Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện đời. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện đời. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

QUỶ BÀNH TRƯỚNG

             
* Ghi chépMINH DIỆN
             Buổi sáng hôm ấy tôi và nhà thơ Lê Văn  thấy ba người Hoa đi xem mít tinh ở trước cửa Nhà hát lớn Sài Gòn. Họ đứng ở góc đường Đồng Khởi , mũ lưỡi trai trùm lút trán, lặng lẽ  kín đáo quan sát một cách chăm chú.
Khi tiếng hô: “Giàn khoan Hải Dương cút đi!”, “ Đả đảo Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa!”... vang lên,  nét mặt họ biểu hiện sự xúc động. Kết thúc cuộc mít tinh, ba người Hoa  ấy đi  theo đoàn  biểu tình một đoạn rồi rẽ vào quán cà phê góc đường Hai Bà Trung.  
              Nhà thơ Lê Văn bảo tôi:
            - Thử nói chuyện với các cha này xem sao!
            Quán cà phê vắng khách. Tôi kéo ghế ngồi cạnh bàn ba người Hoa. Trong lúc chờ cà phê , tôi hí hoáy viết hai câu thơ  của Bạch Cư Dị lên tờ giấy vệ sinh: “ Thị tuế Giang Nam hạn. Cù Châu nhân thực nhân!”  theo  thói quen tập viết thư pháp của tôi.
             Một người Hoa nhìn sang hỏi :
            - Anh biết chữ Hán ?
            - Vâng, ít thôi!
            Người ấy đọc hai câu thơ,  và nói : “ Bây giờ bọn ăn thịt người nhiều lắm!”
            Anh chàng người Hoa  khoảng gần bốn chục tuổi ,mặt đầy vết sẹo, đầu húi cua  nhích mép cười gượng. Lê Văn rút thuốc lá  mời. Anh ta cảm ơn và chìa bàn tay cụt hai ngón ra cầm điếu thuốc. Tôi hỏi:
           - Anh bị tai nạn lao động à?
           - Không. Bị chắt!
           Người đàn ông Trung Quốc nói tiếng Viết khá sõi và tỏ ra thiện cảm với chúng tôi. Anh  tên là  Lưu Trí Lâm, thường gọi là A Lâm, quê Thiên Tân, sang Việt Nam từ năm 2004, hiện đang làm ở  văn phòng đại diện một công ty  buôn bán máy dệt kim  Đài Loan tại thành phố Hồ Chí Minh.  Hai  người cùng  đi cũng quê  Thiên Tân  và đều là học viên Pháp luân công trốn chạy khỏi Trung Quốc từ mười năm trước. Bên ly cà phê đen , A Lâm và hai người bạn đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện kinh khủng  vụ đàn áp Pháp luân công ở Trung Quốc mà họ là một nạn nhân.
Quỷ Bành Trướng độc tài chuyên chế
ăn thịt người dân Tây Tạng
          Pháp luân công còn gọi là Pháp luân đại pháp  do  Lý Hồng Chí sáng lập ở Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm , với triết lý đạo đức  Chân- Thiện- Nhẫn.  Chân: không nói dối. Thiện : không  tham lam độc ác . Nhẫn : không nóng giận. Pháp luân công không phải tổ chức chính trị, tôn giáo, chỉ dạy người ta  sống tốt hơn, và bằng những động tác thiền đơn giản có tác dụng chữa nhiều căn bệnh mãn tính.  Chỉ sau mấy năm từ Trường Xuân , Pháp luân công đã lan ra khắp Trung Quốc , và nhờ Pháp luân công xã hội bớt căng thẳng, ở các công sở  người ta sống với nhau hòa nhã hơn, bạo hành trong gia đình bớt  và bệnh tật giảm .  Chính quyền Trung Quốc  khen ngợi  Lý Hồng Chí và  thừa nhận  Pháp luân công  là một trong 5 môn khí công đắc dụng.
               Nhưng rồi  ban lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc lo ngại khi số học viên  Pháp luân công  tăng nhanh. Từ mấy ngàn người năm 1992 đã tăng lên 70  triệu người  vào đầu năm 1999,  trong khi  thời điểm đó số  đảng viên cộng sản Trung Quốc mới có  50 triệu .  Hơn thế ,  gần nửa  triệu đảng viên đã luyện tập Pháp luân công , trong đó có cả những đảng viên giữ chức vụ cao.  Người Trung Quốc ngộ ra  tâm thức  Chân-Thiện- Nhẫn  khác hẳn  triết lý bạo lực , vô thần của cộng sản và xã hội Trung Quốc có chiều hướng thay đổi.   Chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nước Giang Trạch Dân cảm thấy nguy cơ  Pháp luân công vượt khỏi tầm kiểm soát, xâm phạm độc quyền  lãnh đạo của đảng,  nên quyết định dẹp bỏ.
               Ngày 25-4-1997, tờ báo Tuổi trẻ ở Trường đại học sư phạm Thiên Tân mở đầu  chiến dịch  bằng bài phê phán Pháp luân công   mê tín dị đoan lừa đảo.  Hàng ngàn học viên Pháp luân công đã kéo đến  phản đối bài báo đó.  Công an  đàn áp , bắt đi hơn  bốn chục người.
               Học viên Pháp luân công Thiên Tân mang  đơn  lên Bắc Kinh khiếu nại đúng theo quy định của pháp luật, được  các nơi  khác hưởng ứng , kết  thành một lực lượng gần 10.000 người  trước  Phòng thỉnh nguyện quốc gia , đối diện với Trung Nam Hải , cơ quan đầu não của Đảng cộng sản Trung Quốc.
              Thủ tướng Chu Dung Cơ  từ trong đó ra , hỏi:
              - Mọi người từ đâu đến vậy? Ai bảo mọi người đến?
              Đại diện  học viên Pháp Luân Công nói:
              - Thưa Thủ tướng! Chúng tôi đến để đưa đơn thỉnh nguyện !
              Ông Chu Dung Cơ  bảo:
              - Không thể nói chuyện với tất cả.  Hãy cử đại diện vào gặp người nói chuyện.
              Mấy người đại diện theo Chu Dung Cơ vào Trung Nam Hải .  Giang Trạch Dân sau khi ngồi trong xe bọc thép đi quan sát, trở về bắt tay, cười và bảo: “ Về  đi, những người bị bắt sẽ được thả  và không cấm Pháp luân công!”
              Nụ cười tắt ngấm  trên khuôn mặt lạnh lùng của chủ tịch đảng ngay sau khi đoàn người rời khỏi Phòng thỉnh nguyện, Giang  thét:
           - Giết! Giết hết chúng  đi!
           Phòng 610 được thành lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giang Trạch Dân. Đó là một cơ quan siêu  quyền lực  đứng trên pháp luật , trực tiếp vận  hành các guồng máy  truyền thông, công an, quân đội, tòa án... nhổ tận gốc Pháp luân công. Người ta ví phòng  610  như  sở Gét-ta-pô  của  phát xít Đức trong thế chiến thứ 2.
           Chỉ trong vòng 5 năm,  P 610  cho xuất bản  370.000 tác phẩm báo chí, phim ảnh   phê phán Pháp luân công , cho lực lượng công an, quân đội bắt giam giữ hơn 10 triệu người, trong đó 9.500 người  đã bị giết, hơn 100 nghìn người  bị đánh đập, hành hạ tàn phế.
          A Lâm nói:
          - Tôi bị giam ở trại Đông Phong sau khi bị chặt hai ngón tay vì ký đơn thỉnh nguyện. Những vết sẹo trên mặt tôi là do bị đốt điện 300 V...
         A Lâm từng được chứng kiến những học viên Pháp luân công bị trói  chân tay vào giường bỏ đói, bị đánh nát đầu, bị bóp cổ đến chết rồi vu cho tự tử.  Hai người bạn A Lâm  vạch áo khoe những vết sẹo còn nhằng nhịt  trên thân thể.
          Tôi hỏi A Lâm:
          - Bây giờ anh  suy nghi gì về ban lãnh đạo Trung Quốc!
          - Đó là bọn ăn thịt người!
          - Anh nghĩ gì về việc họ đang làm với Việt Nam?
         A Lâm ngồi trầm ngâm một lát và nói với chúng tôi:
          - Chúng tôi không  chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, không  mang giàn khoan vào biển Việt Nam . Đó là bọn ăn thịt người...Cũng như dân Việt, dân Trung Quốc không muốn chiến tranh, không đi cướp đất cướp biển, khong ai ủng hộ chúng. Đó là lũ quỷ Bành Trướng.
          A Lâm và hai người bạn bắt tay chúng tôi , ra khỏi quán cà phê. Họ kéo mũ lưỡi trai che mặt.   Có phải  họ  sợ những người Việt Nam quá khích hay cảm thấy xấu hổ vì truyền thống ăn thịt người  của Trung Quốc  mà  từ nhà thơ  Bạch Cư Dị ( 772-846) đến nhà văn  Lỗ Tấn (1881- 1936) đều đã vạch ra .
          Cố Tổng bí thư Lê Duẩn từng nói: “Chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người!”
         Ông kể có lần Mao Trạch Đông hỏi ông:
         - Lào có bao nhiêu cây số vuông đất?
         Ông đáp:
         - Khoảng 200.000  cây số vuông.
         - Dân số bao nhiêu?
         - Khoảng 3 triệu người!
         Mao cười và nói:
         - Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó! Thật đó!
         Mao lại hỏi:
         - Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
         -Khoảng 500.000 cây số vuông!
         - Bao nhiêu người?
         - Khoảng 40 triệu!
         - Lạy chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông nhưng có tới 90 triệu người. Tôi sẽ đưa một số người tới Thái Lan.
         Ông Lê Duần kể rằng Mao Trạch Đông không hỏi Việt Nam có bao nhiêu đất nhiêu người , mà hỏi có thật người Việt Nam đã đánh thắng quân Nguyên, quân Thanh không. Ông Lê Duẩn đáp: “ Đúng!” Và nói thẳng  với Mao:  “ Cả các ông nữa! Tôi đánh các ông luôn!”
           Vâng, đúng như vậy. Nếu Trung Quốc xâm lược nước ta thì ta phải đánh. Đánh cho gãy răng bọn ăn thịt người!
     M D
                         

