Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013
Cạn nước mắt sau siêu bão
Như thế, Hữu Thỉnh có 'đạo thơ'?
wind antworte mir
ich bin sagt der wind
bin bei dir
sonne antworte mir
ich bin sagt die sonne
bin bei dir
antwortet mir
wir sind sagen die sterne
alle bei dir
antworte mir
ich rufe – es schweigt
nichts antwortet mir
Gió với em thế nào?
- Gió luôn ở bên em.
Mặt trời với em thế nào?
- Mặt trời luôn ở bên em.
Các vì sao với em thế nào?
- Các vì sao luôn ở bên em.
Con người với em thế nào?
- Con người im lặng không ai trả lời tôi.
Gió hãy trả lời tôi
Gió nói
Tôi ở bên em.
Mặt trời hãy trả lời tôi.
Mặt trời nói
Tôi ở bên em.
Xin hãy trả lời tôi
Các vì sao nói
Chúng tôi ở bên em.
Xin hãy trả lời tôi
Tôi gọi – im lặng
Không ai trả lời tôi.
- Chúng tôi tôn cao nhau.
- Chúng tôi làm đầy nhau.
- Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời.
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
- Chúng tôi nhường cỏ cho nhau.
- Chúng tôi ủn ỉn cùng nhau.
- Chúng tôi sủa cùng nhau.
Điều gì cản bước Việt Nam phát triển ?
Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011
Cưới xin thời bao cấp
Bạn bè cùng lứa với mình, bây giờ đứa nào cũng đến lúc phải cưới vợ gả chồng cho con cái. Có ngày mình phải chạy xô ba đám cưới, mệt bã người. Đám nào cũng hăm hở bỏ phông bao, loanh quanh cho gia chủ thấy mặt mình, rồi chuồn. Chẳng biết người khác thế nào chứ mình sợ nhất phải ăn cỗ cưới và cỗ đám ma. Cứ sáu người một mâm, chẳng ai quen ai, nói cười nhàn nhạt, chán mớ đời. Đám ma bây giờ ít ai bày biện ăn uống, chỉ cần đến viếng xong là về. Nhưng đám cưới vẫn phải ăn. Chẳng hiểu từ khi nào lễ cưới được gọi là ăn cưới, hễ cưới là ăn, không ăn không xong. Ngay bây giờ tại Hà Nội, làng gì đó quên mất tên rất gần Ngã Tư Sở, ăn cưới phải đủ 3 ngày 3 đêm, lệ làng xưa nay vẫn vậy, đám cưới nào cũng phải đủ trăm gà ba heo. Kinh.
Nói vậy thôi, cưới xin bây giờ không là vấn đề lớn, chỉ mệt người thôi chứ tiền nong cũng chẳng phải lo lắm. Tiền mừng thường vẫn nhiều hơn tiền bỏ ra làm đám cưới. Ngày xưa khác, ít người mừng tiền, giả có mừng tiền cũng vài đồng chiếu lệ. Đa số chỉ tặng quà, sang thì phích Trung Quốc, chậu nhôm Liên Xô, hèn thì cuốn sổ tay, cuốn lịch, tấm tranh, thế thôi. Thành thử đa phần tiền đám cưới bỏ ra đều không thu về được. Làm cái nhà tốn kém vài chục ngàn, đám cưới cũng tốn cỡ đó, có khi hơn.
Ba mạ mình có 8 đứa con, 6 trai 2 gái, lo cho xong 8 đám cưới cũng đủ sạt nghiệp. Cứ xong một đám cưới cho con, ba mạ mình lại ôm một cục nợ. Ba mình nợ nần suốt đời, trước khi mất chừng một năm ông mới trả xong nợ. Mình nhớ hôm tuyên bố hết nợ ông vui lắm, nói cười suốt ngày. Ông làm một con gà ăn mừng. Làm xong gà thì sực nhớ trong nhà không còn gì cả. Ông chạy sang nhà hàng xóm vay tạm mấy đồng cho mạ mình đi chợ. Ra đến cổng ông đứng sững lại rồi đi vào, nói luộc gà chấm muối, không nợ, kiên quyết không nợ. Lần đầu tiên trong đời ông rót rượu mời mình, chạm cốc với mình, thúc dục mình uống. Trước đó thì đừng hòng, ông luôn hằm hè chuyện rượu, thuốc của mình. Ông chạm cốc cái cạch, ngửa cổ cạn chén rượu, khà một tiếng khoan khoái, nói tám đứa con đã có gia đình, ba mạ trả hết nợ, rứa là ba chết được rồi con ạ. Tưởng ông nói cho vui, ai ngờ mấy tháng sau thì ông mất.
