Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ-Giải trí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ-Giải trí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

CHỊ GÁI TÔI

Văn nghệ Chủ nhật 
* Truyện ngắn - PHAN NGỌC HẢI
 Trân trối nhìn người phụ nữ đối diện, không còn gì để lầm lẫn nữa. Tôi  vụt bước tới cầm lấy tay chị, nói như hét:
-   Kìa, chị Gái. Chị Gái của em đây mà!
Người phụ nữ cứ nhìn tôi đăm đăm từ đầu đến chân, rồi bất ngờ rút nhẹ bàn tay, miết lên vết sẹo dài nơi trán tôi. Giọng chị run run đầy kinh ngạc:
-   Trời ơi! Vĩnh, Vĩnh đây sao? Vĩnh của chị…
            Hai giọt nước vỡ òa từ khóe mắt, lăn dài trên đôi gò má lấm tấm tàn nhang, chị tiếp:
-  Đã hơn ba mươi năm còn gì hở Vĩnh?
Tôi cắn chặt môi, cố dằn cơn xúc động.
Phải, hơn ba mươi năm trôi qua trong xa cách, mặc dù đôi lúc nhớ thương chị đến cháy lòng, nhưng tôi chưa một lần hình dung được rằng sẽ có một ngày chị em tôi hạnh ngộ trong hoàn cảnh như thế này. Chị tôi - một nhân vật "thời sự” mà địa phương đang phát huy. Còn tôi, một người viết tự do, đang đi tìm tư liệu.
Chị em tôi cứ tay trong tay bổi hổi, mặc cho bao cặp mắt của những người giới thiệu chị, tò mò dò xét. Mặc cho bao công nhân đang thao tác, phải dừng tay nhìn nhau ngỡ ngàng…
                                                 *   *   *
     Gái – cái tên mà bà ngoại tôi và cả gia đình đã thân ái đặt cho chị từ hồi còn bé. Thật ra, chị có cái tên rất dễ thương: Phan Ngọc Duyên. Cũng như cái tên, chị tôi không đẹp, nhưng có duyên hết biết. Đôi mắt to, đen thăm thẳm nép dưới rèm mi dài và rậm, trông lúc nào cũng ướt át, thu hút hồn người. Có lần bà ngoại bảo với mẹ tôi: "Đôi mắt con Gái đẹp mà buồn quá, tao sợ sau này nó khổ về đường duyên phận…”. Tuy làn da chị tôi rám nắng nâu dòn, nhưng bù lại chị sỡ hữu khuôn mặt trái soan, sống mũi thẳng, trông rất thanh tú. Nét duyên nhất ở chị là đôi lúm đồng tiền lún sâu bên khóe miệng, làm nụ cười tươi tắn hẳn.                  
    Năm sáu mươi lăm, trong một vụ tai nạn xe cộ, không may cậu mợ tôi và đứa con trai lớn qua đời, để lại chị - cô con gái mới tròn bảy tuổi, sớm chịu cảnh cút côi. Dạo ấy cậu Út đã vào cứ, nên chị về sống và lớn lên bên bà. Nội của chị, tức là Ngọai của tôi.
                                        *  *  *
 Ngày trước, tuy là gái thôn quê, nhưng mẹ tôi được ông bà ngoại cho ăn học đàng hoàng. Sau khi ông Ngoại chết, mẹ lên Sài gòn học tiếp ban tú tài. Ở đấy ba mẹ tôi gặp, yêu và cưới nhau.  Hai người cùng nghề giáo, tôi ra đời, nghiễm nhiên là đứa trẻ thành phố.
Mỗi dịp hè, để thay đổi không khí, ba mẹ thường gởi tôi về quê Ngoại, đó là một cù lao nhỏ bên giòng Cửa Tiểu. Chính vùng quê nghèo này, tôi đã cơi giữ được những tháng ngày ấu thơ tràn đầy kĩ niệm bên cạnh chị Gái.
Dù là vai em nhưng tôi lớn hơn chị Gái một tuổi, thế mà chị tỏ ra khôn ngoan, giỏi giắn hơn tôi nhiều. Mới lên mười, chị biết giúp bà sàng gạo, nấu cơm, phơi củi rồi giặt giũ cho tôi. Chị làm việc như một người lớn.
Tuy vất vã nhưng chị tôi chưa đánh mất tuổi hồn nhiên. Đồ chơi của chị em tôi là những bông mướp vàng, những chùm mồng tơi tim tím, những chú chuồn chuồn kim màu đỏ rực…
    Khi những trận mưa rào tháng sáu ập xuống mát trời mát đất, thằng bé thành phố trắng trẻo là tôi, cũng biết xách thùng lon ton chạy theo chị Gái ra rẫy bắt còng bắt ốc, chiều về ghé bờ sông hái đọt gừa đọt choại để bà nấu canh rau. Rồi những trưa nắng gắt, chị rủ tôi trốn ngủ, lấy dây cước nhỏ thắt vòng , ra mé sông  giật cá thòi lòi, cá bống.
Và cũng chính trên quê hương nghèo này, tâm hồn tôi được tắm đẫm trong những câu hát ru, những bài ca dao dịu ấm…Những lúc bên cánh võng, tôi và chị Gái ngồi tỉ mẩn tìm nhổ từng sợi tóc sâu cho bà, bà thường khắc họa vào tâm trí chị em tôi những hình ảnh của cô Tấm, cô Cám, An Tiêm, Thạch Sanh – Lý Thông…Bà dạy cho chúng tôi biết phân biệt những điều thiện ác; những chuyện đúng, sai … để sống ở đời. Ơi, không hiểu sao giây phút ấy, tôi bắt gặp trong đáy  mắt thẳm sâu của chị Gái – những sợi khói buồn lan tỏa.
Mỗi năm, khi học kì "hai” sắp kết thúc, ngồi trong lớp học nhìn ra cửa sổ, nhác thấy những búp Phượng trổ sớm như đốm lửa trong sân trường, tôi lại nôn nao chờ đợi một mùa hè mới.
Tôi về quê, thường mang tặng chị Gái lắm truyện sách Tuổi Thơ. Có khi chị em tôi ngồi với nhau cả buổi, tôi kể lại từng nhân vật trong những tác hay mà mình đã đọc, hoặc bình những đoạn Văn  của mấy tác giả nổi tiếng… Chị vẫn vui vẻ tiếp thu, nhưng tâm hồn tôi ấp ủ mộng văn chương bao nhiêu, thì chị Gái tỏ ra có năng khiếu về Toán bấy nhiêu.
 "Sau này là nhà văn, Vĩnh có viết về quê Bà, Vĩnh có viết về chị không?  Còn chị thích làm cô giáo dạy học trò…”. Tôi rưng rưng xúc động trước mơ ước hiền hòa, bình dị như bãi lúa, như dòng sông quê Ngoại… của chị Gái tôi.                
