Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhật ký để ngỏ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhật ký để ngỏ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011

Báo cáo gửi cụ Rùa

Nửa đêm rồi mà Ngu Ngơ không ngủ, đèn bạt sáng ngồi hí hoáy viết. Mũm Mĩm mở mắt càu nhàu, nói khuya rồi còn không đi ngủ, viết gì viết lắm thế. Ngu Ngơ nói anh đang viết báo cáo gửi cụ Rùa. Mũm Mĩm tròn mắt ngạc nhiên, nói anh lại nghĩ ra trò gì vậy ta. Ngu Ngơ cười khì khì, nói trò gì, anh viết để động viên cụ Rùa thôi. Mũm Mĩm chồm dậy cười hi hi hi, nói đâu đâu, cho em xem với.


Ngu Ngơ nói để anh đọc cho mà nghe. Rồi Ngu Ngơ hắng giọng đọc to, nói thưa cụ, cháu là Nguyễn Ngu Ngơ công dân Bờ Hồ, đồng hương của cụ. Được biết cụ ốm đau, già yếu, bị thương, bị lỡ loét toàn thân, tình hình rất nguy cấp, khiến thiên hạ bàn tán xôn xao. Các đồng chí lãnh đạo to nhỏ ai ai cũng quan tâm đến cụ. Hiện đã tổ chức hội thảo quốc tế, đã thành lập Ban khẩn cấp cứu cụ gồm các giáo sư, các chuyên gia đầu ngành. Báo cáo cụ như vậy để cụ  yên tâm phấn khởi và tin tưởng.


Các đồng chí cấp trên đang ra sức đau khổ, ra sức bàn bạc và ra sức trả lời phỏng vấn. Còn các giáo sư tiến sĩ, các chuyên gia đầu ngành đang hội thảo cụ ốm hay cụ già, cụ bị bệnh hay bị thương, cụ bị viêm loét hay bị rùa đỏ tấn công, các tham luận khoa học đều đặt giả thiết, chứ không có một ai quả quyết. Sở dĩ tất cả đều ngồi trên bờ ăn ốc nói mò bởi vì đó là vấn đề khoa học, vấn đề trách nhiệm của xứ ta.


 Các giáo sư, các chuyên gia đầu ngành cũng đưa ra các biện pháp rất chi là khoa học, nào là đề xuất lấy mẫu DNA, nào là đề xuất gắn chíp điện tử, đề xuất tắm thuốc, đề xuất giải phẫu, v.v… để chữa trị cho cụ. Có giáo sư còn đăng đàn một tham luận rất chi là khoa học, phân tích cực kì sâu sắc rằng cụ  quí hiếm như thế nào, chủng loại gì, giá trị sinh học ra sao…Nghe đến đây chắc cụ sẽ thắc mắc, nói sao lại phải họp, sao lại phải hội nghị quốc tế. Nếu trong nước không có ai cứu chữa được thì thuê một chuyên gia nước ngoài về chữa trị, thế là xong, việc gì bày ra hội nghị hội ngáo, báo cáo báo chồn mất thời gian tốn kém? Thưa cụ, cụ chớ có thắc mắc. Cấp trên của cháu rất ghét thắc mắc, đồng thuận là điều cấp trên chúng cháu muốn nghe. Cụ chớ có dại mồm thắc mắc, cấp trên của cháu mà nổi giận thì chẳng những cụ không được chữa trị mà còn phải làm kiểm điểm.


Cụ phải hiểu rằng cụ là rùa, chứ không phải là người xứ ta, cụ càng không phải các giáo sư tiến sĩ, giáo sư đầu ngành xứ ta nên cụ không thể hiểu họp hành quan trọng như thế nào. Họp để chứng tỏ trách nhiệm với cấp trên, để lấy tiền Nhà nước tiêu xài thoải mái mà không ai thắc mắc. Họp để nếu cụ chết thì không ai chịu trách nhiệm. Tính tập thể, tinh thần trách nhiệm của họp là như vậy đó cụ.


Mấy chục lần cụ ngoi lên mặt hồ để cầu cứu, hình như cụ muốn được đưa lên bờ để chữa trị. Cấp trên của cháu, các giáo sư tiến sĩ, giáo sư đầu ngành rất thấu hiểu lòng cụ. Nhưng đây lại là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế. Đưa lên để làm gì, đưa lên như thế nào, đưa lên bao nhiêu lâu, đưa lên thời điểm nào.. là những đề tài nghiên cứu rất chi là khoa học, cần có nhiều thời gian, rất nhiều thời gian.