Kể vậy để nói ngày xưa chuyện cưới xin là cả một vấn đề. Ba mình còn vay nợ được chứ nhiều người chẳng cho ai cho vay, vay được cũng chẳng biết lấy gì mà trả. Chuyện trai ế vợ vì nhà nghèo không có tiền cưới xin ngày xưa thì nhiều lắm. Mình có thằng bạn học cấp 2, 35 tuổi rồi vẫn chưa vợ. Nó yêu ba bốn cô, cô nào đến đoạn cưới xin đều tắc tịt. Một hôm nó ngồi với mình, nhắc đến chuyện vợ con nó thở hắt ra, nói è he, ẻ vô vợ con mần chi cho nhọc. Mình hỏi răng rứa, nó nói tao đã chọn mấy con xâu đui, ế câm ế cảy, rứa mà vẫn không lấy được. Mình lại hỏi răng rứa, nó lại thở hắt ra, nói è he, tiền để mần một mâm cau trầu ăn hỏi cũng nỏ có, nói chi chuyện cưới xin.
Năm sau mình về làng, nó rủ đi xem mặt một cô đẹp cực. Mình nói mấy con xấu đui còn không lấy được, răng mi đòi lấy con ni. Nó ngồi đực mặt, nói trời bắt tao lấy, tao chết héo vì yêu nó mi ơi. Nó ngồi im hồi lâu, nhìn xa ra bãi cát sau làng, nói con ni mà tao không lấy được thì tao tự tử. Nhìn mặt nó biết nó nói rât thật mình đâm lo. Lâu lâu lại viết thư về mấy đứa bạn cùng làng, hỏi xem nó đã chết chưa. Chẳng dè cuối năm về, nó tới nhà đưa thiếp tết mời đám cưới. Mình quá ngạc nhiên, nói răng mi có tiền cưới vợ, tài rứa. Nó cười he he he, nói trời bắt tao cưới vợ thì trời phải cho tao tiền chớ. Nó kể đêm đó đem nàng ra bãi cát mần một trận đã đời, đưa nàng về nhà xong, lội bộ bãi cát về nhà lòng buồn như chấu cắn vì biết chắc rồi sẽ không cưới được nàng. Khi bên nàng thì ba hoa xịt bộp, nói anh sẽ anh sẽ anh sẽ, rời khỏi nảng mới sực nhớ nhưng nhà nghèo rớt mồng tơi, biết lấy gì để mà sẽ. Nó đứng tựa gốc phi lao đứng đái, bỗng lòi ra cái gì sang sáng, cầm lên hoá ra một cái nhẫn vàng hai chỉ. Rõ là trời cho, may quá là may. Hai chỉ vàng đủ làm một đám cưới to, xôm trò ra phết, cái thằng thế mà tốt phúc.
Thời bao cấp đám cưới nào cũng giống nhau. Phông chính giữa hôn trường cắt dán đôi bồ câu cắn mỏ nhau bay trên chữ phúc to đùng, bên kia là tên cô dâu chú rể lồng nhau treo dưới cái đèn lồng. Luôn luôn có hai khẩu hiệu, một là Vui duyên mới không quên nhiệm vụ. Câu này không thể thiếu ở bất kì đám cưới nào, thường được treo ở phông chính như một huấn thị của cấp trên. Chẳng biết nhiệm vụ gì, cứ phải không được quên, hi hi. Câu thứ hai là Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn. Câu này đám có đám không, thường treo bên nách hoặc ở cuối hôn trường.