       Mùa hè năm bảy hai, tôi về thì lưng ngoại đã còng nhiều hơn năm trước, bà đi lại chậm chạp. Chị Gái bây giờ không những gánh vác việc gia đình, mà còn chăm sóc cho bà tôi nữa.
       Một buổi trưa, tôi ngồi vắt vẻo trên nhánh sung thấp de ra mương, nhìn những chú chuồn chuồn kim chao lượn bên bè rau ngỗ trôi dập dềnh, nghe tiếng gió chạy đuổi nhau trên khóm dừa nước lao xao. Chị Gái mải miết giặt đồ trên cây cầu gỗ dưới tán sung. Đôi mắt vốn buồn của chị càng buồn hơn, khi chị ngước nhìn tôi:
-    Vĩnh ơi! Tựu trường này chị vào lớp chín, nhưng năm nay bà già yếu rồi… chắc chị thôi học.
      Chị thôi học ư? Tôi nghĩ đến ngày chị tôi thôi học, sẽ thiếu vắng bạn bè, thầy cô. Rồi chị tôi cứ phải quẩn quanh trong khu vườn nhỏ bé với bếp núc, heo gà… Trái tim non nớt của tôi như có bàn tay ai bóp mạnh. Tôi hốt hoảng, ngơ ngác:
-   Đừng nghỉ học chị ơi! Nghỉ học buồn lắm. Rồi còn giấc mơ làm cô giáo dạy học trò nữa. Nhất định giấc mơ ấy phải trở thành hiện thực , chị nha.
Giọng chị rưng rưng:
-   Nhưng ba má chị chết cả rồi.
Ơi, giọng nói của chị nghe hiền làm sao?! lúc ấy tôi thương chị Gái biết chừng nào. Thương đến phát khóc.
Tôi vẫn tiếp tục những ngày hè hiếm hoi bên bà, bên chị Gái. Tôi luôn được bà và chị cưng chiều, chăm sóc thật chu đáo. Nhưng tâm hồn tôi, tự lúc nào len lõi nỗi buồn mênh mang… Có lẽ từ buổi trưa, nghe chị Gái báo tin sẽ thôi học?..
        Lại một buổi trưa.
Sau giấc ngủ ngon lành, tôi choàng dậy dụi mắt nhìn quanh chẳng thấy chị Gái đâu.  Định chạy đi hỏi bà, tôi chợt nghe tiếng dầm khua nước ngoài mương. Thì ra trong lúc tôi ngủ, chị Gái bơi xuồng ra sông, len lách tìm dừa nước, đốn về đãi tôi.
Nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt đỏ hồng, lúc chị khệ nệ bê quày dừa nước từ dưới xuồng lên, tôi thấy chị giống như cô Tấm dịu hiền mà bà tôi thường kể.
Hai chị em vừa lúi húi bổ những trái dừa màu nâu, vừa nói chuyện rơm rã. Trong lúc chị thẳng tay giơ dao định bổ một phát xuống trái dừa đang kê sẵn, rủi ro lưỡi dao rời khỏi cán, bay vút sướt qua trán tôi, tạo vết dài. Tuy vết thương không sâu nhưng máu ra nhiều lắm, máu thấm ướt cả vạt áo trắng học trò của tôi đang mặc. Bà tôi cuốn quít, còn chị Gái sợ hãi, mặt mày tím tái, không khóc được. May nhờ có anh hàng xóm chạy sang rửa ráy và băng bó vết thương cho tôi. Bấy giờ chị Gái tôi mới khóc, khóc nức nở. Anh hàng xóm nhìn chị thiết tha, an ủi. Tôi ngước lên, bắt gặp trong đôi mắt sáng, đẹp của anh ấy: Hình ảnh chị Gái tôi ngự trị thật tròn đầy.
    Lần trở về thành phố năm đó, chị Gái bơi xuồng đưa tôi qua sông và xách va-li tiễn tôi ra tận thị trấn. Trên đương đi, hai chị em không vui đùa, cười giỡn như những bận trước.
Khi chiếc xe bắt đầu chuyển bánh, chị Gái chồm lên cầm chặt bàn tay tôi, vẫn đôi mắt u buồn và giọng nói đứt quãng:
-   Hè năm sau…. nhớ về nữa nghe… Vĩnh. Chị ch..ờ..
Tôi im lặng giấu niềm thổn thức, xiết chặt bàn tay chị và gật đầu lia lịa.
     Nhưng rồi chiến tranh càng lan rộng và ác liệt. Tân Thới ngày đêm phải gồng lưng gánh chịu bao nhiêu bom đạn… Ba mẹ tôi quyết định không cho đứa con trai duy nhất của mình về nghỉ hè quê ngoại nữa.
Cánh cửa tuổi thơ của tôi cũng khép lại từ mùa hè năm ấy.
Hai năm sau được tin Ngoại qua đời, chỉ một mình mẹ tôi về thọ tang. Những mùa hè kế tiếp, sống quẩn quanh nơi thành phố, tôi nhớ chị Gái vô cùng.
                                                 *   *   *
     Tôi học dỡ dang năm thứ nhất Văn khoa thì Hòa Bình. Mấy tháng sau tôi bận lao vào công tác Học đường, mẹ tôi về thăm quê Ngoại. khi quay lên, mẹ mang theo tin:
Cậu Út đã về. Cậu lấy vợ, hai người làm việc tại huyện nhà. Cậu mợ Út giới thiệu và gã chị Gái cho một người bạn quen hồi trong cứ. Lễ cưới "thời đại” chỉ tổ chức đơn sơ…
Tôi bâng khuâng: Chị tôi phải bỏ vùng cù lao yêu dấu, sang sông về quê chồng ở miệt đồng xa lắc. Chị tôi ra đi, còn gửi lại mối tình đầu ở miền quê sông nước.
    Cuối năm bảy mươi sáu, trước khi tình nguyện đi TNXP, tôi có về Tân Thới giỗ Bà. Lần ấy, tôi không ngờ gặp lại một chị Gái tàn tạ đến xót xa. Tôi hoang mang tự hỏi: đâu rồi chị Gái của tôi ngày nào hồn nhiên, sáng trong như giọt nước? Đứng trước tôi bây giờ là một phụ nữ tuổi chưa tròn mười chín, mà hốc hác, tiều tụy, tay bồng con thơ khóc ặc ẹo… ngỡ ngoài ba mươi. Đâu rồi đôi giếng mắt ẩm ướt dưới hàng mi rậm, luôn nhìn xa xôi như thu hồn thiên hạ? Lúc này chỉ còn lại ở chị Gái, đôi hốc mắt khô khốc đến lạc thần. Có lẽ ngày tháng qua chị tôi đã khóc, khóc trong âm thầm, khóc đến nguồn nước mắt đã cạn?  Càng nhìn chị, tim tôi càng đau thắt.                 
    Chị Gái bơ phờ cho biết: anh rễ tôi đang phụ trách xã Đoàn, anh đã bỏ nhà, quan hệ với một nữ thanh niên. Mỗi lần về, anh khảo tra tiền bạc và hành hạ mẹ con chị rất tàn tệ…