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

'Bát phong xuy bất động'

Tôi đọc trên mạng, thấy giai thoại rất thú vị về “Tám ngọn gió đời”, xin chia sẻ cùng bạn đọc gần xa!
Tâm Lương Đào Mạnh Xuân

Tám Ngọn Gió Đời
HỎI: - Chúng tôi có biết một số giai thoại thú vị về Tô Đông Pha và Thiền sư Phật Ấn.
Nhưng giai thoại về "Bát phong xuy bất động” thì chưa được tỏ tường, nhất là bài thơ của Tô Đông Pha. Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn đối diện với "Bát phong”, tức tám ngọn gió đời. Có cách nào để có thể đứng vững trước tám ngọn gió ấy không?
ĐÁP: - “Bát phong xuy bất động” (tám gió thổi không động) là một giai thoại vui, thâm thúy và tràn đầy thiền vị về mối thâm giao giữa thi hào Tô Đông Pha (1037-1101) và Thiền sư Phật Ấn (1032-1098). Chuyện kể rằng, một hôm Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ và ông rất hài lòng, bèn cho người đem tặng Thiền sư Phật Ấn lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn. Nguyên văn bài thơ của Tô Đông Pha như sau:
“Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên”.
Tạm dịch là:
“Đảnh lễ Bậc Giác ngộ
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng”.
Ngài Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ, thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá rõ bạn mình nhờ văn hay, chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy để làm thơ chứ không phải là bậc thượng sĩ thâm nhập nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, đạt đến Thượng thừa “Tám gió thổi không động” nên thay vì khen ngợi ngài liền cầm bút phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rấm - hạ phong) và bảo gia nhân đem về trình lại cho Tô Đông Pha.
Quả như điều mà ngài Phật Ấn đã dự đoán. Tô Đông Pha sau khi xem lời nhận xét của Phật Ấn xong liền đùng đùng nổi giận, lập lức bươn bả vượt sông sang chùa Kim Sơn để bắt tội Phật Ấn. 
Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách: “Bài thơ của tôi sai sót ở chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “đánh rấm” kia”. Thiền sư Phật Ấn liền cười xuề: “Ông nói “Tám gió thổi không động” mà chỉ một cái “đánh rấm” thôi đã bay sang sông rồi”. Đến đây, Tô Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.
Con người thường dao động, thể hiện cảm xúc vui buồn rõ rệt trước những hoàn cảnh thuận nghịch của cuộc sống. Khi được lợi (lợi) thì vui mừng, hớn hở ngược lại khi bị mất mát, tổn hại (suy) thì buồn bã, tiếc nuối. Khi bị chê bai, chỉ trích (hủy) cảm thấy rất khó chịu nhưng khi được khen ngợi (dự) thì vui thích, hài lòng. Khi được mọi người xưng tán, tung hô (xưng) thì hả hê, ngất ngây hạnh phúc ngược lại khi bị chế diễu, vu khống (cơ) thì hậm hực, bức xúc không yên. Khi những điều không như ý ập đến (khổ) thì đau khổ, thở than và ngược lại khi mọi việc đều thuận lợi như ý (lạc) thì mừng rỡ, vui vẻ.
Cuộc sống của con người chẳng mấy khi được bình an, vì luôn bị tám ngọn gió này chi phối. Do vậy, muốn thiết lập hạnh phúc và an vui trong đời sống chúng ta phải giữ vững tâm ý khi tiếp xúc, đối điện với tám ngọn gió này. Đại thừa vô sanh phương tiện môn (Đại Chánh 85, 1247 hạ) chỉ rõ: “Nếu thân tâm vắng lặng an ổn thì tám gió thổi không động”. Cũng như chuyện “gió động hay phướn động”, thì ra tâm người động chứ gió và phướn chỉ là chuyện bên ngoài.
Chúc các bạn tinh tấn!

 

* Sau khi đọc xong giai thoại thú vị trên, tôi đã cố gom ý chính trong “Tám Ngọn Gió Đời” thành bài văn vần, vừa để giúp mình nhớ lâu, thực tập và cũng vừa để bạn đạo nào muốn tu tập cho tâm bớt loạn động, hầu đem lại những phút giây an lạc cho tâm hồn, có được phần tóm lượt tương đối dễ nhớ hơn.

Tám Ngọn Gió Đời
Bị kẹt tám ngọn gió đời,
Tâm ta loạn động, chẳng hồi nào ngơi,
Được khen: vui vẻ, tươi cười,
Bị chê: sân dậy, giận người chê ta,
Đắc lợi: vui sướng quá đà,
Tổn hại: buồn bã, tưởng là khó nguôi,
Còn được xưng tán, ôi thôi!
Hả hê, ngây ngất, thấy đời lên hương,
Bị vu khống: thật đoạn trường,
Hậm hực, uất ức, tưởng chừng khó quên,
Tất cả mọi việc thuận duyên,
Đời sao đẹp quá : cõi tiên dương trần,
Chướng duyên đến: khổ vô vàn,
Làm sao cố giữ Tâm An: hàng đầu,
Khen: không kiêu; mất: không rầu,
Chê: không giận; được: hơi đâu vui mừng,
Bát phong muốn ló, phải dừng,
Tập tu được vậy, đáng mừng lắm thay!
Qui lại nhớ bốn điều này:
Khen, chê, được, mất: hàng ngày bỏ qua.