Lễ cưới thời bao cấp nửa họp nửa mét tinh, thường có năm mục. Thứ nhất MC giới thiệu cô dâu chú rể và lý do có đám cưới, đại loại được sự nhất trí của các cấp chính quyền và gia đình hai bên, trong không khí vui tươi phấn khởi đón chào Đất nước vào xuân… Bất kì cưới mùa nào thì ông MC cũng nói Đất nước vào xuân. Kế đến là lãnh đạo lên phát biểu ý kiến, giao nhiệm vụ cho cô dâu chú rể. Sau đó là cô dâu chú rể lên hứa xây dựng hạnh phúc gia đình. Tiếp theo là đại diện họ nhà trai lên cảm ơn lãnh đạo và bà con hai họ. Cuối cùng là liên hoan văn nghệ.
Đầu tiên ông MC ra miệng nói tay khua, nói năng như tép nhảy, hết đọc ca dao đến đọc thơ, đám nào ông cũng chừng đó câu thơ, chừng đó câu ca dao, rồi ghép tên cô dâu chú rể vào, bất kể thất vần trật âm cũng cố ghép cho bằng được. Mình nhớ đám cưới cái Tâm bạn mình, nó cưới anh Địch bộ đội phục viên ở xóm dưới. Cái vần ịch rất kẹt vì dân Quảng Bình thường nói âm ịch ra âm ịt, vì thế chưa bao giờ mình nói quân địch, khi cần phải nói thì nói quân thù, hi hi. Hôm đó ông MC tay khua miệng nói, ngâm nga câu ca Ôi hạnh phúc có khi nhiều khi ít/ Tâm xinh tươi cùng Địch đẹp trai, mọi người cười ầm ầm.
Thỉnh thoảng mình gặp cái Tâm lại trêu nó, nói “cùng địch đẹp trai”, thích nhỉ. Nó cười he he he đấm mình, nói tao bắt lão đổi tên Đích rồi, tên Địch nhiều khi bị hiểu lầm, tức lắm. Nó kể cưới xong nó ra Phủ Lý học trường Trung cấp truyền thanh. Một hôm vào phòng giáo vụ khai báo chuyện gì đó. Ông giáo vụ hỏi chồng cô tên gì, nó nói dạ Địch. Ông này trợn mắt đập bàn, nói tôi hỏi chồng cô tên gì chứ không hỏi cô cưới chồng để làm gì, rõ chưa!
Lãnh đạo càng to đến dự thì đám cưới càng sang. Thời này chắc cũng thế nhưng người ta chỉ đến dự thôi chứ chẳng phải nói năng gì. Thời bao cấp lãnh đạo đến để phát biểu và giao nhiệm vụ, dứt khoát phải như vậy. Thường thì bí thư chi bộ lên phát biểu là oách rồi, được bí thư Đảng uỷ xã đến phát biểu ý kiến là mơ ước của bất kì gia đình nào có đám cưới.
Hồi mình ở làng Đông, đám cưới chị Hoa là con gái của một ông đội trưởng. Cả làng xôn xao về việc nhà chị Hoa mời được Bí thư Đảng uỷ xã đến dự. Nhà chị Hoa đứng bồn chồn trước ngõ ngóng ông, mặt mày ai nấy vô cùng nghiêm trọng, chỉ lo ngộ nhỡ có chuyện gì ông không đến được. Giấy mời đám cưới lúc 8 giờ sáng, chừng 10 giờ trưa ông đến, khi đó đám cưới mới bắt đầu. Hôn trường đang ồn ào náo nhiệt, ông bước vào cái là im phăng phắc, tất cả ngoảnh mặt nghiêm trang nghe ông nói. Ông này có tật nói dai kinh khủng. Mới đầu thì bảo tôi xin phát biểu đôi câu nhưng rồi ông nói cả đôi trăm câu. Vừa nói điểm thứ hai, xong rồi lại điểm thứ hai, rồi lại điểm thứ hai, cứ điểm thứ hai liên tù tì cả giờ chưa dứt.
Đang nói ông bỗng dừng lại ngoảnh mặt xuống hôn trường, nói hạnh phúc là chi bà con. Mọi người im thin thít, không ai dám ho he. Ông cười cười nói câu hỏi đơn giản rứa mà không ai trả lời được là răng hè. Rồi ông mạnh tay chém gió, nói hạnh phúc là vô cùng sung sướng, rứa thôi, đơn giản rứa thôi. Ông ngửa cổ cười khe khe khe, chẳng ai cười cả, chỉ mình ông cười khe khe khe. Đến khổ, hi hi.
