, tôn trọng quy luật của thị trường, để thị trường giữ vai trò quyết
định phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Trong hội nhập quốc tế, Nhà nước có vai
trò quan trọng, nhưng doanh nghiệp và xã hội giữ vai trò quyết định thành
công và hiệu quả của hội nhập. Vì vậy, cần tạo dựng được các thể chế thị
trường hiện đại để khơi dậy và giải phóng tối đa tiềm năng, sáng tạo và sức
sản xuất của toàn xã hội.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường
được thể hiện đồng thời dưới hai góc độ: (i) Đẩy mạnh hội nhập quốc tế để
dẫn lái kinh tế Việt Namtheo quỹ đạo kinh tế thị trường hiện đại. (ii) Cần
có các thể chế bảo đảm tôn trọng và củng cố các nền tảng cơ bản của kinh tế
thị trường như quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng,
lành mạnh.
Thứ hai, về vai trò của Nhà nước. Nhà nước nên tập trung làm tốt các chức
năng cốt lõi: (i) Ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ các nền tảng tích cực của
kinh tế thị trường; (ii) Khắc phục, sửa chữa các khiếm khuyết và thất bại
của thị trường nhằm bảo đảm phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực; (iii) Thực
hiện tốt các chức năng xã hội nhằm bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội.
Những cuộc thảo luận về cải cách thể chế đang được nhiều cơ quan tiến hành
trên diện rộng. Tất cả những nỗ lực đó là nhằm tổng kết 30 năm đổi mới ở
Việt Nam. Liệu câu hỏi làm băn khoăn bộ trưởng cách đây gần 30 năm có được
giải đáp thỏa đáng?

Nguồn
<http://gafin.vn/Pages/News/RedirectSource.aspx?newsId=20140503113648679>
Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
Đột phá về thể chế: “Tại sao lại khó đến thế?”
PS:BỞI VÌ CÁC “NHÀ” SỢ KHÔNG DÁM ĐỐI MẶT VỚI ĐỊNH NGHĨA THẬT CỦA “THẾ CHẾ”?
Description: Ð?t phá v? th? ch?: “T?i sao l?i khó d?n th??”

Tin mới
<http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/se-co-nhieu-thay-doi-nhan-su-cap-cao-o
-tong-cong-ty-duong-sat-vn-2014050216413914710ca33.chn
> Description: S? có
nhi?u thay d?i nhân s? c?p cao ? T?ng công ty Ðu?ng s?t VNSẽ có
<http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/se-co-nhieu-thay-doi-nhan-su-cap-cao-o
-tong-cong-ty-duong-sat-vn-2014050216413914710ca33.chn
>  nhiều thay đổi nhân
sự cấp cao ở Tổng công ty Đường sắt VN
TPP không tác động
<http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/tpp-khong-tac-dong-tich-cuc-toi-moi-do
anh-nghiep-viet-2014050214282846318ca33.chn
>  tích cực tới mọi doanh nghiệp
Việt

Giải quyết “ Điểm nghẽn” của nền
<http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/giai-quyet--diem-nghen-cua-nen-kinh-te
-201405021417465833ca33.chn
>  kinh tế
TS.Nguyễn Đình Cung, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung
ương (CIEM) đặt câu hỏi: Đột phá về thể chế nghĩa là gì? Tại sao lại khó đến
thế dù chúng ta đều đồng thuận đó là cái cần phải làm?