Bất giác tôi nghĩ thầm – Không hiểu trong lúc đau khổ thế này, chị tôi có nuối tiếc lại mối tình đầu tươi đẹp ngày nào và có oán trách cậu Út không? Rồi nếu biết hoàn cảnh truân chuyên của chị Gái hiện tại, không hiểu anh láng giềng ngày trước từng yêu chị tôi, có hát giùm:
"Bướm vàng đậu nhánh mù u,
Lấy chồng sớm quá… lời ru thêm buồn..”
                                  *   *   *
     Trải qua mấy năm TNXP, chàng thanh niên thành phố ốm yếu đã mất hẳn trong tôi. Những ngày nắng lửa, cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đầy khốc liệt, đã để lại đôi vai tôi những vết chai sần vì cáng thương tải đạn. Bàn chân tôi đã tứa máu sưng vù trong rừng Le, rừng Khộp của miền Đông. Giọt mồ hôi tôi đã hòa cùng những cơn mưa ào ạt trên nông trường Lê Minh Xuân, An Phú…
    Cùng đồng đội bước qua những gian khổ, nhưng vẫn có những đêm một mình ngắm sao bên bờ suối vắng, hoặc những chiều bấm đàn bên dòng kênh mới đào trên cánh đồng bao la… tôi bỗng bâng khuâng nhớ về quê ngoại lạ lùng. Tôi nhớ cù lao Tân Thới, nơi gắn liền hình ảnh chị Gái và một thời tuổi thơ của tôi thật êm đềm. Nhưng hình ảnh chị Gái cộm lên trong trí tôi lúc ấy không còn ngây thơ tươi tắn nữa, nó rúm ró đau thương như nét mặt chị Gái mà tôi đã gặp hôm giỗ Bà.
Tôi đâm lo: "Không hiểu bây giờ ông anh rễ đa tình kia có hồi tâm, trở về với mái ấm gia đình cùng vợ con chưa?”.  Tôi sợ thời gian và nỗi buồn gậm nhấm, sẽ giết chết đời chị tôi khi tuổi còn xuân sắc.
Tôi lại mơ một chuyến về quê thăm chị. Vậy mà vừa rời áo TNXP, tôi chuyển hẳn sang Bộ đội. Mãi đến năm tám mươi chín, tôi trở về thành phố khi Bộ đội Việt nam đã hoàn thành nghĩa vụ Quốc tế trên đất bạn Kampuchia.
    Tôi nhất định năm đó sẽ về Tân thới giỗ bà, dịp ấy chắc chắn sẽ gặp lại chị Gái; nhưng mẹ tôi cho biết: cách nay hai năm cậu Út đã qua đời sau một cơn bạo bệnh, không bao lâu mợ Út đi thêm bước nữa, nên mẹ mới rước bà về Thành phố giỗ. Tôi nghĩ và thương chị Gái vô cùng. Chưa kịp làm một chuyến viễn du thăm chị, thì tôi có giấy báo gọi vào trường Đại Học.              
Ra trường tôi cưới vợ, một cô giáo ngoại thành. Rồi ba tôi mất. Bấy giờ tôi là thằng đàn ông trụ cột của gia đình, phải đương đầu với bao lo toan: cơm, áo, gạo, tiền…Lo cho mẹ già, cho vợ và cho cả hai đứa con đang tuổi ăn tuổi học…Đôi lúc tôi cảm thấy chóng mặt trước cơ chế thị trường… dần dần, hình ảnh quê Ngoại và chị Gái đã lu mờ trong tôi.
                                        *   *   *
     Tháp tùng phái đoàn của một doanh nghiệp về khánh thành khu du lịch tại Gò Công, trong lúc trà dư tửu hậu, tôi "đánh hơi” vùng bên có mô hình "Xóa đói giảm nghèo” làm ăn rất khá, địa phương rất quan tâm, muốn lấy đó làm điển hình để nhân rộng.
 Đáp ứng yêu cầu của tôi, anh Hào –cán bộ Ủy ban huyện gọi điện liên hệ với Xí nghiệp may thêu ‘Nắng Sớm’. Trước khi tôi tìm đến Xí nghiệp, anh Hào, bỏ nhỏ:
-   Đây là mô hình xóa đói giảm nghèo làm ăn rất ổn định và tương đối nổi bật nhất trong huyện. Bằng nghiệp vụ của mình, anh khéo mà khai thác. Tuy rất vui vẻ cởi mở với đối tác cũng như với công nhân trong xí ngiệp, nhưng khi tiếp xúc nhà báo lại không thích  nói về mình, đó là đặc điểm của vị nữ Giám đốc này.
      Tôi vốn sợ những cá nhân nói về mình hay đơn vị bằng những bảng báo cáo thành tích, bởi nó tròn trĩnh và khô khan làm sao. Tôi thích tiếp xúc và tìm hiểu họ qua những câu chuyện gần như tâm tình, ở đó mới bật lên những ngỏ ngách, những suy nghĩ riêng tư… Thế nên thoạt nghe anh Hào nói, tôi bỗng có cảm tình ngay với vị nữ Giám Đốc mà tôi sắp gặp. Tôi tin vào khả năng mình, sẽ hoàn thành được bài Phóng sự như ý sau chuyến đi…  nhưng điều tôi không thể ngờ được – người tôi cần gặp – lại chính là chị Gái của tôi.
      Tất cả … vừa xảy ra, đối với tôi như một chuyện cổ tích.  
Đưa tôi sang phòng làm việc của mình, chị Gái vồn vả:
-    Vĩnh cứ ngồi nghỉ một lát, chị sẽ dẫn Vĩnh về nhà nấu cơm, chưng mắm đồng đãi Vĩnh ăn như ngày nào Bà và chị đã đãi Vĩnh vậy.
Tôi quên sao được, những bữa cơm ăn rau đắng luộc với khúc mắm đồng chưng tớp mỡ, tiêu, hành, ngọt lịm…. Nhớ hình ảnh bà và chị Gái luôn gắp để vào chén tôi những miếng mắm thơm và ngon nhất, khiến nước bọt tôi ứa ra đầu lưỡi….
     Tôi ngồi quan sát nơi chị Gái làm việc. Căn phòng tuy nhỏ, đơn sơ mà sạch sẽ, thoáng mát. Tôi ngắm chị không chớp mắt và nỗi ngạc nhiên đong đầy trong tôi.
Chị Gái hôm nay tuổi ngoài năm mươi, thân hình đầy đặn của người phụ nữ viên mãn. Đôi mắt tuy mệt mõi nhưng vẫn còn đen dưới hàng mi rậm. Hai má lấm tấm tàn nhang, song đôi lúm đồng tiền mãi là duyên của chị.
Phép màu nào đã biến một chị Gái hom hem tiều tụy, đôi mắt lạc thần của hơn ba mươi năm trước, trở thành chị Gái hôm nay đường bệ trên chiếc ghế Giám đốc của một Xí nghiệp?
Dòng suy nghĩ đang miên man trong tôi, bất giác chị Gái thở dài, hỏi:
-   Dượng bệnh thế nào và lâu mau mà qua đời vậy Vĩnh?
-   Dạ, Ba em bị xơ gan trong thời gian em học ở Hà Nội. Hơn một năm thì Ba em mất.