Một vài hình ảnh cưới hỏi thời bao cấp.
Ăn hỏi.
Đón dâu.
Hôn trường.
Còn đây là cảnh chú rể Lập đi mời thuốc bà con hai họ, he he
Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011
Báo cáo gửi cụ Rùa
Nửa đêm rồi mà Ngu Ngơ không ngủ, đèn bạt sáng ngồi hí hoáy viết. Mũm Mĩm mở mắt càu nhàu, nói khuya rồi còn không đi ngủ, viết gì viết lắm thế. Ngu Ngơ nói anh đang viết báo cáo gửi cụ Rùa. Mũm Mĩm tròn mắt ngạc nhiên, nói anh lại nghĩ ra trò gì vậy ta. Ngu Ngơ cười khì khì, nói trò gì, anh viết để động viên cụ Rùa thôi. Mũm Mĩm chồm dậy cười hi hi hi, nói đâu đâu, cho em xem với.
Ngu Ngơ nói để anh đọc cho mà nghe. Rồi Ngu Ngơ hắng giọng đọc to, nói thưa cụ, cháu là Nguyễn Ngu Ngơ công dân Bờ Hồ, đồng hương của cụ. Được biết cụ ốm đau, già yếu, bị thương, bị lỡ loét toàn thân, tình hình rất nguy cấp, khiến thiên hạ bàn tán xôn xao. Các đồng chí lãnh đạo to nhỏ ai ai cũng quan tâm đến cụ. Hiện đã tổ chức hội thảo quốc tế, đã thành lập Ban khẩn cấp cứu cụ gồm các giáo sư, các chuyên gia đầu ngành. Báo cáo cụ như vậy để cụ yên tâm phấn khởi và tin tưởng.
Các đồng chí cấp trên đang ra sức đau khổ, ra sức bàn bạc và ra sức trả lời phỏng vấn. Còn các giáo sư tiến sĩ, các chuyên gia đầu ngành đang hội thảo cụ ốm hay cụ già, cụ bị bệnh hay bị thương, cụ bị viêm loét hay bị rùa đỏ tấn công, các tham luận khoa học đều đặt giả thiết, chứ không có một ai quả quyết. Sở dĩ tất cả đều ngồi trên bờ ăn ốc nói mò bởi vì đó là vấn đề khoa học, vấn đề trách nhiệm của xứ ta.
Các giáo sư, các chuyên gia đầu ngành cũng đưa ra các biện pháp rất chi là khoa học, nào là đề xuất lấy mẫu DNA, nào là đề xuất gắn chíp điện tử, đề xuất tắm thuốc, đề xuất giải phẫu, v.v… để chữa trị cho cụ. Có giáo sư còn đăng đàn một tham luận rất chi là khoa học, phân tích cực kì sâu sắc rằng cụ quí hiếm như thế nào, chủng loại gì, giá trị sinh học ra sao…Nghe đến đây chắc cụ sẽ thắc mắc, nói sao lại phải họp, sao lại phải hội nghị quốc tế. Nếu trong nước không có ai cứu chữa được thì thuê một chuyên gia nước ngoài về chữa trị, thế là xong, việc gì bày ra hội nghị hội ngáo, báo cáo báo chồn mất thời gian tốn kém? Thưa cụ, cụ chớ có thắc mắc. Cấp trên của cháu rất ghét thắc mắc, đồng thuận là điều cấp trên chúng cháu muốn nghe. Cụ chớ có dại mồm thắc mắc, cấp trên của cháu mà nổi giận thì chẳng những cụ không được chữa trị mà còn phải làm kiểm điểm.
Cụ phải hiểu rằng cụ là rùa, chứ không phải là người xứ ta, cụ càng không phải các giáo sư tiến sĩ, giáo sư đầu ngành xứ ta nên cụ không thể hiểu họp hành quan trọng như thế nào. Họp để chứng tỏ trách nhiệm với cấp trên, để lấy tiền Nhà nước tiêu xài thoải mái mà không ai thắc mắc. Họp để nếu cụ chết thì không ai chịu trách nhiệm. Tính tập thể, tinh thần trách nhiệm của họp là như vậy đó cụ.