Vì vậy cháu viết báo cáo này để cụ biết rõ tình hình là… rất tình hình, mong cụ hết sức phấn khởi tin tưởng, yên tâm chờ... chết!


 

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Văn hoá lễ hội

Cứ đầu năm, vào dịp giêng hai, khắp cả nước Việt ta đều vào mùa lễ hội, , từ Nam ra Bắc từ xuôi lên ngược đâu đâu cũng có lễ hội tưng bừng. Có chừng 500 lễ hội chứ không ít. Miền Bắc có Hội Bát Tràng, hội Bạch Hạc, hội Bơi Thuyền, hội Bơi Đăm, hội Cầu Trâu, hội Chém Lợn, hội Chen, hội Chọi Trâu Đồ Sơn, hội Chùa Hương, hội Chùa Keo, hội Chùa ThầyMiền Nam có Lễ dâng bông của người Khmer,  hội Gò Tháp - Đồng Tháp,   hội Sen Đolta,  hội Chùa Bà, hội Chôl Chhnăm Thmây, hội Đua Ghe Ngo, hội Tầm Vu, hội Tứ Kiệt … Sự phong phú của lễ hội Việt chứng tỏ bản sắc văn hoá Việt rất đỗi đậm đà. Chơi hội cũng là chơi văn hoá, vừa hưởng thêm nhiều thú vui văn hoá Việt vừa tăng thêm tình yêu quê hương đất nước, rất hay.


            Một khi nền kinh tế phát triển, cái ăn đỡ lo thì cái sự chơi bao giờ cũng được tính đến, âu cũng là lẽ thường. Tuy nhiên sự phát triển đột khởi hội làng trong những năm gần đây cho thấy nhiều điều đáng ngại. Những hội làng  nhỏ, xưa nay ít ai để ý hoặc đã biến mất nay được dựng lại với qui mô rất lớn. Dân quê ta vốn vậy, con gà tức nhau tiếng gáy, làng người có hội to thì nhất định làng mình cũng phải có hội to. Mở hội cúng tế chơi bời, bày ra lắm trò cũng chỉ vì đua ganh với làng khác chứ không phải vì truyền thống là một cái dở. Một lần mở hội là một lần đóng góp, hội càng to đóng góp càng lớn, người giàu có không nói làm gì, người nghèo chịu sao cho thấu?


             Những lễ hội truyền thống của làng nếu qui mô vừa và nhỏ mới cho ta sự đầm ấm của quê nhà, bản sắc văn hoá mỗi làng quê. Nhiều lễ hội vốn có qui mô lớn nay càng mở ra lớn hơn, xưa ba ngày nay mươi ngày nửa tháng. Cố phình to ra cho bằng thiên hạ không dưng rước lấy nhiêu khê, tốn kém, mất thời gian công sức mà bản sắc văn hoá làng cũng sẽ mờ nhạt, lẫn vào bao nhiêu hội hè tốn kém khác, tình quê theo đó cũng mờ nhạt theo.


             Sự bạc màu của lễ hội mới là điều đáng lo nhất. Luỵ vào việc khuyếch trương du lịch, nhiều lễ hội còn lấy được kinh phí nhà nước tổ chức rất to. Có nơi còn biến lễ hội thành nơi kinh doanh bán vé thu tiền, không khí lễ hội thôn quê bị thị thành hoá, kinh tế hoá làm mất đi vẻ đẹp ngàn xưa của nó. Tốn kém là một chuyện, mất thời gian hao người tốn sức là một chuyện, điều quan trọng là nó làm văn hoá lễ hội phai nhạt đi, tính tâm linh cũng vì thế mà biến mất, chỉ còn trơ lại mỗi tính lỗ lãi.


            Đi kèm với lễ hội thường là những hủ tục đã biến mất từ lâu nay có dịp sinh sôi nảy nở. Đấy là bói toán, lên đồng, bài bạc và mâm cỗ nhậu nhẹt ngày này qua ngày khác. Chưa bao giờ thấy tình trạng bài bạc lớn như ngày nay, cũng chưa bao giờ trò bói toán, hội lên đồng phát triển rầm rộ như ngày nay. Nhiều nơi có tổ chức như nghiệp đoàn, thậm chí có nơi còn lập cả công ty đồng bóng.