-   Vĩnh với cô có thường về quê Ngoại không?
-   Sau ngày cậu Út qua đời, mẹ em rước bà về trên ấy giỗ. Mà nghĩ lại, mợ Út cũng tệ thật.  Cậu mới mất chưa đầy năm, mợ đã đưa chồng mới về ở nhà, nên mẹ em buồn…
     Đôi mắt vốn buồn của chị Gái bỗng long lên tia giận dữ:
-   Chị phải đi lấy chồng tức tửi và cuộc đời hơn mười năm khổ hận… cũng vì thiếm Út đó.
Tôi ngạc nhiên đến sững sờ. Bàn tay chị Gái cầm tách nước run run. Tôi hỏi chị Gái bằng mắt, bằng cả sự im lặng. Chị cười nhạt:
-    Hôn nhân là việc hệ trọng cả đời. Chị làm sao lấy được một người xa lạ không yêu thương, trong khi……
Đang nói, chợt chị Gái thở dài như nén cơn xúc động, rồi tiếp:
-    Thiếm Út sợ chị còn ở lại cái nhà ấy lúc nào, là chị hưởng cái gia tài của Bà để lại lúc ấy, nên ngày đêm thiếm đốc xúi chú Út gã chị. Nhưng thôi…
Chị Gái mím môi như muốn xóa đi một phút lỡ lời vì nỗi buồn dĩ vãng, bởi chị tôi chưa quên thời con gái của mình bị chôn vùi trong đau khổ. Chị vội trở lại ngay bản tính cố hữu của người đàn bà Việt Nam hiền thục, chịu đựng và sẵn sàng tha thứ. Chị nói tiếp:
-    Nhưng thôi, mỗi người đều có số phận Vĩnh à!
Số phận ư? Số phận gì mà cay nghiệt vậy? đã đày đọa chị - nghười phụ nữ hiền lành trong ngần ấy năm chịu đau khổ… Tôi hơi bực dọc:
-    Rồi hai người bỏ nhau bằng cách nào, anh ấy li dị chị à?
Chị Gái buồn bã, lắc đầu:
-    Con người ta khi muốn hướng thiện, muốn vươn lên thì rất khó, có khi phấn đấu cả đời vẫn chưa tới đích. Còn đã lỡ sa chân rồi, không khéo giữ, chỉ trong nháy mắt sẽ rơi xuống vực thẳm. Trường hợp của anh Khải là vậy. bao lần cơ quan đoàn thể kiểm điểm xây dựng, chẳng những anh không hồi tâm, mà còn từ lỗi lầm này đẩy đến lỗi lầm khác. Cuối cùng từ một Đảng viên từng gan lì trong những năm chiến tranh gian khổ khốc liệt, để trở thành một kẻ đớn hèn, chối bỏ quê hương… chui rút, chạy trốn ra nước ngoài nương  náu…
-    Còn cháu bé em đã gặp chị bế hồi giỗ bà?
Khuôn mặt chị Gái sáng lên:
-     À, cháu là Huệ Liên, năm nay ngoài ba mươi rồi. nếu chịu lấy chồng như người ta, thì bây giờ đã con bế con bồng.
Tôi nói với chị mà như nói với chính mình:
-     Nhanh, thời gian nhanh thật. Rồi bây giờ cháu làm gì hở chị?
-     Ôi, những năm tuổi thơ sống với mẹ quá khổ, nên lớn lên cháu chăm học lắm. Tốt nghiệp Đại học kinh tế, ra trừơng vừa làm việc ở một công ty trên thành phố, vừa học Cao học. Giờ cháu đang đi nghiên cứu sinh Tiến sĩ ở Bỉ mới hơn một năm.
Tôi không giấu được niềm vui:
-     Bây giờ chị Gái của em là người hạnh phúc nhất rồi.
Đang vui, chị Gái chợt ngưng cười:
-     Chị sống bằng niềm tin và súc lực của chính mình. Chị thường dạy cháu Liên như vậy.
       Nhìn chị Gái, đắn đo một lúc, tôi hỏi:
-     Còn chuyện này, em muốn chị trả lời thật nhé: Anh hàng xóm ngày xưa… yêu chị, bây giờ ra sao, gia thất có đề huề?
       Chị Gái nhíu mày như suy nghĩ sau câu hỏi của tôi. Chợt chị cười, nụ cười buồn hơn nước mắt:
-     À, em muốn hỏi anh Thiện, người chạy sang băng giúp vết thương cho em dạo ấy?
       Tôi gật đầu, chị nói tiếp:
-     Lúc đó anh Thiện học ngoài thị xã, cũng về quê nghỉ hè như em. Rồi đang học năm nhất Đại học Nông Nghiệp tại Cần Thơ, nghe tin chị sắp lấy chồng, anh vội về. Hôm đó chị mượn cớ đi xay lúa, anh Thiện bơi xuồng đưa chị ra vàm, trông  anh buồn đến thẩn thờ. Sự bất lực của hai đứa, cứ kéo dài bằng thời gian im lặng. Cuối cùng như tìm ra lối thóat, anh bảo: " Để anh đưa ba má sang nhà thưa chú thiếm Út, tụi mình cưới nhau em nha!”. Nhưng Vĩnh biết rồi đó, một lời hứa của chú thiếm Út với người khác, là đời chị xem như ván đã đóng thuyền.
         Chị về quê chồng được vài tháng, lại hay tin: anh Thiện "bỏ Đời theo Đạo”. Anh đã xuất gia. Giờ anh là một Đại Đức, nghe đâu đang trụ ở ngôi chùa nào đó ngoài Vũng Tàu….
        Chị Gái vẫn cười. Nhìn nụ cười của chị, tôi thấy tím cả tim gan. Tôi hiểu, trong lòng chị - những tình cảm ngọt ngào ngày xưa chưa thể mất, nhưng trứơc mắt:  Đạo – Đời, đã hai lối rẽ.
        Tôi sợ càng đào sâu quá khứ, càng chất thêm nỗi buồn trong lòng chị Gái, nên trở lại hiện tại, tôi hỏi:
-     Chị Gái à, rồi từ một tuổi trẻ đau khổ là vậy, chị phải bắt đầu như thế nào để ngày nay ngồi đỉnh đạc trên chiếc ghế Giám Đốc?
-    Chà, lại giở ngón nghề ra với chị phải không?
        Chị Gái đứng dậy, cười giòn:
-    Này, em hãy gọi điện về báo cho cô và gia đình yên tâm, rồi đèo chị ra chợ mua thức ăn, không khéo chợ tan đó. Còn chuyện ấy, nhất định chị sẽ trả lời Vĩnh sau bữa cơm, với tư cách người được phỏng vấn. Thôi, đi em.
      Chị Gái cầm chìa khóa xe. Tôi bước theo chị giữa hàng trăm chiếc máy khâu đang thao tác. Tiếng máy khâu, tiếng dập khuy, tiếng máy cắt … tạo thành một hợp âm rất vui tai. Giống như ngày nào dưới cơn mưa tháng sáu mát trời mát đất - thằng bé thành phố trắng trẻo ốm yếu - là tôi, xách thùng lon ton chạy theo chị đi rẫy bắt còng, bắt ốc
PNH