Tâm Lương Đào Mạnh Xuân
(Stone Mountain, Georgia) 

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Trí thức và thói háo danh


                    * VƯƠNG TRÍ NHÀN 
Trí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số họ có những nhược điểm cố hữu.
Xin giới thiệu một số bài viết của ông về chủ đề này với mục đích tự nhìn lại mình, phản tư để thấu hiểu và thay đổi chính mình.
Thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu nhiều người đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới, bệnh lại trầm trọng hơn trong một bộ phận trí thức.
Bệnh sùng bái danh hiệu, chức vụ... trong giới trí thức vừa được Đặng Hữu Phúc xem như một quốc nạn. Chỉ có thể chia sẻ với một khái quát như thế nếu người ta nhận ra những gì đứng đằng sau cái căn bệnh có vẻ dễ thương đó là sự liên đới của nhiều “chứng nan y“ cùng là sự tha hoá của giới trí thức cũng như của nhiều lớp người khác.
Bài viết Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị gợi tôi nhớ tới một câu chuyện trong sử cũ.
Nhìn người bằng... chức danh
Nửa cuối thế kỷ thứ XVII, có một trí thức Trung Quốc là Chu Thuấn Thuỷ trên bước đường chống Thanh phục Minh nhiều lần đến Việt Nam. Lần ấy, khoảng 1657, nghe Chúa Nguyễn có hịch chiêu mộ những ai biết chữ để giúp vào việc nước, Chu ra trình diện. Nhưng ông cảm thấy chung quanh không hiểu mình, không thi thố được tài năng, lại bị làm phiền, nên bỏ sang Nhật. Sau ông đóng góp rất nhiều vào viêc phát triển xã hội Nhật.
  1. Thói háo danh và vĩ cuồng của trí thức
  2. Giới thông thái chân đất
  3. Truy tìm căn nguyên thói “háo danh” của trí thức
Chu không phải là loại người đọc sách xa lánh sự đời. Một học giả Nhật đã viết về Chu “Cái học của tiên sinh nhấn mạnh về "kinh bang tế thế". Giả sử nếu cần biến một vùng đất hoang thành phố thị, phải tập hợp sĩ nông công thương, thì một tay tiên sinh có thể cáng đáng để xây dựng nên phố thị. Thay vì “ thi thư lễ nhạc” tiên sinh thích nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về cách canh tác ruộng nương và cách xây dựng nhà cửa, cách làm rượu làm tương... Tiên sinh có thể dạy người ta bất cứ việc gì”.(1)
Riêng chuyện bộ máy chính quyền Đàng Trong không thể chấp nhận một người như trên, đủ cho ta hiểu trình độ của bộ máy đó là như thế nào.
Trong tập ký sự của mình, Chu Thuấn Thuỷ kể khi trình diện nhà cầm quyền địa phương, gặp chuyện buồn cười là người Việt Đàng Trong bắt ông ứng khẩu ngay một bài thơ rồi viết trên giấy. Tiếp đó câu đầu tiên bị hỏi là “Cống sĩ với cử nhân và tiến sĩ, bên nào hơn?”.
Khi biết Chu chỉ là cống sĩ, viên quan địa phương có ý xem thường, cho học lực của Chu không thể nào đọ được các vị khoa bảng nhà mình.
Từ câu chuyện về Chu Thuấn Thuỷ tới câu chuyện về nghệ sĩ Nga Vladimir Ashkennazy mà Đặng Hữu Phúc vừa kể, như là có sự nối tiếp. Hoặc có thể nói cả hai phối hợp với nhau làm nên một đôi câu đối khá chỉnh. Một bên thì không thể hiểu người nổi tiếng lại không có một chức danh nào, còn bên kia thì không cần biết trước mặt mình là người đã được hoàng đế nhà Minh mời ra giúp nước, chỉ nghe cái bằng cống sĩ đã bĩu môi chê bai - giữa người ngày xưa với người ngày nay, sao mà có sự ăn ý đến thế!
Từ háo danh tới vĩ cuồng
Đặng Hữu Phúc đã nói tới cái khó chịu khi phải nghe đám người “mở miệng là họ nói tới chức tước “ - tức đám người háo danh - trò chuyện với nhau. Ai đã sống trong giới trí thức ở ta hẳn thấy chuyện đó chẳng có gì xa lạ.
Anh A và anh B vốn cùng nghề và cùng cơ quan, họ cùng dự buổi họp nhỏ, chứ không phải đăng đàn diễn thuyết trước bàn dân thiên hạ gì.
Thế mà cứ động phát biểu thì từ miệng anh A, vang lên nào là “như giáo sư B đã nói” (gọi đầy đủ cả tên họ), nào là “tôi hoàn toàn đồng tình với các luận điểm giáo sư B. vừa trình bày“ (Thực ra có luận điểm khoa học gì đâu mà chỉ là mấy nhận xét vụn). Và B cũng đáp lại bằng cách nói tương tự.
Khi phải dự những cuộc hội thảo ở đó cách xưng hô và nói năng giữa các thành viên theo kiểu như thế này, tôi chỉ có cách ráng chịu một lúc rồi lảng. Tôi không sao nhớ nổi họ nói với nhau điều gì. Và tôi đoán họ cũng vậy. Vì mỗi người trong họ có vẻ còn mải để ý xem người phát biểu đã gọi người khác đúng chức danh chưa, hay để sót, chứ đâu có chú ý tới nội dung các phát biểu. Không khí nhang nhác như những buổi họp quan viên trong các làng xóm xưa, mà Ngô Tất Tố hay Nam Cao đã tả.
Tại sao chúng ta khó chịu với lớp người háo danh này? Đơn giản lắm, ta thấy họ ấu trĩ, non dại, thực chất họ thấp hơn cái vị thế mà họ chiếm được, không xứng với chức danh họ nhăm nhăm mang ra khoe.
Ai đã thử quan sát tình trạng tinh thần của đám người mê tín hẳn biết, người càng thiếu lòng tin, thì khi vào cuộc mê tín càng cuồng nhiệt.
Giới trí thức cũng vậy, cái sự thích kêu cho to chẳng qua là một cách để xoá bỏ mặc cảm. Kẻ yếu bóng vía lấy cái mã bên ngoài để làm dáng che đậy cho sự trống rỗng bên trong.
Mấy thói xấu mà Đặng Hữu Phúc nêu lên chỉ đáng để người ta cười giễu, ghét bỏ, thương hại. Song ác một nỗi chính nó lại là dấu hiệu đầu tiên của nhiều chứng nan y khác chẳng hạn căn bệnh mà Cao Xuân Hạo trong một bài viết ở cuốn Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ(2) gọi là bệnh vĩ cuồng ( me’ganomanie).
Cao Xuân Hạo kể một chuyện mà thoạt nghe chắc chẳng ai dám tin. Hàng năm cơ quan lưu trữ nước mình thường phải thanh lý hàng tấn những hồ sơ “sáng kiến phát minh“ gồm toàn đề nghị viển vông do người trong nước ùn ùn gửi tới. Cao Xuân Hạo nói thêm điều đáng lo là ở chỗ phần đông chúng ta khi nghe những điều quái gở ở đây đều thấy bình thường, cùng lắm thì là loại sai lầm dễ tha thứ; còn ai tỏ ý kinh hoàng thì bị mọi người coi là bệnh hoạn vô đạo đức vì đã không tin vào khả năng sáng tạo của những người bình thường.
Cần phải gộp cả thói háo danh và bệnh vĩ cuồng nói trên để phân tích vì giữa chúng có một điểm chung là đều xuất phát từ những người và nhóm người sống trong tình trạng cô lập, không có khả năng tự nhận thức, đứng ngoài nhịp phát triển tự nhiên của thế giới.
Tình hình lại cần được xem là tệ hại bởi nó bám rễ vào bộ phận tinh hoa của xã hội.
Trí thức là bộ phận mũi nhọn của một cộng đồng, của những thể nghiệm làm người của cộng đồng đó. Những nhược điểm của trí thức chẳng qua chỉ là phóng to nhược điểm của cộng đồng. Và nếu như những nhược điểm này đã thâm căn cố, đế trở thành một sự tha hoá, thì tình trạng của người trí thức sẽ là một phòng thí nghiệm hợp lý để nghiên cứu về tình trạng tha hoá nói chung. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng thì may ra mới có cơ hội chữa chạy hay ít nhiều cũng giảm thiểu tình hình nguy hại.
Ghi chú:

(1) Chu Thuấn Thuỷ Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Vĩnh Sính dịch và chú thích, Hội khoa học lịch sử Việt Nam 1999, tr.11
(2) Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,2000, tr.82-87