            Nước ta đã có hơn 500 lễ hội thiết nghĩ đã quá nhiều, nếu còn phát triển thêm nữa, và sự phát triển chỉ vì nhu cầu kinh doanh du lịch chứ không phải vì nhu cầu văn hoá tâm linh của dân, sẽ rất không hay. Cho nên cũng cần xem xét lại, lễ hội nào cần giữ lễ hội nào nên bỏ đi, lễ hội nào cần phình to ra lễ hội nào nên thu nhỏ lại. Không nên để lễ hội tự phát bùng ra, không ai quản lý, quanh năm suốt tháng chỉ thấy ăn chơi, khi dân ta còn thiếu cái ăn cái mặc, tỉ lệ đói nghèo còn quá lớn. Và điều quan trọng là văn hoá lễ hội bị lợi dụng thành trò kinh doanh, nơi khoe mẽ và là mảnh đất màu mỡ cho những hủ tục sinh sôi, rất đáng sợ, đáng lo và đáng xấu hổ.


 

 

 

 

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Mới, mới hơn nữa!

Trong một bài báo của mình, bà Nguyễn Thế Thanh đã chỉ ra bốn điểm mới mẻ của Đại hội Đảng XI, ấy là việc bầu trực tiếp Tổng bí thư hay không được đem ra thảo luận công khai,  số dư rất cao đối với cả hai danh sách bầu uỷ viên Trung ương chính thức (UVTW) và uỷ viên Trung ương dự khuyết (UVDK), đại hội đã tranh luận công khai và quyết liệt về sở hữu TLSX, cuối cùng là những lời tâm huyết, thẳng thắn và trung thực đã được vang lên trong Đại hội. Có lẽ ít ai không đồng tình với nhận định trên, bởi vì nó là những điểm sáng rõ nhất trong kì Đại hội này.


            Cho dù việc bầu trực tiếp tổng bí thư chưa được thực thi, các đại biểu được đề cử tại Đại hội được trúng cử còn quá ít và một số quyết sách lớn cho tương lai hảy còn để ngỏ… thì tất cả những gì đã nghe, đã nhìn thấy cũng đủ cho chúng ta tin Đảng ta đã tỏ rõ quyết tâm đổi mới, thực bụng muốn lắng nghe tâm ý của dân. Ai cũng biết cái mới không bao giờ có ngay sau câu thần chú, nó là kết quả của sự phấn đấu gian khổ trường kì, vì thế mỗi bước đi mới mẻ trong tiến trình dân chủ nhằm “đưa dân chủ lên ngang tầm thời đại” của Đảng đều được nhân dân phấn khởi ghi nhận và tin tưởng.


            Dân đã phấn khởi khi thấy Quốc hội không ngừng đổi mới, không ngừng cố gắng dân chủ, công khai và minh bạch. Việc đại biểu Nguyễn Minh Thuyết và một số đại biểu chất vấn một cách thẳng thắn và quyết liệt về trách nhiệm của các bộ trưởng và thủ tướng, cũng như việc thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lồi chất vấn thẳng thắn, không né tránh bất kì vấn đề gì, kể cả những vấn đề được coi là nhạy cảm…trong kì họp thứ 8 Quốc hội khóa XII vừa rồi đã cho thấy dân chủ nghị trường không còn xa lạ với chúng ta. Tại Đại hội Đảng XI, tuy chất vấn hãy còn ít và e dè nhưng việc thảo luận công khai và cởi mở một số vấn đề lớn của Đảng, của Đất nước, kể cả những vấn đề lâu nay bị coi là huý kị làm cho dân càng phấn khởi hơn, cho thấy dân chủ không còn là thứ ngôn ngữ an ủi nhau, nó thực sự có mặt trong đời sống của dân, trong sinh hoạt của Đảng.


            Tuy nhiên để có một nền dân chủ ngang tầm thời đại, chúng ta cần phải mới nhiều hơn nữa. Những quan niệm cũ kĩ, lạc hậu, thậm chí ấu trĩ về sở hữu TLSX, về những đặc trưng của CNXH cần phải rũ bỏ. Phản biện phải được tôn trọng, được nuôi dưỡng và bảo vệ, sao cho nó thực sự có sức sống, bởi vì chính nó là một phần không thể thiếu của cái mới, của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Quan trọng nhất là tiếng nói của dân, bao gồm cả tâm trạng lẫn ý nguyện, phải được thực sự lắng nghe một cách trân trọng và cầu thị.