 
-------------

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

NHÂN CHUYỆN NGƯỜI LÍNH BUỒN TRONG THƠ VĂN LÊ

 

             * TRẦN MẠNH HẢO 
Trước và sau tiểu thuyết nổi tiếng: “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh, văn học dòng chính thống của chế độ đương thời, chừng như chưa có tác phẩm nào dám dựng chân dung buồn đau tới tận cùng của người lính chiến ?
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, câu thơ của Phạm Tiến Duật có thể đại diện cho hình ảnh người lính chiến đi vào chỗ chết trong văn học mà vui như tết, mà vỗ tay vỗ chân hát hò mê sảng hơn trúng số ! Cho nên, Tố Hữu – ông trùm của thi ca cách mạng mới khẳng định tính chất sắt đá đến phi nhân của đảng cầm quyền, một đảng không biết hỉ nộ ái ố, không có trái tim như sau : “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt/ Đảng ta đây xương sắt da đồng” 
Rất lạ, năm 2013, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân đã cho xuất bản tập thơ “Vé trở về” của nhà thơ, nhà văn, nhà biên kịch điện ảnh, đạo diễn Văn Lê với hình ảnh người lính buồn từ A tới Z.
Người lính của thơ Văn Lê khác một trời một vực với người lính của Phạm Tiến Duật, khi anh được giấy gọi đi bộ đội vào miền Nam chiến đấu :
“Anh nhìn con dấu đỏ tươi trên lệnh động binh
Lòng trống vắng như vòm trời không đáy
Cánh đồng ngơ ngẩn buồn
Anh cũng ngơ ngẩn buồn trong váng nắng chiều sót lại”
Quê hương người lính không phải là thiên đường xã hội chủ nghĩa như tuyên truyền, mà là một cảnh loạn lạc, bi ai, tráo trở, buồn thương của đám tang cha mẹ: 
“Rắn rết trong hang bò ra đầy ngõ
Náo loạn làng quê chó sủa
Náo loạn bầu trời vẩn vũ chim bay
Cuộc trở mình của tự nhiên diễn ra giữa ban ngày
Mọi trật tự bỗng nhiên gãy đổ
Sông suối thay lòng đổi dạ
Cuộc đưa ma tại làng quê nhức nhối tiếng gọi hồn”
Người lính trong thơ Văn Lê ra trận trong nỗi buồn sầu thảm :
“Đồng chiều ngơ ngẩn buồn
Anh ngơ ngẩn buồn bước về quá khứ
Ở đâu đó giữa hoang vu chợt cất lên tiếng thánh ca âm u khổ sở
Âm u khổ sở tiếng thánh ca của muôn loài sinh vật tiễn đưa anh…”.
Hãy nhìn hình ảnh người em gái cô đơn tiễn anh ra trận qua chữ nghĩa Văn Lê :
‘Em gái anh
Dáng như bà già
Khoác chiếc áo tơi mỏng manh như món  đồ dễ vỡ
Nó đứng chờ anh ở ngay đầu ngõ
Miệng cười lóe vệt trăng non”
Và người lính ấy mang nỗi buồn vô tận vào cuộc chiến để chết buồn như chiếc lá :
“Câu chuyện về người lính hy sinh buồn như lá thu bay”
Các anh đã chết cho cái gì vậy :
“Những năm chiến tranh đất nước gieo neo
Giấy báo tử về làng như lá rụng
Khủng khiếp nhất là phải làm người sống
Sáng mở mắt ra đã nơm nớp trong lòng”
Hãy đọc tiếp niềm đau buồn của thơ Văn Lê khi anh tả nỗi buồn cô đơn của cô em gái – người thân duy nhất còn sót lại của người tử sĩ buồn :
“Ngày anh trai hi sinh bến nước bơ vơ
Cô chẳng còn ai mà chờ đợi nữa
Mọi trật tự trong cô sụp đổ
Cô lang thang cuối đất cùng trời
Xác xơ như bà lão ăn mày
Vô cảm như người điên ngoài chợ”
Cô gái đi tìm người anh đã chết trận như một người điên, trên quê hương điên, với những lý tưởng viển vông điên dại ai mang đến lừa mị quê hương :
“Những hi vọng tìm anh sau chiến tranh
Tràn ngập trong cô như nước mùa tháng tám
Xé lòng cô như cánh đồng gặp hạn
Ăn mòn cô như nắng lột da người”
Những người lính sinh Bắc tử Nam, chiến đấu để giải phóng nhân dân, để xây thiên đường xã hội chủ nghĩa ư ? Hãy nhìn đáp số cuộc chiến tranh chết hàng chục triệu người qua thơ Văn Lê viết về nỗi buồn lính :
“Quê anh bây giờ lôm nhôm lam nham
Anh ngắm nhìn mà thương con mắt
Những bức tường đá xanh biến mất
Nhường chỗ cho những ngôi nhà mái bằng nép sát vào nhau
Cao thấp nhấp nhô như người bị chắt đầu
Chẳng tìm đâu ra những mái nhà đội nón
Cuộc sống dường như đảo lộn
Chẳng còn ai vướng bận đến quá khứ xa xưa
Có lẽ vậy nên làng anh bây giờ
Cuộc sống mất đi cái hồn cái vía…”
Chao ôi, hàng triệu người lính đã chết trận để sau ngót bốn mươi năm, quê hương ta chỉ còn là cái xác không hồn ? Những câu thơ Văn Lê bình dị, lắng đọng, sâu xa mà như một lời lên án bọn đầu nậu chiến tranh đã dùng máu mấy triệu người để làm cuộc buôn lớn có tên là cách mạng. Hãy nhìn xã hội tham nhũng vô phương cứu chữa, kẻ cầm quyền giàu có hóa thành tư bản để vô sản hóa nhân dân, tiếp tục cho nhân dân ăn bả lừa thiên đường thiên điếc. Nhà thơ quân đội, nhà văn cách mạng, nhà biên kịch đạo diễn có hạng Văn Lê đã vượt lên trước đội hình nhà văn lề phải để lý giải, để thúc giục nhân dân tỉnh ra sau khi bị ăn bả cách mạng thành ngớ ngẩn, thành mất trí :
“LÀNG QUÊ U U MÊ MÊ
NGƯỜI TA NHƯ ĂN CHÁO LÚ”
Cám ơn thi sĩ Văn Lê đã gọi sự vật bằng tên của nó, khi ông đanh thép tố cáo “trò lừa lý tưởng” cho dân ăn cháo lú của những ông lú cầm quyền :
  “ Họ ( nhân dânchú của TMH) lao ra bến sông bãi chợ
Giành giật miếng ăn của nhau
Chợ quê tràn ngập đồ Tàu
Chẳng thiếu thứ gì, ngoại trừ đồ thật !”
Thật đau thương cho mợt nhân dân sau khi đã cống hiến hàng triệu con em làm vật hiến tế hi sinh cho các cuộc chiến vì lợi ích ngoại bang như lời cố tổng bí thư Lê Duẩn từng nói : “ Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”, như lời thơ Tố Hữu : “ Ta vì ta ba chục triệu người / Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”…lại được trả công bằng hàng giả cả từ tinh thần đến vật chất  thế này ư ?
Văn Lê lý giải hiện tượng làng anh tha hóa, mất hết hồn dân tộc, đang tan tác như đám gà gặp cáo chỉ vì thờ sai thần, vào nhầm miếu :
“CÓ NGƯỜI BẢO DÂN LÀNG ANH NHƯ THẾ
ĐÃ VÀO NHẦM MIẾU LẠI CÚNG NHẦM THẦN”
Đọc đến đây, ai là người còn tấm lòng với đất nước đều hiểu nhà thơ Văn Lê không chỉ nói làng anh, mà nói dân tộc anh đã thờ nhầm thần Marx –Lenin, đã vào nhầm miếu cộng sản nên đất nước mới thành ra tan nát thế !
Một tập thơ tâm huyết thế này, trung thực và xúc động dám nói thẳng nói thật tận tâm can như thế này, lại được một nhà xuất bản lề phải Quân Đội Nhân Dân cho in, liệu có phải là tin mừng hay không ?
Viết đến đây, chúng tôi xin kể một kỷ niệm với nhà thơ Văn Lê ( anh từng được giải thơ cùng hạng A với Hữu Thỉnh và Anh Ngọc trong cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1975-1976); rằng sau khi thống nhất đất nước, Văn Lê rủ chúng tôi từ Sài Gòn ra Bắc về thăm quê hương ( Hà Nam Ninh) sau ngót mười năm xa vắng. Chia tay Văn Lê ở thị xã Ninh Bình cuối năm 1975, hai đứa chúng tôi vào một quán phở mậu dịch. Bát phở được bưng ra, chúng tôi cầm thìa lên múc phở nhưng thìa chảy hết nước ra ngoài, không thể ăn được. Mọi người bảo hai chú bộ đội từ chiến trường ra à, rằng thìa ở đây đã được cấp ủy duyệt cho cửa hàng phở lấy đinh đục nát thìa ra lỗ chỗ như hố bom để cho nhân dân chúng nó không còn ăn cắp thìa mang về nhà làm của riêng được nữa. Văn Lê ngồi khóc. Anh thương nhân dân quê hương Ninh Bình của mình khổ đến thế để đánh thắng Mỹ mà không ăn nổi bát phở, đành để cho hai ba ông ăn mày giành nhau…Còn tôi kìm xúc cảm, vẫn ăn hết bát phở để chia tay Văn Lê, lấy sức đi bộ về quê Nghĩa Hưng Nam Định…”
Kể chuyện này, có lẽ nhiều người bảo chúng tôi bịa, rằng làm gì có chuyện đó. Vâng, tôi xin lấy danh dự ra mà nói rằng, còn nhiều chuyện kinh thiên động địa hơn chi tiết này rất nhiều nhưng vẫn là sự thật. Bây giờ thì đất nước ta, đảng ta không còn phải đục thìa ra để nhân dân ăn phở thoải mái mà không sợ bị mất như ngày sau cuộc chiến tranh xưa nữa; nhưng những cái thìa tinh thần của dân tộc ta, thì than ôi, đã và đang bị ai đó cùng với các đồng chí bốn tốt 16 chữ vàng đục lỗ chỗ ra hết, có phải không nhà thơ Văn Lê ?
Sài Gòn ngày 30 tháng tư năm 2014
T.M.H.
(Tác giả gửi BVB)
---------------