“Chúng ta cứ nói mà không hành động được”
Tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân với chủ đề “Động lực phát triển mới từ cải
cách thể chế”, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng: Chúng ta đang trong một thể
chế kinh tế mà sự vận động các nguồn lực rất bất thường. Vốn chảy vào khu
vực hiệu quả thấp. Lao động chảy vào khu vực năng suất thấp.
Vốn đang bị khu vực kinh tế Nhà nước thu hút nhiều, trong khi đây lại là khu
vực hiệu quả thấp. Ở nước ta, nhiều chỗ không có giá trị gia tăng nhưng thu
nhập rất cao. Người ta không chú ý đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Rõ ràng
đó là sự phân bố nguồn lực rất sai lệch, méo mó.
Đây không phải lần đầu tiên ông Cung đề cập đến bất cập trên. Tại nhiều diễn
đàn trước đó, ông Nguyễn Đình Cung đã từng nhắc đi nhắc lại nghịch lí này.
“Chúng ta nói cải cách thể chế là đúng, nhưng thế nào là cải cách thể chế
thì không ai bàn, đột phá về thể chế nghĩa là gì cũng không bàn. Cho nên
chúng ta cứ nói mà không hành động được”- ông Cung từng bộc bạch tại một hội
thảo về bẫy thu nhập trung bình.
Vì thế, theo Viện trưởng CIEM, Nhà nước phải dám tạo ra thể chế mà ở đó thị
trường hình thành và vận hành tốt.
TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng: Vấn đề đổi
mới thể chế kinh tế đặt ra từ nhiều năm và hiện nay được xem như “một đột
phá chiến lược” nhưng chưa mang lại kết quả như mong muốn. Vấn đề ở chỗ là
thiếu cách nhìn hệ thống trong mô hình công nghiệp hóa đất nước của Việt
Nam; thiếu một triết lí phát triển rõ ràng để là cơ sở cho việc định hình hệ
thống thể chế phù hợp, mà hệ quả thấy rõ nhất là tuổi thọ luật pháp Việt Nam
trong lĩnh vực kinh tế rất ngắn ngủi.
Trong tham luận tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân, TS. Võ Đại Lược, Trung tâm
nghiên cứu châu Á- Thái Bình Dương đánh giá: Xét cho cùng thể chế xã hội có
vai trò quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Sự khác biệt về trình độ
phát triển trước hết là sự khác biệt về thể chế.

Sự đổi mới tư duy, quan điểm phát triển rút cục phải chuyển thành sự đổi mới
về thể chế mới có ý nghĩa thực tế. Có thể có những cách hiểu khác nhau về
thể chế, nhưng có những điểm chung đó là: Hệ thống luật pháp, bộ máy quản
trị nhà nước, phương thức quản trị điều hành của Nhà nước.

Cơ hội lớn cho cải cách thể chế
Trong tham luận gửi Diễn đàn, TS. Võ Đại Lược cũng cảnh báo: “Việt Nam đang
đối mặt với nhiều thách thức nhưng thách thức lớn nhất, phức tạp nhất chính
là thách thức về sự bất cập của tư duy phát triển, của hệ quan điểm phát
triển, của thể chế. Nếu không giải quyết vấn đề này một cách phù hợp, đảm
bảo Việt Nam phải tiến cùng thời đại về cả tư duy và hành động, thì nguy cơ
tụt hậu xa hơn là điều khó tránh khỏi”.

TS. Trần Du Lịch cho rằng: Cải cách thể chế, có bước đi phù hợp, nhưng phải
đặt trong mối quan hệ hệ thống, việc làm trước phải mở đường cho việc làm
sau, chứ không tạo ra xung đột pháp lí và mâu thuẫn chính sách. Vấn đề ưu
tiên và bức xúc hiện nay trong cải cách thể chế là “cải cách triệt để tài
chính công và hành chính công”. Nếu không làm triệt để vấn đề này, thì mọi
cải cải cách khác đều không mang lại hiệu quả. Trên cơ sở Hiến pháp hiện
hành, hoàn toàn có thể tiến hành cải cách triệt để hai lĩnh vực cốt tử nêu
trên.
Theo quyền Viện trưởng CIEM, hiện nay chúng ta đang đứng trước một cơ hội
rất lớn để cải cách thể chế. Đó là Hiến pháp đã thay đổi, có hàng loạt luật
đang được xây dựng, trong đó có những luật rất quan trọng như Luật Ngân sách
Nhà nước, Luật Đầu tư công... đây là những luật rất căn bản để tạo ra thể
chế kinh tế thị trường. “Tôi đề nghị làm những luật này thật thị trường” –
ông Cung nhấn mạnh.
Theo Lương Bằng
Báo Hải Quan