Công cuộc phát triển đòi hỏi đất nước phải có một tầng lớp trí thức ngang tầm quốc tế và khu vực, ở đó không thể có sự nửa vời, sự tự hạ thấp tiêu chuẩn để làm dáng.
Nền giáo dục đơn sơ
Nhiều năm qua chúng ta hay nói một cách hồn nhiên rằng dân ta ham học và trong quá khứ ta có một nền giáo dục chẳng kém gì những nước khác. Bản thân tôi ban đầu cũng tin như thế, sau thực tế ngày càng thấy phải nói ngược lại.
Trong một cuốn sách lịch sử giáo dục (1) tôi thấy người ta chỉ ra rằng thật ra giáo dục là chuyện xài sang. Chỉ những đất nước giàu có mới có tiền của để chi cho giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Khi nền kinh tế ở trình độ tiểu nông manh mún, thậm chí trình độ hái lượm, con người có mỗi việc kiếm ăn đã không làm nổi, ta chỉ có thứ giáo dục ở dạng đơn sơ, kém cỏi.
Ta hay khoe, người dân quê nào ở nông thôn VN cũng sẵn sàng bớt ăn bớt mặc cho con đến học ở các thầy đồ lấy “năm ba chữ thánh hiền”.
Nhưng hãy nhìn kỹ vào những lớp học đó. Trường sở sơ sài. Sách vở tài liệu không có, đến bữa cơm chắc bụng cho người dạy cũng không có nốt (nhiều truyện tiếu lâm toàn ghi lại chuyện thầy đồ ăn vụng) - thử hỏi sau mấy năm theo học các ông thầy ấy, phần lớn các cậu học trò nhà quê học được gì ? Biết dăm ba chữ để đủ đọc tên mình trong khế ước văn tự thế thôi chứ làm sao hơn được?!
Sự ham học có tính cá nhân nông nổi đó chưa bao giờ kết hợp với nỗ lực của cộng đồng để xây dựng nổi cơ chế giáo dục hợp lý và một nội dung giáo dục lâu dài, có triển vọng.
Đọc lịch sử, đời Lê, sau khi đánh xong giặc Minh, nhà vua lo cầu hiền tài để chọn quan lại ở cấp cơ sở. Chọn như thế nào? Chẳng qua chỉ một số người tinh nhanh đủ chữ ghi chép và … biết làm tính (2).
Theo như cách nói của một tác giả trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật thì một nét đặc thù của trí thức VN trong lịch sử là tính cách lưỡng phân. Ông Nguyễn An Ninh, tác giả bài này giải thích: Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nông dân. Khi không thể sống bằng chữ tức bằng nghề của mình, nhu cầu trí tuệ của họ bị giảm thiểu. Những xung lực cho hoạt động trí tuệ ở họ thường xuyên bị kìm hãm. Gặp hoàn cảnh khó khăn , họ dễ bị hư hỏng.(3)
Tính cách lưỡng phân ấy là cả một ám ảnh, như ám ảnh về quê hương nghèo đói. Ta hiểu tại sao một số trí thức tỉnh táo khi đã thành đạt, vẫn không thể quên nguồn gốc của mình, cái nơi mà từ đó mình đi tới. Đây là lời dặn của Nguyễn Khuyến cho con cái:
Các con nối nghiệp cha nên biết
Nghiên bút đừng quên đậu lúa cà
Thế sao những người nông dân một nửa này vẫn miệt mài đèn sách để có ngày lều chõng khoa cử thì sao? Bởi việc nhồi vào óc một ít kiến thức cổ lỗ sở dĩ thu hút được toàn bộ tinh hoa nghị lực của nhiều người vì đó là con đường ngắn nhất để được gia nhập vào hàng ngũ quan chức.
Không có sản phẩm trí thức
Tự hào về nền giáo dục xưa, ta hay đưa dẫn chứng là trong lịch sử, các triều đại đã mở nhiều khoa thi và đã lấy được nhiều tiến sĩ, các bia tiến sĩ đó còn được đặt trong Văn miếu. Nhưng thử hỏi trước tác của các vị tiến sĩ đó là gì hay chỉ là những bài văn mòn sáo sau khi dâng vua thì chính người viết ra nó cũng quên nó luôn.
Có thể chứng minh sự kém cỏi của nền giáo dục cổ ở một khía cạnh khác. Nhân xem xét danh sách các tác gia văn học VN bằng con mắt thống kê, người ta đã phát hiện ra một nghịch lý vui vui.
Đó là nhiều nhà văn nhà thơ VN thời trước nổi tiếng mà không có tác phẩm (đây là nói những tác phẩm dày dặn, có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả bắt buộc của các bộ từ điển).
Từ điển văn học Việt Nam do Lại Nguyên Ân biên soạn với sư cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường có 276 mục dành cho tác giả trong khi chỉ có 132 mục dành cho tác phẩm. Từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX, tính đổ đồng, mỗi thế kỷ chỉ có 7 tác phẩm; riêng thế kỷ XIX khá hơn, có tới 68 tác phẩm được ghi vào từ điển, nhưng số tác giả cũng lớn hơn, tới 78 người.
Cái hiện tượng cây không trái này (đúng hơn, có thể là toàn những trái chua trái héo, không cần cho ai, đời sau không ai buồn nhớ) càng thấy rõ khi nhìn vào hàng ngũ các ông trạng - chúng tôi muốn nói tới trạng chính thống chứ không phải trạng theo nghĩa dân gian.
Theo Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng về các ông trạng VN thì không kể triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, các triều đại Lý Trần Lê có tới 47 người được phong trạng. Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta.
Ngược lại, xét chung các nhà sáng tác thơ văn, từ Nguyễn Du tới Nguyễn Đình Chiểu, từ Nguyễn Gia Thiều Phạm Thái cho tới Tú Xương, nhiều người không thuộc loại đỗ đạt cao. Riêng về biên khảo, một học giả thực thụ như Phan Huy Chú, tác giả của bộ sách đồ sộ, mang tính cách tổng kết lớn, một thứ bách khoa toàn thư là Lịch triều hiến chương loại chí, chỉ đỗ đến tú tài.
Câu chuyện người đỗ không giỏi và người giỏi không đỗ không chỉ tố cáo sự kém cỏi của hệ thống giáo dục mà còn cho thấy một phần thực chất con người của nhiều ông trạng. Họ chính là điển hình của loại học trò thuộc bài, chỉ biết tầm chương trích cú rồi làm theo những khuôn mẫu sẵn có, nói chung là những cá tính tầm thường, không có quan hệ gì tới tư duy độc lập và sự sáng tạo.
Ta đã có tầng lớp tri thức đúng nghĩa?
Bước vào giai đoạn hội nhập, gần đây, những cuộc bàn cãi xuất hiện đều đều trên mặt báo ở ta cho thấy vấn đề về giới trí thức đang là mối quan tâm chung của xã hội. Điều này có lý do chính đáng của nó. Sự trì trệ kéo dài hàng ngàn năm mà đến nay ta vẫn lĩnh đủ có một nguyên nhân sâu xa: cộng đồng không hình thành nổi bộ phận tinh hoa (elite) của mình. Một chủ nghĩa bình quân tối đa đã níu kéo tất cả lại.
Tôi muốn đặt vấn đề: liệu trong thực tế lịch sử chúng ta đã có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa chưa? Nếu tạm thời chấp nhận là có một tầng lớp như vậy, thì quá trình hình thành của họ có đặc điểm gì? Tại sao họ dễ bị làm hỏng đến vậy? Trước 1945, những Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, các tác giả có bài thường xuyên trên Tri Tân Thanh Nghị… đã có ý kiến về vấn đề này mà chưa ai có dịp tổng kết.
Tuy không nói ra, nhưng có vẻ như với nhiều người, kẻ sĩ Việt Nam chỉ là một loại trí thức chân đất. Một số nhà nghiên cứu gần đây đôi khi còn đi tới những khái quát cực đoan hơn. Trong một bài viết mang tên Tâm lý dân tộc với cuộc Cải cách hành chính hiện nay nhà xã hội học lão thành Đỗ Thái Đồng cho rằng xã hội cổ truyền VN thiếu ba chỗ dựa cơ bản:
  • Không có giai cấp quý tộc trong khi có đông đảo đám quan lại nhất thời.
  • Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng. Rất hiếm thấy cái cốt cách như Lý Bạch“ Thiên tử hô lai bất thượng thuyền”. Học để làm quan, tuyệt đại đa số kẻ sĩ đều mộng làm quan hơn là giữ vai trò thầy đồ… áo rách.
  • Không có lớp doanh nhân tung hoành về thương mại hay công nghệ trong nước cũng như ngoài nước.
Trong ba đặc điểm tôi cho là được nêu ra chính xác này, cái thứ hai liên quan đến chủ đề trí thức chúng ta đang nói.
Thói háo danh chẳng qua chỉ là dấu hiệu của một tầng lớp trí thức non yếu. Còn mọi thái độ dễ dãi với họ chiều nịnh họ mà không dám yêu cầu cao ở họ cuối cùng chỉ đẩy họ sa đà mãi trong tình trạng bần cùng về trí tuệ và nẩy sinh những căn bệnh mới.
Cũng nên nói thêm, sự dễ dãi này ban đầu có vẻ là một thiện ý hoặc nói như chữ nghĩa thời nay – một sự chia sẻ, nó bắt đầu từ một cảm nhận chung về sức ép của hoàn cảnh.
Nó là cách nghĩ từng ngự trị trong xã hội một thời gian dài. Đất nước lo gồng mình lên để chống ngoại xâm. Cuộc sống khó khăn đến nỗi, khi nghĩ về nhau người ta chỉ thấy những điều tốt đẹp, cốt sao giữ lấy cho nhau niềm tự tin, rồi động viên nhau hợp sức trong việc chống trọi lại các thế lực thù địch từ bên ngoài tới. Tức nó là sản phẩm của những thời đại mà mọi nỗ lực của con người là lo tồn tại, tới mức có thể bảo nền văn hóa của chúng ta là văn hóa để tồn tại.
Còn nếu như đặt vấn đề tồn tại chỉ là chuyện tối thiểu, cái đáng lo hơn, như hôm nay, là chuyện phát triển, chúng ta sẽ phải nghĩ khác về quá khứ và luôn thể nhìn lại khác đi về nhau.
Nay là lúc mọi sự vuốt ve nhau dễ dãi, là không đủ nữa. Công cuộc phát triển đòi hỏi đất nước phải có một tầng lớp trí thức ngang tầm quốc tế và khu vực, ở đó không thể có sự nửa vời, sự tự hạ thấp tiêu chuẩn để làm dáng.
Ghi chú:
(1) Roger Gal Lịch sử giáo dục, bản dịch Lê Thanh Hoàng Dân-- Trần Hữu Đức. NXB Trẻ-- Sài gòn, 1971
(2) Dẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư của nhà xuất bản Khoa học xã hội 1983, tập II tr 296
(3) Nguyễn An Ninh - Tính chất lưỡng phân, một nét đặc thù của trí thức Việt nam trong lịch sử - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật 1998, số 1
Chú ý xin đừng lầm với Nguyễn An Ninh (1900-1943), nhà hoạt động xã hội ở đầu thế kỷ XX. Có điều thú vị là nhà trí thức lớn Nguyễn An Ninh trước đây cũng từng nhận xét xứ ta là nơi mà “chỉ với một chút xíu khoa học” người ta đã có thể tự coi mình là nhà thông thái, tương tự như “với hai xu trong túi, người ta đã trở thành những nhà giàu.” Khi lưu ý tình trạng nhiều người “cảm thấy thỏa mãn vừa lòng khi chui rúc trong một túp lều”, hình như ông muốn nói rằng tình trạng thiếu khát vọng và ý chí đã kìm giữ mãi chúng ta trong khung cảnh lạc hậu.

Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy.
Nói như Cao Xuân Hạo, thói háo danh “có thể tăng rất nhanh theo cấp số nhân và biến thành một bệnh dịch quật ngã hàng triệu người”
Ngành văn chương mà tôi làm việc thuộc khu vực mà người ta hay nhấn mạnh tính bản địa.
Ngoài cái háo danh kiểu vô thức tập thể - cho rằng văn chương nước mình chẳng kém gì thế giới, rồi thường xuyên mũ cao áo dài vái lậy, tôn vinh nhau ngay trong sinh hoạt hàng ngày, còn một lối chạy theo danh vị kín đáo hơn, nhưng chắc chắn hơn. Đó là lo mấy câu thơ của mình được đưa vào sách giáo khoa cho học sinh cả nước học, lo tên tuổi của mình thường xuyên được nhắc nhở trên các phương tiện thông tin đại chúng, nịnh nọt những người được phân công viết văn học sử đương đại, cốt họ dành cho mình vài dòng trong sách và nhờ thế mình sẽ ở lại với vĩnh viễn.
Sự phát triển tính hiếu danh”vượt xa kế hoạch” như thế này có những liên quan đến tình trạng của giới trí thức đương thời cũng như quan niệm của xã hội về họ.
Hệ quả của một thời chiến tranh
Xã hội sau 1945, căn bản là xã hội của tư duy công nông nghĩa là của những người hành động. Mọi sự tính toán xa xôi, những công việc không có lợi ích ngay cho sự nghiệp nếu không bị thù ghét thì cũng không thể được xem trọng như đáng lẽ phải có. Cuộc sống hàng ngày quá ư vất vả, thành ra tuy vẫn hiểu chủ trương lớn là trọng trí thức, nhưng trong thực tế người ta vẫn thành kiến với họ, chí ít là không tôn trọng họ, thấy họ quá kềnh càng phiền phức.
Nên nhớ nét chủ đạo của hoàn cảnh là không khí thời chiến. Chiến tranh cào bằng tất cả. Chiến tranh tước đi những tự do tối thiểu của mọi công dân vì lúc ấy cần phải vậy.
Sự tập trung cho chiến tranh làm nảy sinh trong xã hội VN dăm sáu chục năm nay một tâm lý thường trực, là chỉ tính chuyện ăn ngay trước mắt. Ngay trong thời kỳ 1946-54, một nền giáo dục thời chiến đã được tổ chức để đào tạo nhân tài. Nhưng cũng vì cần phục vụ ngay nên đó là một nền giáo dục mang nặng tính thực dụng, không muốn và không thấy cần đạt tới chuẩn mực cần thiết.
Tình trạng phi chuẩn này còn được kéo dài mãi và trở nên nặng căn thêm bởi lý do sau đây. Khẩu hiệu của cách mạng là giáo dục phổ cập. Nhưng kinh tế thì chưa bao giờ hết khó khăn để đáp ứng nổi nhu cầu của đại chúng về giáo dục. Ngoài cách pha loãng, làm nhẹ, làm giảm thiểu chất lượng, không còn có cách nào khác.
Theo những quy luật đã chi phối kẻ sĩ thời phong kiến, như vậy là tính háo danh và bệnh vĩ cuồng đã có đủ điều kiện để bắt rễ vào tư duy và nếp sống của lớp trí thức mới được đào tạo.
Nhìn vào giáo dục những năm hoà bình 1954-65, cũng như thời chống Mỹ, thấy số năm học ở phổ thông, ở đại học có thể tăng, một số thầy giáo được đi học ở Nga, Trung Quốc và các nước Đông Âu... Nhưng về căn bản, cái hồn cốt của giáo dục vẫn là chắp vá, tạm bợ, không có khả năng hội nhập với giáo dục thế giới. Các bằng cấp của chúng ta chưa bao giờ được đông đảo các nền giáo dục khác công nhận là một bằng chứng về tình trạng cô lập kéo dài đó.
Giai đoạn “phong cấp, phong tước” thời hậu chiến
Đánh dấu bước ngoặt trong ngành giáo dục cũng như trong quan niệm về giới trí thức là năm 1958 và mấy năm sau. Chịu ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chống phái hữu ở Trung Quốc, và cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn bên Văn nghệ, giới Đại học trước tiên là khu vực khoa học xã hội đã có một cuộc “thay máu”.
Các giáo sư nòng cốt như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trương Tửu và lớp trẻ đầy tài năng như Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc... bị cho thôi việc hoặc chuyển sang các viện nghiên cứu, thực tế là chỉ ngồi chơi xơi nước hoặc làm những việc không quan trọng như dịch tài liệu. Lớp người thay thế được chọn ra chủ yếu theo tiêu chuẩn chính trị.
Ban đầu, nhiều người trong số mới lên này nhũn nhặn, tự nhận là mình chỉ đóng vai trò thay thế, không đòi hỏi gì về chức danh, vui vẻ với đồng lương bé mọn mà vẫn chăm chỉ làm việc, và trong thực tế họ đã đóng vai trò thúc đẩy khoa học tiến tới. Tuy nhiên đến khoảng 1973-74 thì có một tình hình mới.
Trong thực tế giảng dạy và nghiên cứu, nhu cầu chuẩn hoá dù không được đặt ra chính thức, song vẫn như một xu thế mà bất cứ nền giáo dục nào cũng phải hướng tới. Ít ra là bề ngoài ta phải có được hình thức cho dễ coi một chút!
Lại thêm những khía cạnh mới trong tình hình xã hội đòi hỏi điều đó. Cuộc chiến tranh giải phóng bước vào giai đoạn kết thúc. Có một phương án sau này không xảy ra nhưng lúc đó được tính tới, đó là những cuộc đối thoại giữa hai xã hội miền Bắc và miền Nam.