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Giấy chứng nhận làm người

Câu chuyện tuần 36   Giấy chứng nhận làm người

Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi đi làm thuê.
- Soát vé
Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.
Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc :
- Ðây là vé trẻ em.
Người đàn ông đứng tuổi đỏ bừng mặt, nhỏ nhẹ đáp :
- Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao ?
Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi :
- Anh là người tàn tật ?
- Vâng, tôi là người tàn tật.
- Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.
Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp :
- Tôi… không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em.
Cô soát vé cười gằn :
- Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật ?
Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên
- Anh chỉ còn một nửa bàn chân.
Cô soát vé liếc nhìn, bảo :
- Tôi cần xem chứng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ “Giấy chứng nhận tàn tật”, có đóng con dấu bằng thép của Hội người tàn tật !
Người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt quả dưa đắng, giải thích :
- Tôi không có tờ khai gia đình của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra tai nạn ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định…
Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.
Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật…
Trưởng tàu cũng hỏi :
- Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu ?
Người đàn ông đứng tuổi trả lời anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cho trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình .
Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói :
- Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.
Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có hơn 50 ngàn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc :
- Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.
Trưởng tàu nói kiên quyết :
- Không được.
Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu :
- Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.
Nghĩ một lát, trưởng tàu đồng ý :
- Cũng được.
Một đồng chí lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị trưởng tàu, hỏi :
- Anh có phải đàn ông không ?
Vị trưởng tàu không hiểu, hỏi lại :
- Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không ?
- Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không ?
- Ðương nhiên tôi là đàn ông !
- Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông ?
Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem ?
Mọi người chung quanh cười rộ lên.
Thừ người ra một lát, vị truởng tàu nói :
- Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả ?
Ðồng chí lão thành lắc lắc đầu, nói :
- Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông không phải đàn ông.
Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngay một lúc không biết ứng phó ra sao. Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với đồng chí lão thành :
- Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.
Đồng chí lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng :
- Cô hoàn toàn không phải người ! Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé :
- Ông ăn nói sạch sẽ một chút. Tôi không là người thì là gì ?
Đồng chí lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:
- Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận “người” của cô ra xem nào…
Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.
Chỉ có một người không cười. Ðó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn trân trân vào mọi thứ trước mặt. Không biết tự bao giờ, mắt anh đẫm lệ, không rõ anh tủi thân, xúc động, hay thù hận.
(From Vũ Trọng Khải vutrongkhai041945@gmail.com
------------------

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

CHỒN CÁO LỐT NGƯỜI

Chút hài Thứ Bảy 
- Thất: Tối qua, loa vang khắp xã cái phần tin tức thời sự có cái “tin” nghe mà phát “tức”!
-Tín: Tin gì vậy?
- Thất: Thì nói là bảo đảm thực hiện eé hoạch, kìm hãm được lạm phát, nâng được tốc độ tăng trưởng GDP, rồi chỉ số tiêu dùng CPI giảm, nhất là cái câu quá quen: “Dưới sự lãnh dạo của đảng, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao”…
- Tín: Ô! Thế à? Ba xạo ba que, đểu dze xịt nách như vậy là mất công nghe phải cái tin….tức là phải rồi.
- Thất: Lấy đâu ra mà duy trì tốc độ, rồi đạt kế hoạch tăng trưởng? Tiền giấy đã mất giá, tiền “bố ly mẹ” (polime) càng mất giá hơn.
- Tín: Qua những phơi bày mới đây tại các ngân hàng và so ngoài thị trường, mới thấy thấy tiền thật bị mất giá, nhưng tiền trong báo cáo lại ‘ngày càng có giá trị’, và giật gân nhất là “nền kinh tế đang từng bước phục hồi, ‘lấy lại đựa vị thê giá trị’ Việt Nam đồng”.
- Thất: Thì loanh quanh mấy đồng lèo tèo trong két sách ngân khố quốc gia, nhưng thằng nào cúng kê khai vào, rồi khi thì tung tin là lỗ, lúc lại  báo cáo là lãi…
- Tín:  Ừ,  múa võ tắc ngõ leo rào / Tầm phào Võ Tắc Thiên / Cơn điên Võ Đại Phét… Đúng là điên!
- Thất: Không điên đâu, họ khôn lắm đấy, khôn dối trá, khôn vuốt ve mị dân, không đanh slaanj con đen nhá nhem giáu đútđể tư lợi, Cái khon của cáo già thành tinh. Là cái khôn “thượng đẳng thần.. kinh”. Càng doanh nghiệp Nhà nước càng lừa nhà nước, càng Tập đoàn, Tổng công ty được nhà nước rót vốn  lớn càng trốn thuế rất tự nhiên. Đã “lỗ gian”, trốn thuế siêu hạng lại còn được Nhà nước bảo hộ, trợ giúp, giải quyết “nợ xấu”…càng chết dân. Lấy đâu ra tiền mà tăng trưởng?
- Tín: Thì như thằng cha “có cả cô lạ”  (Coca-Cola) đấy, dù 10 năm không nộp thuế cho nước sở tại nhưng Giám đốc đối ngoại của Coca-Cola lại tuyên bố là "đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam" và thản nhiên cho rằng mình "trong sạch".
- Thất: Tại vì Việt Nam thiếu diễn viên xiếc, phải nhờ chuyên gia Coca-Cola sang diễn xiếc.
- Tín: Nhưng quả là diễn viên đại tài, diễn xiếc mà che hết pháp luật, nhất là Luật Doanh nghiệp, Luật  Thuế, Luật tài chính, Luật Ngân hàng, lại nhiều năm giấu được “bệnh lậu…thuế” thì quả là tài.
- Thất: Năm ngoái, vẫn cái ông Nguyễn Khoa Mỹ, Giám đốc đối ngoại công ty Coca-cola VN lý sự cò quanh rằng: Nguyên nhân là do lạm phát cao, giá nguyên liệu đầu vào tăng, lãi vay tăng và do công ty mới đầu tư vào dây chuyền sản xuất và mạng lưới phân phối…
- Tín: Thì 'vưỡn;, Nguyễn Y Vân mà, trò lý giải quanh co để ôm trọn những khối lợi kếnh xù thì VN ta là nước có nhiều chuyên gia đầu ngành nhất.
-Thất: Nhưng Tổng kết hàng năm, có đủ các Chư vị từ Chính phủ đến Bộ, ngành chủ quản, chuyên trách đủ cả mà vẫn nghe các vị đảo mắt vắt lưỡi tuyên bố sang sảng: “Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước đã đã có thành tích đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế Việt Nam, phát huy được vai trò chủ đạo, làm nòng cốt, quả đấm thép cho sự nghiệp đổi mới” (?!).
- Tín: Thế là báo cáo trung thực, chính xác đẩy!
- Thất: Sao vậy?
- Tín: Thì kinh tế Việt Nam đi xuống, lạm phát gia tăng, đồng tiền mất giá trầm trọng, thế là không những “đóng góp xứng đáng” mà còn “thúc đẩy nhanh hơn” để kéo tụt nền kinh tế xuống dốc không phanh?
- Thất: Ừ, cũng phải!...Tài thật, Tiên sư anh Tào Tháo. Tiên sư bọn lếu láo, lũ chồn cáo lốt người!…
BVB
--------------