Mấy chục lần cụ ngoi lên mặt hồ để cầu cứu, hình như cụ muốn được đưa lên bờ để chữa trị. Cấp trên của cháu, các giáo sư tiến sĩ, giáo sư đầu ngành rất thấu hiểu lòng cụ. Nhưng đây lại là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế. Đưa lên để làm gì, đưa lên như thế nào, đưa lên bao nhiêu lâu, đưa lên thời điểm nào.. là những đề tài nghiên cứu rất chi là khoa học, cần có nhiều thời gian, rất nhiều thời gian.
Vì vậy cháu viết báo cáo này để cụ biết rõ tình hình là… rất tình hình, mong cụ hết sức phấn khởi tin tưởng, yên tâm chờ... chết!
Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011
Nhớ Hoàng Ngọc Hiến
Gần tết mình bay ra Hà Nội, vừa rời máy bay, bật mobile đã thấy 8, 9 tin nhắn báo tin: “ Thầy Hoàng Ngọc Hiến đã mất lúc 23h ngày 24.1.2011″. Tất cả các tin nhắn đều là các nhà văn, có người học với anh, có người không học với anh một giờ nào như Phạm Xuân Nguyên cũng gọi anh bằng thầy. Mình cũng vậy, chưa được học với anh một giờ nào nhưng mình luôn coi anh là thầy, như mình đã từng coi Hoàng Phủ Ngọc Tường là thầy vậy.
Thực ra mình đã bỏ qua nhiều cơ hội để được học với Hoàng Ngọc Hiến ở Trường viết văn Nguyễn Du. Khoá I thì không dám mơ vì không thể đấu lại với các nhà văn “ đại ca” lớp trước, toàn là những tài năng văn chương thời chống Mỹ. Khi đó mình còn nhỏ, mới võ vẽ làm thơ chẳng có tiếng tăm gì, chỉ dám nép cửa sổ nghe anh giảng. Các khóa sau hoàn toàn có thể thi đỗ vào Trường nhưng khi thì bận đi lính, khi thì bị tai nạn giao thông, khi thì vừa mới vào làm công sở không dám xin đi học, thành ra lỡ mất các dịp Nhà trường tuyển sinh. Năm 89, 90 chi đó anh Phạm Vĩnh Cư và Tạ Duy Anh về Quảng Trị vào nhà mình “dụ dỗ” mình đi học. Anh Cư còn nói tụi mình đang muốn cậu làm lớp trưởng khoá tới. Hi hi. Nhưng khi đó hai đứa con còn nhỏ quá, vợ thì không có việc làm nên mình đành chịu. Bây giờ nghĩ lại cứ tiếc mãi.
Cho nên mình chỉ được nghe lóm anh Hiến dạy thôi. Hồi đó mình học Bách Khoa, hôm nào có tiết hay thầy giỏi thì chị Dạ ( Lâm Thị Mỹ Dạ) lại nhắn lên Trường để mình đứng nghe lóm. Mình đã đứng sau cửa sổ nghe lóm rất nhiều giờ. Cái trò nghe lóm như ăn vụng vậy, rất thích. Nghe đến đâu thấm đến đó. Lần đầu tiên mình biết S.Freud là ai, thuyết phân tâm học là gì. Chưa bao giờ mình nghe ai nói về phân tâm học của S. Freud dễ hiểu và hấp dẫn như Hoàng Ngọc Hiến. Chỉ một giờ đứng nghe lóm thôi mà mình sáng ra biết bao điều. Sau này mò sách về phân tâm học, toàn sách của miền Nam in, đọc thấy rối mù chẳng hiểu gì cả, phải nhờ anh Tường ( Hoàng Phủ Ngọc Tường) giảng mãi mới hiểu.