Trong cuộc đối thoại đó, không thể bỏ qua tiếng nói của giới trí thức. Ta cần phải có những giáo sư của ta những trí thức của ta chứ! Phải chứng minh cho phía bên kia thấy rõ là miền Bắc không chỉ biết làm chiến tranh mà còn biết làm học thuật. Và thế là nhu cầu phong cấp phong chức nổi lên, nó là đòi hỏi từ hai phía cả từ bên trong bản thân giới học thuật lẫn nhu cầu của xã hội.
Cái cách của xã hội ta xưa nay vẫn vậy. Thấy cần là làm, không đủ điều kiện cũng làm, làm bất kể phép tắc. Và từ chỗ ban đầu còn chặt chẽ nghiêm túc, sự mệt mỏi và nghiệp dư trong quản lý khiến cho công việc càng về sau càng được làm qua loa dễ dãi, chín bỏ làm mười mà có khi chỉ năm sáu thôi cũng đã coi là mười.
Những người cơ hội kém cỏi chỉ chờ có thế. Họ “lẻn” ngay vào những chỗ đất trống (tôi mượn chữ lẻn từ câu Kiều "Đẩy song đã thấy Sở Khanh lẻn vào” ) và từ chỗ xấu hổ, biết điều, quay ra chủ động thao túng tình hình.
Mỗi chúng tôi đã bị làm hỏng như thế nào?
Cách đây khoảng hai chục năm, tôi đọc được trên tấm danh thiếp của anh C. một người quen, bên cạnh tên tuổi có ghi thêm các chức danh sau đây, mỗi chức danh một dòng, tổng cộng chín dòng.
dòng 1: Nghề anh học ở đại học
dòng 2: Nghề anh đang làm
dòng 3: Chủ tịch Hội....
dòng 4: Tổng biên tập báo...
dòng 5: Đại biểu Quốc hội (năm đó anh đang là một ông nghị)
dòng 6: Thành viên Uỷ ban xxx của Quốc hội
Ngoài ra là ba chức danh nữa, tôi không nhớ xuể nhưng hình như là các loại giải thưởng được trao tặng. Thú thực ban đầu tôi cũng thấy buồn cười, nhưng sau thì thông cảm. Hồi ấy anh bạn tôi sau những nỗ lực bền bỉ, từ công việc chuyên môn được ngắm nghía để cơ cấu vào giới quan chức.
Lớn lên từ đám học sinh Hà Nội rồi thành cán bộ nhà nước, chúng tôi đã nếm đủ những đau xót của một bọn người mang tiếng là người làm nghề sáng tạo trong xã hội, luôn luôn cảm thấy mình có tội vì đã coi trọng việc học.
Đó là về tinh thần. Còn vật chất thì sao? Bao giờ đến lượt được mua xe đạp, bao giờ đến lượt được tăng lương, những việc đó chờ đã mỏi cổ, nói chi đến việc có được một cái nhà, xoay được một chuyến đi ngoại quốc?
Không ai tuyên bố chính thức, nhưng tất cả thực tế hình như đồng thanh rót vào tai mình, chỉ có một cách hết nghèo hết khổ là lọt vào tầm mắt của lãnh đạo.
Trở thành quan chức thì tốt nhất. Nếu không thì cũng phải có được những chức danh trong nghề, nó là cái dấu hiệu đánh dấu mình. Dù có phải luồn cúi chạy chọt một chút song vì cuộc sống bản thân và gia đình, hãy ráng mà giành lấy cho mình những danh vị cần thiết.
Tôi đã nói là cần thông cảm với anh bạn C với tấm danh thiếp chín chức danh của mình. Vì hồi ấy sau khi ghé chân quan trường, đoàn thể, anh đang lo xin đất làm nhà.
Một là, tuy biết trên nguyên tắc trước sau làm quan sẽ sớm được chia nhà, nhưng trong thực tế không đơn giản có ghế là có nhà ngay. Muốn được miếng ngon miếng sốt, còn phải cạnh tranh chán với các vị quan khác thì mới được như ý. Hơn nữa, quan trong văn nghệ là do dân cử, có khi chỉ ngồi được vài năm.
Vốn tính thực dụng, anh bạn tôi hoàn toàn hiểu điều đó. Ngồi chưa ấm ghế, anh bắt tay ngay vào việc xin đất. Mà anh làm thật khôn ngoan. Người khác hách dịch công khai huy động cả cơ quan lo chuyện riêng cho mình. Còn C. thì hoàn toàn lặng lẽ tự mình làm hết. Lặng lẽ viết công văn. Lặng lẽ đóng dấu. Lặng lẽ đến các nơi có liên quan.
Chính tấm danh thiếp chín dòng của C mà tôi dẫn ra ở trên xuất hiện trong thời gian đó. Tôi thầm dự đoán anh bạn đã phải loay hoay rất nhiều trong việc soạn ra danh sách các chức vụ để không quên một chức nào. Đây là tôi nói loại người còn đang hiền lành, nhân biết cái danh có thể đổi ra tiền thì lợi dụng nó.
Lại còn loại người thứ hai là điên cuồng săn đuổi danh vị, sau đó mượn danh vị để tiến thân, ngày càng leo mãi lên trong hệ thống quan chức, dù chỉ là trong phạm vi quan chức chuyên môn. So với họ, anh C. của tôi còn tử tế chán.
Nhưng cả loại người này nữa cũng không phải là “từ trên trời rơi xuống”. Mà họ cũng là sản phẩm của một sự thích ứng - thích ứng với cách đánh giá người và dùng người của xã hội. Nhưng đây là vấn đề thuộc về khoa xã hội học quan chức mà tôi chưa có dịp nghiên cứu.
Trong bài này, trong chừng mực nào đó, tôi đã mở rộng ra nói về thói háo danh và căn bệnh vĩ cuồng mà người mình thường mắc, từ xưa trong hoàn cảnh nhược tiểu đã mắc, tới nay trong hoàn cảnh chớm hội nhập với thế giới bệnh lại trầm trọng hơn. Đây là những quan sát bước đầu, cần sự chia sẻ phản bác của các đồng nghiệp.
Để kết thúc, tôi đưa ra hai kết luận cuối cùng:
Một là hãy thông cảm với những người trong cuộc. Không phải người trí thức Việt Nam sinh ra đã ham chức danh như chúng ta thấy. Hoàn cảnh đẩy họ đến chỗ phải làm vậy.
Hai là, bệnh khó chữa lắm. Vì nó chỉ là một biểu hiện của tình trạng tha hóa trí thức cần được nghiên cứu trên quy mô rộng hơn và có tầm khái quát hơn.
V.T.N / (Nguồn: Tuần Việt Nam)