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

'Tiếng nói' E.MAIL - 78

Chút thư giãn Chủ Nhật
         * From Tô Văn Trường - To: BVB. - E.Mail TVT tovantruong1948@yahoo.com
Sau gần nửa thế kỷ  
Thế hệ ngày nay thường bảo rằng:
“Cuộc tình dù đúng hay sai; Đứa nào nhớ dai thì đứa ấy khổ”.
Mấy hôm nay cứ ngẩn ngơ, ngậm ngùi về câu chuyện của nhà báo-nhà thơ  Vũ Lương mới tìm được bản gốc của bài thơ  “Em là bông huệ trắng” lưu lạc gần nửa thế kỷ.
Ngẫm suy, lại nhớ đến bài thơ  mình làm cách đây cũng gần nửa thế  kỷ
 AÓ LEN
Nghĩ gió lạnh mùa đông
Em đan anh chiếc áo
Như đan cả tình ta
Theo hai mùa mưa nắng
Áo đan chưa phai mầu
Hai đứa đã xa nhau
Em về đâu nào biết
Thuyền trôi trên biển sầu
Em là một con thuyền
Dạt trôi trên biển rộng
Anh là bến đầu tiên
Che em ngày biển động
Thuyền  em trôi mãi đi
Tìm bến lành em đỗ
Trong lòng anh muôn thuở
Vẫn nhắc tình đôi ta”
Tô Văn Trường    
---------------------------------------------------------------------
On Friday, 14 March 2014, 13:13, luong vu <viphuong3606@gmail.com> wrote:
Kinh gui: Anh Truong
Minh dang o Berlin hai tuan roi nen hom nay moi gui may dong cho Anh va chuyen tiep bai viet da dang tren bao "Nhip cau the gioi" o Hungari de Anh tham khao.
Co gi can thi viet cho minh nhe
Chuc Anh binh an,may man
Vu Luong
Từ: "Thymianka Thảo Nguyên" <ptnguyenka@gmail.com>
Ngày: 14-02-2014 01:17
Chủ đề: EM LÀ HOA HUỆ TRẮNG- MỘT BÀI THƠ LƯU LẠC GẦN NỬA THẾ KỶ.
Tới: <Viphuong3606@gmail.com>
Cc: 
Sáng qua, không hiểu có điều gì xôn xao, mà tôi mua cho mình một bó hoa huệ trắng. Huệ ở trời Tây, là thứ hoa kiêu kỳ phù phiếm vì nó vừa thơm, vừa hiếm, lại mau tàn và cũng không hề rẻ. Tôi ít mua huệ cho riêng mình vì cái mùi thơm của nó thường là nỗi ám ảnh rất sâu. Nhưng nó còn ám ảnh hơn nữa khi chiều nay, Kim Yến, cô bạn thân run run gọi điện, báo tin, bài thơ "Em là hoa huệ trắng" mà tôi và nàng cùng yêu thích bấy lâu nay hóa ra lại là của Vũ Lương, một người bạn, người anh vô cùng gần gũi và thân thiết với chúng tôi.

Thế là cả tối nay, mặc dù rất bận cho ngày lễ của những đôi nhân tình, tôi cũng dán vào cái máy tính, hết chat cho người này lại gọi điện cho người kia, như con thoi để nghe chuyện, hỏi han, ghi chép... Câu chuyện về bài thơ và hành trình 45 năm lưu lạc đầy thú vị và cảm động đến nỗi, tôi biết, cả mấy anh em đêm nay đều rất khó ngủ. Sài gòn thì đã rạng sáng mà Berlin thì cũng đã quá nửa đêm lúc nào không hay.
Tiến sỹ Tô Văn Trường, một cây bút viết phản biện nổi tiếng, nguyên Viên trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, (chuyên gia thân cận  của  Thủ tướng Võ Văn Kiệt) là một người rất yêu thơ. Cách đây nửa năm, anh gửi cho tôi qua mail mấy bài thơ mà anh ấy yêu thích. Trong đó, có bài "Em là...". Nhưng đề tên tác giả là H.Heine
Vừa vui, vừa ngạc nhiên, tôi viết lại cho anh Trường, nói rằng, ông H.Heine không viết bài này. Vì tác giả là Vũ Lương.Từ Sài gòn, anh thức trắng đêm để kể lại cho tôi câu chuyện về bài thơ và hành trình của nó. Tại sao, từ "Em là..." của Vũ Lương, sinh viên Việt nam, lại biến thành bài thơ "Em là hoa huệ trắng" của H.Heine tận nước Đức xa xôi.
Tôi học Đai học Giao thông vận tải, khóa 6.
Năm 1965, sơ tán lên vùng Mai Sưu, huyện Lục Nam, Hà Bắc. Hồi ấy, chúng tôi phải vào rừng chặt tre, nứa, cắt cỏ gianh về dựng lán, làm lớp học, đào giếng... Giảng đường gần những khu rừng dẻ, có suối chảy quanh, nên trong thơ tôi viết, thường có hình ảnh đồi dẻ, dòng suối....
Bài thơ "Em là..." được viết năm 1967, vào cuối năm thứ hai, và viết cho chính mình, theo cảm xúc của một thanh niên mới lớn. Khi ấy, chưa có bạn gái, càng chưa biết yêu, chiến tranh mà. Hồi ấy tôi làm nhiều thơ lắm. Nhưng cũng không tặng ai, chỉ cho chính mình và bạn bè đọc thôi.
Một lần, khi ấy là khoảng tháng 12 năm 1969, trong đợt đi thực tập ở Hải Phòng tôi gặp chị Đào Thúy Lan, vừa là hàng xóm, vừa là chị gái của một người bạn. Chị Lan cũng đi thực tập chuẩn bị tốt nghiệp Đại học Thương Nghiệp. Tuổi trẻ thời ấy thiếu thốn đủ thứ nhất là các món anh tinh thần. Nhưng sinh viên hầu như ai cũng có một cuốn sổ chép đủ thứ từ thơ, đến danh ngôn và nhiều thứ linh tinh, riêng tư khác. Chị Lan cũng có một cuốn sổ như thế và chị đã nhờ tôi chép mấy bài thơ vào đó cho chị. Trong đó có bài "Em là..."
Bài thơ này, cũng như những bài khác, mới chỉ đăng trên bích báo của lớp Đại học Giao thông hồi đó và cũng chỉ một lần, duy nhất, tôi viết vào số tay thơ của chị Đào Thúy Lan. Rồi sau đó, cuộc sống ồn ào với nhiều thay đổi đã kéo tôi đi. Tôi cũng ít khi còn nhớ tới bài thơ đó cùng số phận của nó suốt bao nhiêu năm trời.
Nhưng từ cuốn sổ tay của chị, bài thơ đã được truyền tay nhau, có một đời sống không ngừng nghỉ, qua rất nhiều thế hệ sinh viên. 
Lá thư tôi viết cho tiến sĩ Tô Văn Trường cũng chỉ dừng lại ở đó nếu như ngày 11.2.2014, tôi không vào Google. Gõ dòng chữ: "Em là hoa huệ trắng, nở trong..." và thấy có rất nhiều kết quả. Thật ngỡ ngàng, bài thơ được chọn là một trong những bài thơ tình hay nhất, bài thơ tình nổi tiếng...Tất nhiên, tôi rất xúc động vì không thể ngờ tới sức lan toả của bài thơ. Gần nửa thế kỷ trôi qua, biết bao nhiêu người đã đoc và ghi chép, truyền tay nhau qua nhiều thế hệ. Đó là điều vượt quá sức tưởng tượng của người làm ra nó.
Tôi nghĩ, có thể một phần do người đời đã gán tên Heine cho nó nên sức hấp dẫn tăng lên.
Điều sung sướng, là khi đọc vài cảm nghĩ của người đọc, họ còn nhầm tác giả là một nhà thơ Nga, do anh Thúy Toàn dich...
Và cha của chàng trai ấy, khi còn trẻ, đã chép bài này trong sổ tay. Theo anh, nhờ bài thơ, mà cha đã "cua" được... má của chàng! 
(Link tham khảo: http://diendan.gate.vn/game/threads/127292-Nhung-bai-tho-tinh-suu-tam-tinh-yeu-dat-nuoc-que-huong-TLBB-.htm)