Hồi đó nhìn thấy anh Hiến thì sợ lắm, chỉ dám đứng xa xa nhìn, không dám đến gần. Mãi đến cuối năm 1985 mới được ngồi trò chuyện với anh. Hôm đó anh Tường ngồi nhậu với anh ở quán rượu nhỏ gần Trường, khi mình đến thì hai anh đã nhậu lâu lắm rồi. Anh Tường cứ rượu vào là nói lia xia, anh Hiến tay gắp thức ăn miệng nói đúng đúng đúng. Anh Tường nói gì anh cũng đúng đúng đúng, tuồng như anh không quan tâm đến anh Tường nói gì, chỉ say sưa gắp gắp gắp đúng đúng. Rất vui.
Anh Tường vỗ vai mình giới thiệu với anh Hiến, nói đây là Nguyễn Quang Lập. Anh ngước lên mở to mắt nhìn mình, nói a thế à. Tưởng như mọi đàn anh khác khi mới gặp mình, thể nào anh cũng nói tớ đọc của cậu rồi, được lắm. Hoá ra không. Anh lại cúi mặt gắp gắp gắp đúng đúng đúng với anh Tường. Mình hơi bị thất vọng, nghĩ bụng anh “ A thế à” vậy thôi chứ chẳng đọc của mình chữ nào. Mãi khi đĩa mồi sạch bách, anh thong thả lấy giấy lau miệng, nói này cậu, cái Tiếng lục lạc là một chuẩn truyện ngắn đấy. Nhưng sao lại có chức danh trợ tá? Tôi hỏi mấy ông bác sĩ rồi, họ nói ở bệnh viện chẳng có chức danh nào là trợ tá cả. Mình thú thật, nói đó là y tá giúp việc cho bác sĩ, nhưng viết thế dài dòng quá nên em gọi bừa là trợ tá. Anh lại mở to mắt nhìn mình, nói a thế à. Nhưng mà từ chuyên ngành của người ta thì mình không nên bịa, có bịa cũng phải chú thích.
Chỉ chừng đó thôi mình đã hãi anh. Đọc thấy một từ lạ thì đi tra, tra không được thì đi hỏi đấy là bài học đầu tiên mình học từ anh. Sau này quen anh rồi, nhiều lần ngồi nói chuyện cùng anh mới thấy bệnh qua loa đại khái, thói giấu dốt của mình thật đáng xấu hổ. Anh nói tu bổ kiến văn như ăn cơm vậy. Nếu mắc xương thì lo khạc ra rồi mới ăn, cứ để đấy ăn liều thì chẳng những bữa cơm không ngon mà chẳng tác dụng gì, vì mình không ăn mà nuốt sống. Nếu không biết điều gì là anh hỏi ngay, hỏi cả những người thua anh cả chục bậc về đẳng cấp chẳng hề sợ người ta chê mình dốt. Có lần nghe anh hỏi một người anh đã chê dốt trong một bài phỏng vấn nổi tiếng. Mình quá ngạc nhiên, nói anh chê nó dốt kia mà? Anh nói thì nó dốt thật chứ sao, nhưng cái điều này nó biết mà mình không biết thì mình hỏi, có gì đâu. Anh hỏi và a thế a đầy ngơ ngác, rồi đúng đúng đúng đầy sảng khoái, cứ như anh vừa lạc vào một thế giới văn minh nào đó.
Nhưng chớ có nghe anh a thế à, đúng đúng đúng mà tưởng bở. Có lần mình ngồi nói chuyện với anh, hình như nói về cái Văn học phải đạo của anh thì phải. Mình nói lia xia, anh mắt mở đầu gật, hết a thế à lại đúng đúng đúng. Mình sướng lỗ rốn nói càng bốc. Đến khi anh nói lại thì hoá ra hầu hết ý kiến của mình hoặc rất ấu trĩ hoặc sai bét. Anh cứ a thế à vậy thôi nhưng khi anh đưa ra ý kiến của mình thì bao giờ cũng có một cái gì đó rất độc đáo, bất luận vấn đề gì.