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

CHIẾC VÉ TÀU ĐƯA BỐ VỂ QUÊ

              *  MINH DIỆN.
             Gần bốn chục năm tôi mới quay lại làng Thông. Đứng tần ngần ở ngã ba Gòn  nơi rẽ vào làng, tôi bỗng  nhớ  cây  gạo  trổ  bông  đỏ rực  mùa hè năm ấy.
Giờ không còn cây gạo ấy, con  đường  làng cũng không còn  rợp  bóng  tre,  nhà cửa san sát hai bên  như  phố thị. Câu ca dao vui  thời  dĩ vãng bỗng như văng vẳng bên tai tôi:
                                     “ Làng Thông trồng đậu trồng cà
                                    Hạt đậu thì đỏ núm cà thì xanh!”
                                       “Mớ đời con gái làng Thông
                                    Cái váy thì mỏng cái mông thì tròn!”
            Gặp bà già cắp rổ rau ra chợ bán, tôi hỏi:
             - Bà có biết nhà bác Đào?
            Bà hỏi lại :
            - Chú hỏi Đào nào?
            - Dạ, Đào là vợ  bác Viên  liệt sỹ!
             Bà  nhìn tôi chăm chú rồi khẽ la lên:
            - Chú Minh! Có phải chú Minh bên Bóng ?
            - Vâng !
            - Không nhận ra chị à? Chị là Đào vợ anh Viên đây!
            Chị Đào buông rổ rau, những mớ rau ngải cứu nhỏ xíu rơi tung tóe ra đường. Tôi sững sờ. Chị Đào đây ư! Có thật là chị Đào? Tôi thầm kêu lên khi nắm bàn tay gầy guộc, mỏng mảnh, nhìn khuôn mặt choắt cheo đầy nếp nhăn dưới vành khăn mỏ quạ lòa xòa những sợi tóc trắng. Cô diễn viên văn công nổi tiếng xinh đẹp  ngày nào đã trở thành một bà lão lưng còng hom hem thế này ư?
             Tôi nói:
             - Chị thay đổi nhiều quá em không nhận ra.
             Chị Đào cười:
             - Chị già lắm rồi phải không chú?
            Tôi biết mình trót lỡ lởi làm chị Đào tủi thân. Nhìn nụ cười buồn  trên đôi môi đỏ thắm quýt trầu của chị, tôi bỗng nhận ra cái duyên thời con gái vẫn chưa dứt bỏ chị. Chị nhặt vội mấy mớ rau bỏ vào rổ rồi quay quả dẫn tôi về nhà. Vừa đi chị vừa  háo hức kể:
             - Cháu Thắm  thỉnh thoảng lại nhắc đến chú. Nó ở với chị. Nó được thằng con trai ngoan lắm. Chính vợ chồng nó đã mang hài cốt của anh chú về  đấy...
             Chị Đào không hề trách tôi nửa lời rằng sao gần bốn mươi năm tôi không  sang thăm chị, dù làng Bóng với làng Thông chả cách bao xa, và năm nào tôi cũng về.  Chị ấy không trách tôi càng cảm thấy ân hận. Đôi khi mình trách người khác vô tình nhưng  bản thân lại tệ hơn .
             Nhà của chị Đào ở cuối xóm. Ba  gian nhà ngói  đơn sơ , phía trước có  mảnh vười trồng  toàn rau ngải cứu. Bàn thờ anh Viên  ở gian giữa ,tấm ảnh đen trắng của anh  đã bạc màu lồng khung kính  đặt cạnh cây nhị.  Tôi thắp ba nén nhang , đứng nghiêm trước  chân dung người đồng đội. Tôi  ngạc nhiên khi  thấy hai  chiếc vé tàu hỏa dán vào ảnh anh Viên.
              Chị Đào bảo:
              - Vé tàu đưa anh chú về quê đấy!
              Chị lấy tay chùi nước mắt , khẽ khàng  lau  khung ảnh và  chiếc bầu nhị nhẵn bóng vết tay người chồng đã hy sinh.
               Chị bảo tôi:
              - Anh Viên còn sống năm nay bảy hai. Anh ấy hơn chú năm tuổi...
               Vâng, anh Viên hơn tôi năm tuổi, nhưng hai anh em  nhập ngũ cùng một ngày.  Khi nhập ngũ tôi mới chỉ là một cậu  học sinh vừa tốt nghiệp cấp III,  anh Viên đã là một  cán bộ văn hóa thông tin .  Anh kẻ khẩu hiệu  đẹp,  kéo nhị rất hay,có  giọng hát  ấm và đóng kịch cũng có duyên. Người ta gọi anh là “ Viên dao pha”  trong đội văn công không chuyên của huyện. Nhờ đa tài như vậy mà anh Viên cua   được chị Đào,  khi con trai làng Thông hồi ấy  hễ thấy chị   đâu là mắt la mày lém, trong đó có anh Châu học Tiệp Khắc về , cưỡi  xe  đạp  favorit  láng coong  bám chị như đỉa . Chị  Đào  vừa đẹp vừa hát hay. Những điệu chèo “Sắp qua cầu”, “ Đường trường thủy chiều”, “ Luyện năm cung” , “ Chầu văn”  chị hát tròn vành rõ tiếng  chất giọng  mượt mà  say lòng người.
             Đêm  liên hoan tiễn chúng tôi lên đường, anh  Viên  và chị Đào  lên sân khẩu diễn trích đoạn một  vở chèo  đôi trai gái yêu nhau , trước ngày nhập ngũ, anh  thanh niên tỏ ra băn khoăn để thử lòng người yêu.  Anh Viên hát điệu sa lệch chênh:
                 “Ai chả biết đi là tiến bộ! Nhưng mẹ già còn đó cậy ai trông?”
                   Chị Đào hát đối: “Anh còn chú bác?”
                  Anh Viêt hát đối lại: “Chú bác chưa thông!”
                  Chị Đào : “Anh còn đoàn thể?”
                   Anh Viên:  “Còn bận việc chung!”
                   Chị Đào: “Thì  đành em  nhận!”
                   Anh Viên: “Lạ đời chưa cưới đã làm dâu ...”
            Chị Đào nghiêng vành nón che đôi  má  thẹn đỏ bừng, đôi mắt  long lanh chứa chan  hạnh phúc. Cảnh và người đều thật, không hề có một tý giả dối nào. Thưở  ấy anh Viên, chị Đào và chúng tôi  hồn nhiên hát, hồn nhiên cười vì chung quanh đều là ánh hào quang rực rỡ.
             Anh Viên và tôi vào đơn vị công binh,đóng quân ở Tam Nông , Phú Thọ được 3 tháng thì tôi đi học sỹ quan, anh Viên được điều lên trung đoàn vào đội tuyên văn. Bẵng đi suốt chín năm,  mùa khô 1974  chúng tôi mới gặp lại nhau.
              Hôm ấy tôi đến tiểu đoàn 739 đang mở tuyến đường  từ  Campuchia  xuyên sang Cà Tum, Tây Ninh, chuẩn bị chiến dịch Hổ Chí Minh, tình cờ gặp anh Viên.  Không ngờ anh  đã rời đội tuyên văn trung đoàn , xuống đơn vị  chiến đấu từ lâu  và hiện  đang làm đại đội phó chỉ huy đơn vị bắc cầu qua suối Bà Chiêm.
             Anh Viên nói:
            - Hồi anh em mình nhập ngũ, tớ  với  Đào đóng kịch hóa ra thật .  Đào giữ lời hứa  chăm sóc mẹ tớ như con dâu, nhưng mãi cuối  năm 68 tớ mới được  về phép  tổ chức cưới. Năm 69 sinh cháu Thắm. Cuối  năm 1970  , trước khi rời đội tuyên văn  xuống đơn vị đi B2,  tớ được về tranh thủ , bé Thắm  đã  biết  nghe  bố kéo nhị  cho  mẹ hát và bập bẹ hát theo... 
             Hai anh em đang nói chuyện thì chiến sỹ đến báo  phát hiện bom nổ chậm dưới bến, anh Viên bảo tôi:
            - Tớ phải đi !
            Anh không kịp bắt tay tôi . Mười phút sau một tiếng nổ dội lên ở phía bến. Linh tình báo điềm chẳng lành, tôi băng rừng chạy xuống .Bến cầu  mù mịt khói bụi, gỗ đá  ngổn ngang ,  mùi thuốc bom khét lẹt. Anh Viên cùng năm chiến sỹ hy sinh, xác  anh bị hất lên một chạng ba cây.
              Tháng 6 năm 1975,từ Sài Gòn,  tôi  mang  chiếc ba lô đựng tư trang và tấm bản đồ một chí của anh  Viên về  cho chị Đào. Chị ôm chiếc ba lô khóc chết ngất, trong khi  cháu Thắm ôm  con búp bê tôi mua cho hỏi  : “Sao bố Viên không về với chú?”
               ... Chị Đào vừa bó  những mớ  rau ngải cứu  vừa kể cho tôi nghe  cuộc sống côi cút  của mẹ con chị ba mươi chín năm qua. Anh Viên hy sinh lúc chị mới ba mươi tuổi , còn trẻ đẹp,  nhiều người đặt vấn đề, nhưng chị thương con, thương anh Viên , nên dứt khoát ở vậy nuôi con, lo hương khói cho chồng và bố mẹ chồng...
               Chị nói:
               - Từ khi chú đưa tấm bản đồ mộ chí anh Viên, chị muốn đi đón  anh vể, nhưng  nấn ná  mãi đến năm tám sáu mới đưa được anh về.
               Sự nấn ná của chị Đào chung quy chỉ vì nghèo. Cái thời hợp tác xã nông nghiệp đã lên bậc cao ấy làng Thông vẫn chỉ có hai vụ lúa . Chị Đào là lao động chính , mỗi vụ  làm được 900 điểm , mỗi điểm được chia  2 lạng thóc ,  nhân lên được 180 kg .  Ngần ấy thóc xay, giã ra  được  126 kg gạo. Hai mẹ con  dẻ xẻn vẫn không đủ  ăn 6 tháng.  Chị Đào phải quai bờ sông, bờ mương trồng thêm khoai  sắn ăn độn.  Chị chủ tâm  dành mảnh   vườn trước nhà trồng rau , mùa nào thức ấy, bán lấy tiền  mua cám nuôi  con lợn , cố  gom góp  dành dụm tiền làm lộ phí vào Nam   bốc mộ anh Viên. Nhưng bé Thắm ốm đau quặt quẹo  nên được đồng nào hết đồng ấy.
                - Năm 1986  mới  dành dụm được hơn trăm đồng cho  cháu Thắm đi đón bố về chú ạ!
                Chị Đào nói và rướm nước mắt. Giữa lúc đó cái Thắm con gái chị đạp xe về.  Mới ngày nào còn là một đứa bé ngây thơ ôm con búp bê hỏi tôi “Sao bố Viên không về với chú?” , giờ Thắm  đã là một phụ nữ đứng tuổi, và gương mặt đã hiện lên những nếp nhăn từng trải lo toan. Tôi nói với Thắm:
               - Năm tám sáu cháu mới mười bảy tuổi mà đi vào tận Tây Ninh mang được hài cốt bố về , giỏi thật!   Ngày vào Nam bố cháu  phải đi bộ vượt Trường Sơn, ngày trở  về được  đi tàu Thống Nhất, chắc  bố cháu vui lắm.
               Tôi không ngờ Thắm đáp lại câu nói vui của tôi bằng lời nói ngắn ngủn, chua cay:
               - Chiếc vé tàu phải trả bằng máu đấy chú ạ!
               - Cái con này! Chị Đào đập tay vào lưng con gái. Tôi hỏi :
               - Chuyện gì sảy ra vậy cháu?
               Thắm kể:
                - Ngày ấy cháu với Thành vừa thi tốt nghiệp phổ thông trung học xong  thì vào miền Namtìm mộ bố cháu.  Chúng cháu cầm tấm bản đồ của chú  đến Tỉnh đội Tây Ninh .  Các chú trong Ban chính sách tra cứu hồ sơ  cho biết hài cốt  bố cháu đã quy tập về Nghĩa trang liệt sỹ. Nhờ sự giúp đỡ của các chú ấy, chúng cháu lấy được hài cốt bố Viên  thuận lợi.  Không ngờ  khi đến  ga Sài Gòn mua vé tàu ra Bắc thì  bị kẻ cắp móc hết tiền.  Thành bảo  cứ  lên tàu, về đến ga Nam Định ,Thành có người quen sẽ mượn tiền mua vé phạt.
               Nhưng chúng cháu vừa ngồi xuống ghế thì cô soát vé đến kiểm tra . Chúng cháu nói thực ,xin được giúp đỡ, nhưng cô ta kêu trưởng tàu đến khám xét. Hài cốt bố cháu gói ni lông, ngoài bọc  cờ đỏ sao vàng  bị trưởng tàu lấy dao rạch ra , nghi hàng lậu. Khi nhìn thấy gài cốt thật, hắn lạnh lùng bảo: “ Có tiền mua vé thì đi, không thì xuống”.
               Chúng cháu bị đuổi khỏi tàu . Giữa  đêm khuya , không biết nhờ ai, cháu cứ ôm chiếc ba lô đựng hài cốt bố  khóc . Đến sáng, Thành bảo cháu ngồi chờ đề Thành đi mượn tiền.  Gần trưa Thành mới về , mặt mũi xám ngắt. Thành nói thực là đã đến bệnh viện bán máu . Số tiền Thành bán máu vừa đủ mua hai chiếc vé tàu hạng bét để  đưa bố cháu về quê !
                Thật cay đắng  cho số phận một người lính.  Căm giận cô kiềm soát vé và gã trưởng bao nhiêu tôi cảm thấy yêu thương và khâm phục Thành bấy nhiêu. Nhưng rồi tôi bị hụt hẫng khi chị Đào cho biết , Thành và Thắm  đã ly hôn gần mười năm rồi.
                Chị Đào nói:
                - Thằng Thành  từ khi được  làm cán bộ xã rồi lên huyện , có chức có quyền có tiền sinh ra ăn nhậu , gái gú bỏ vợ chú ạ.  Người tử tế mấy vào con đường ấy cũng  hỏng .
                Tôi hỏi Thắm:
                - Con cháu đâu?
                - Ra  Quảng Ninh nhặt than chú ạ!
                - Nó tốt nghiệp bách khoa sao lại nhặt than?
                - Không xin được việc  phải nhặt than  kiếm ăn chứ chú?
                Tôi cười xuê xoa:
                - Thế nào rồi ông ngoại Viên linh thiêng  cũng sẽ  phù hộ cho cháu có việc làm đàng hoàng!
               Thắm nói ngay không đắn đo:
               - Tiền bạc mới linh thiêng chú ạ!
               Chị Đào  cho tôi biết , mỗi ngày chị  bán  chục mớ rau ngải cứu  được ba chục ngàn, còn Thắm đi làm thuê cho xưởng chế biến thức ăn gia súc trên thị trấn, mỗi tháng được  triệu rưỡi. Hai mẹ con cố gom góp  100 triệu để thế chân cho cháu ngoại anh Viên sang Nhật làm thuê.
               Chị Đào mời tôi ăn cơm nhưng tôi không thể nuốt nổi.  Miếng chả trứng rau ngải bỏ vào miệng đắng ngắt. Vợ và con người liệt sỹ ngồi kia vừa  gần gũi vừa xa cách nhau, một người cố nín nhịn đề đi hết cuộc đời còn lại,  một người muốn bung xé đề giải thoát, nhưng đều bế tắc.  Tôi đứng trước tấm hình anh Viên, thầm nói với anh:
               - Những thứ anh em mình tưởng là vàng son hó a ra chỉ là ảo ảnh thôi anh ạ!  Có lẽ chả bao giờ tìm lại niềm vui từ những câu ca dao  : “ Làng Thông trồng đậu trồng cà. Hạt đậu thì đỏ núm cà thì xanh. Mớ đời con gái làng Thông. Cái váy thì mỏng cái mông thì tròn”.
                    M D
--------------