Khi viết thư cho tiến sỹ Tô Văn Trường, tôi cũng phân tích vài chi tiết trong bài thơ.
Nhất là, câu: "Em là bông lan đá/ Hương tỏa ngát núi rừng". Khi ấy, mình có nhìn thấy bông lan đá bao giờ đâu. 
Đấy là tôi nhớ tới lời bài hát trong khi tham gia dàn hợp xướng của trường cấp ba Đoàn Kêt, năm học lớp 10, niên khóa 1964. Bài hát "Câu chuyện một đêm xuống núi" của nhạc sỹ Hồng Đăng, nói về chiến tranh chống Pháp ở khu vực Núi Voi, Hải Phòng.

Lời bài hát: 

"Đứng trên đỉnh núi ta thề
Không giết được giặc không về núi Voi
Núi ơi nhớ chăng ngày xưa, lời thề một đêm xuống núi, nhìn quê hương mà lòng ngậm ngùi".
...và:
"Nhìn bông lan đá đang mùa nở hoa
Núi là Mẹ hiền yêu dấu, đã từng cùng ta chiến đấu, che chở cho ta mỗi lần giặc vây"
Chi tiết "bông lan đá..." là như vậy.
Thêm một chi tiết nữa, là trong bài thơ gốc chép ở cuốn sổ, có xóa một dòng. Lúc đầu, ở khổ 4 tôi viết:
"Em là cây tùng xanh
Vươn cao trong bão táp
Em là chim mùa xuân
Sải rộng đôi cánh đẹp"

Nhưng khi viết vào sổ, tôi chữa lại là:
"Em là cây tùng xanh
Vươn cao trong bão tố
Em là chim mùa xuân
Bay vờn trên biển cả"

Nên ở khổ bốn, có 5 dòng. Dòng thứ 4 chính là dòng xóa.
Ngoài ra, nguyên bản một câu là:
"Em là đồi cây dẻ/Trăng vàng ôm mông mênh". Còn bản lưu truyền bây giờ là: "Trăng sáng ôm mênh mông"

May mà chị Lan còn giữ cuốn sổ dù đã qua nửa thế kỷ. Và vẫn gối đầu giường bởi nó lưu giữ những tháng năm tuổi trẻ của chị. Ngày hôm qua, 12.2.2014, sau một cuộc điện thoại, tôi đã gặp chị và cầm lại trên tay cuốn sổ ố vàng sau gần nửa thế kỷ. Nhìn màu giấy, nét chữ, cùng những hình vẽ và bài thơ do chính tay mình viết, tôi không sao ngăn được cảm xúc. Phải là một cơ duyên may mắn đến nhường nào, mới có thể gặp lại đứa con lưu lạc sau ngần ấy thời gian. Nhất là, đứa con ấy, đã được sống một đời sống hết sức kỳ lạ và sôi động trong lòng người yêu thơ.
Thay lời kết:
Chị Đào Thúy Lan hiện giờ 75 tuổi, đã nghỉ hưu hơn chục năm. Sống ở khu dân cư Trường Đại học Quốc gia Thủ Đức.
Tác giả, nhà báo, nhà thơ Vũ Lương, hiện sống tại Sài gòn. Anh sẽ có mặt ở Berlin trong vòng một tuần nữa cùng cuốn sổ vô giá của chị Lan. Và câu chuyện thú vị đầy lãng mạn về bài thơ hoa huệ của anh, sẽ còn nhiều bất ngờ nữa.
(Bài thơ chép từ nguyên bản gốc trong cuốn sổ của chị Lan)

EM LÀ.,.

Em là hoa huệ trắng 
Nở trong trái tim Anh 
Em là ngàn tia nắng 
Soi đời Anh ngọt lành

Em là những ước mơ 
Mà anh hằng khát vọng 
Em là một hồn thơ 
Chứa chan đầy sức sống

Em là từng đợt sóng 
Ôm ấp mạn tàu Anh 
Em là vì sao sáng 
Dọi màn đêm lung linh

Em là cây tùng xanh 
Vươn cao trong bão tố 
Em là chim mùa xuân 
Bay vờn trên biển cả

Em là bông lan đá 
Hương tỏa ngát núi rừng 
Em là đồi cây dẻ 
Trăng vàng ôm mông mênh

Em là dòng suối trong 
Những buổi chiều Anh tắm 
Em là dáng hoàng hôn 
Lúc nhớ nhà Anh ngắm

Trong mắt Em thăm thẳm 
Anh thấy cả đất trời 
Cách xa tình vẫn đẹp 
Có phải không Em ơi!
__
Vũ Lương
1969
Hai bài thơ về Hoa huệ của H. Heine:

Original German:
Die Rose, die Lilie, die Taube, die Sonne,
Die liebt' ich einst alle in Liebeswonne,
Ich lieb' sie nicht mehr, ich liebe alleine
Die Kleine, die Feine, die Reine, die Eine;
Sie selber, aller Liebe Wonne,
Ist Rose und Lilie und Taube und Sonne.
English Translation:
The rose, the lily, the dove, the sun-
I once loved them all with ecstatic love.
I love them no more, I love only
the little one, the dainty one, the pure one, the One.
She alone, the well-spring of all love,
is rose and lily and dove and sun.
---------------------------------------