Nói chuyện a thế à, đúng đúng đúng của anh, có lần mình nghe chị Nga, vợ anh, kể mới vui. Thời anh chị mới cưới nhau, nửa đêm không thấy anh lên giường, cứ đi lại lầm bẩm mãi một điều gì đó. Sốt ruột, chị nói khuya rồi, không đi ngủ cứ đi đi lại chóng cả mặt. Anh quay lại cúi xuống mở to mắt nhìn chị, nói a thế à, đúng đúng đúng. Xong rồi anh lại vẫn đi lại lẩm bẩm, không chịu lên giường. Điên tiết, chị vùng dậy dài giọng dẩu môi, nói a thế à, đúng đúng đúng. Anh lại quay lại cúi xuống mở to mắt nhìn chị, nói a thế à, đúng đúng đúng. Hi hi. Viết đến đây nhớ chuyện anh Mạnh ( Nguyễn Đăng Mạnh) kể một hôm anh đến chơi nhà thấy vợ chồng anh cãi nhau chuyện gì đó. Chị Nga đang mắng anh Hiến, nói ngu lắm. Anh Hiến mở to mắt nhìn chị, nói a thế à. Chị Nga nhảy chồm chồm chồm, nói ngu lắm lắm ngu lắm. Anh Hiến gật gù, nói đúng đúng đúng. Chị Nga lườm cái, dẩu môi dài giọng nói a thế à, đúng đúng đúng, ngu ngu ngu, rồi bỏ đi. Anh Hiến kéo tay anh Mạnh mặt mày nghiêm trọng, nói này, ông thấy không, vợ chửi mình ngu cũng giống như mình chửi Đế quốc Mỹ ngu ấy mà, đúng không.
Chị Nga rất yêu anh Hiến, tính chị xồn xồn, động chuyện gì là nói ngay không nhịn được, bất kể khi đó có khách hay không. Chị vẫn hay mắng anh ngu vì những niềm tin quá ngây thơ của anh. Mình cũng rất ngạc nhiên là một người trí lự phi thường, tư duy thậm logic lại thiên kinh vạn quyển như anh đôi khi lại tin vào mấy thứ tào lao, ai cũng thấy phi lý, chỉ có anh là không.
Một dạo mình bị đại tràng, đau bụng rất khó chịu. Anh biết tin gọi điện cho mình nói có một loại thuốc hay lắm, rất thần kì, để tôi gửi cho cậu. Cậu phải uống ngay, uống thật đều thế nào cũng lành. Anh nói say sưa cả giờ về thứ thần dược này. Đã quá quen với mấy món ‘thần dược” mà lâu lâu anh lại giới thiệu cho mình, mình dạ dạ cho qua chuyện. Anh cho người mang xuống Linh Đàm cho mình một gói thuốc bột kèm theo một tài liệu giới thiệu loại thuốc này, toàn là những quảng cáo tào lao xịt bộp. Đại loại tổng thống nước này ung thư di căn uống ba liều thì khỏi, nhà sư ngã gãy lưng vừa uống thuốc này vừa hoà thuốc với nước chanh bóp ba tháng thì lành… y chang tài liệu Niệu liệu pháp mình đã đọc ngày xưa. Mình gọi điện cho anh, nói anh ơi tài liệu tào lao thế mà anh cũng tin à. Anh lặng đi vài giây, nói à thế a. Lại lặng đi vài giây, nói nhưng tài liệu này là chuẩn của nó đấy. Rồi ngày nào cũng gọi điện hỏi, nói uống chưa, uống đi. Mình đem gói thuốc sang cho ông dược sĩ hàng xóm. Ông ngửi ngửi nếm nếm rồi cười phì, nói men tiêu hoá thôi mà, có gì đâu. Mình gọi điện cho cho anh, chưa kịp nói anh đã rối rít nói ngay, nói tôi biết rồi, tôi biết rồi, đang định gọi điện cho cậu đây. Mình cười khì khì, nói ôi anh Hiến ơi là anh Hiến. Anh cũng cười khì khì, nói a thế à.
Tại đám tang đưa tiễn anh về trời, sau điếu văn của anh Hữu Thỉnh, người em của anh Hiến lên nói lời cảm tạ. Ông nói nhiều về anh Hiến, trong đó có câu: Anh Hiến của tôi vừa là một nhà giáo chuẩn mực vừa là đứa bé ngây thơ giữa cuộc đời. Khi ông nói đến câu này tự nhiên mình bật khóc.
Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2011
QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN
THANH CHUNG
Sau khi mở cửa chợ Tết một tuần ở chiếu rượu Quê Choa, Bọ Lập khai bút đầu xuân với tạp văn “Những con rạm bè sông Gianh”.
Khi con đường trước mặt mỗi năm một ngắn đi, người ta hay ngoái lại phía sau cũng là điều dễ hiểu. Dạo này mình rất hay nhớ lại những ước mơ thuở nhỏ. Chẳng hạn như lúc lên bốn, lên năm, chỉ mong lọ muối biến thành lọ đường để bát cháo ngô buổi sáng được trộn đường đến ngọt lịm mà không cần phải xin phép mẹ. Mình nhớ từng ao ước sau một đêm ngủ dậy sẽ biến thành cô bé thiếu nhi Liên xô, mặc váy hồng với hai chiếc nơ vừa to vừa xinh cài trên hai bím tóc như trong một tờ họa báo. Lúc còn bé, mình luôn phải mặc thừa quần áo của các anh các chị. Nhà mình ở thành phố, nhưng ký ức vẫn đọng lại một nhánh con sông Kinh Thầy ngày đi sơ tán:
Tuổi thơ tôi có bát cơm, quả trứng bên sông
Cho bạn tôi, một buổi chiều tắm sông nước xiết
Lũ trẻ chúng tôi, chạy dọc theo bờ đê mải miết
"Tuệ ơi, về ăn cơm..."
***
Mình ám ảnh bài viết của Bọ Lập không phải vì tuổi thơ cơ cực của Bọ và những bạn bè cùng trang lứa. Cũng chẳng phải vì những con “cá ngạnh nối đuôi nhau bơi đen đặc dòng sông”, hay vì chiếc “bè rạm to lớn, đến vài vạn con”. Mình từng chứng kiến trận lụt kinh hoàng khi tất cả mọi người phải lánh ra sân kho hợp tác xã. Trẻ con, dù bị giữ chặt ở trên những chiếc bàn đặt trên giường vẫn cố tình thò chân xuống khua nước, cười đùa. Mình cũng từng chứng kiến hố bom sâu hoắm trước cửa nhà. Mấy chị em cái Liễu, bằng tuổi mình, bị văng đi mỗi nơi một mảnh. Mỗi lần nhớ lại tuổi thơ khốn khó mình thường tự nhủ: chiến tranh phải thế!
Hai mươi năm sau, mình đi làm dự án cho một tổ chức Phi chính phủ ở một tỉnh miền núi phía Bắc. Trẻ con giữa mùa đông - vẫn cởi truồng – tím tái vì lạnh - chạy theo xe “ông Tây” xin kẹo. (Hồi đó tụi mình mỗi lần đi xuống dự án đều mang theo mấy cân kẹo Hải Hà); Thanh niên dân tộc mười bảy mười tám tuổi đi khám nghĩa vụ quân sự không biết chữ phải dùng ngón tay điểm chỉ. Đất nước đã hòa bình gần hai mươi năm. Mình không hiểu nổi tại sao lại thế. Ba mươi năm sau, đọc báo thấy trẻ con đi học bị đắm đò chết đuối; trẻ con đu dây đến trường; trẻ con không đủ quần áo ấm phải xúc cát trong giờ ra chơi cho đỡ lạnh… thì lại càng không hiểu nổi. Chúng ta đang tiến lên hay lùi xuống?
Hôm qua, trong bữa ăn, mình vừa kể cho con gái nghe vừa khóc. Cô bé mười ba tuổi trong vụ chìm đò ở Quang Hải đã quyết định buông tay mẹ ra rồi lặng lẽ chìm xuống đáy sông Gianh. Cô bé muốn mẹ sống để còn lo cho các em còn nhỏ. Trong đời, ai cũng phải đứng trước những quyết định trọng đại, khó khăn. Nhưng người lớn chúng ta có tội khi bắt cô bé mười ba tuổi làm một việc quá sức mình như vậy.
Giá như các vị quan chức khi thấy mình bất lực, không lo nổi cho dân cũng dũng cảm như cô bé - Lùi lại phía sau nhường chỗ cho những người thực tài lên thay. Có lẽ đời sẽ bớt đi những số phận như cô bé nằm dưới sông Gianh; và cũng bớt đi những câu hỏi “vì sao lại thế?”.




