 Khi nói về thành công của Đại hội, tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các cơ quan báo chí, khi đã đưa tin kịp thời, phản ánh được tâm trạng, nguyện vọng của nhân dân, giúp gắn kết giữa Đảng, xã hội và nhân dân. Điều Tổng bí thư nói không chỉ đúng cho sự thành công của Đại hội, ở bất kì lĩnh vực nào nếu tâm trạng, nguyện vọng của dân được công khai kịp thời trên báo chí và được Đảng chăm chú lắng nghe, đều nhất định thu được thành công, ngược lại thì không, đó là một sự thật. Cũng tại Đại hội, ông Đỗ Hoài Nam đã nói : “Đảng phải làm cho dân xem Đảng là của mình, là mình. Dân phải tin thì mới như thế được. Không có niềm tin máu thịt ấy của dân thì có thể mất Đảng, mất chế độ.” Đó cũng là một sự thật.

Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2011

ÁI...TIỀN MẶT!

[caption id="attachment_9295" align="alignleft" width="300" caption="Công nhân xếp hàng chờ rút tiền từ ATM. Ảnh ĐV"][/caption]

Tết nhất đến nơi, Mũm Mĩm Ngu Ngơ tất bật từ sáng đến tối. Việc cơ quan họp hành tít mù, hết tổng kết lại phát động thi đua, tiền thưởng chẳng thấy đâu toàn thấy họp là họp. Mũm Mĩm gọi điện cho Ngu Ngơ, nói anh ơi có người về quê, mau gom tiền gửi về cho ông bà nội tiêu Tết.


 


Ngu Ngơ nói ok ok, nhưng mà anh đang họp, em ra cột ATM rút giùm anh được không. Mũm Mĩm nhăn nhó nói thẻ ATM của em là để dành đi chợ, có đâu nhiều để gửi cho ông bà. Ngu Ngơ nói ok ok, để họp xong anh đi rút.


Đến chiều Mũm Mĩm lại gọi điện cho Ngu Ngơ, nói anh đã rút tiền chưa. Ngu Ngơ thì thào nói anh vẫn đang họp. Mũm Mĩm không tin, nghĩ bụng có khi ông Ngơ này lại bù khú ở đâu rồi cũng nên. Xưa nay đàn ông nhậu nhẹt đều bốc phét với vợ là họp, ai còn lạ gì.


Mũm Mĩm phóng một mạch đến cơ quan Ngơ. Té ra Ngơ đang họp thật, trời đất ơi họp gì mà họp kinh thế không biết. Mũm Mĩm chân dậm đầu lắc, nói anh phải trốn họp ra rút, nhỡ cột tiền không có tiền còn chạy vào ngân hàng mà rút, chứ quá bốn giờ ngân hàng đóng cửa giao dịch thì toi.


Ngu Ngơ nói em đừng có lo. Ngân hàng biết là gần Tết người rút tiền đông gấp ba gấp bốn lần ngày thường nên đã tăng số tiền bỏ cột lên ba bốn lần. Mũm Mĩm nói anh đừng có mà tin tầm vơ, bao nhiêu người rút tiền chả được đang đứng méo mặt ngoài kia kìa.


Ngu Ngơ nói em hay chưa, ngân hàng người ta lên báo hứa với dân ầm ầm, đảm bảo Tết này rút tiền thông suốt, không như năm ngoái nữa đâu. Mũm Mĩm vừa lườm vừa nguýt, nói kệ anh đấy, không có tiền gửi về cho ông bà nội là anh chết với em. Ngu Ngơ cười hì hì, nói ok ok yên tâm yên tâm.


Chiều tối xong họp, Ngu Ngơ Mũm Mĩm vội vàng chạy ra cột, vừa đút thẻ vào màn hình hiện lên dòng chữ: Ngân quỹ chưa tiếp tiền! Ngu Ngơ trợn mắt há mồm, nói giờ này còn chưa tiếp tiền thì bao giờ mới tiếp tiền đây hả trời. Mũm Mĩm đẩy lưng Ngu Ngơ, nói còn đứng đó mà thắc mắc, mau chạy sang cột khác. Ngu Ngơ ba chân bốn cẳng chạy sang cột khác. Vừa tới nơi đã thấy một đống người đứng ngồi trước cột, màn hình lại hiện ra dòng chữ Ngân quỹ chưa tiếp tiền.


Ôi thôi, tiền hết chẳng có ai tiếp tiền. Không có người tiếp tiền hay ngân hàng không muốn tiếp tiền đây? Tiền mình gửi vào ngân hàng sao rút ra khó khăn thế không biết, giống y chang gửi tiền tiết kiệm thời bao cấp. Nhục thế không biết. Mũm Mĩm đập lưng Ngu Ngơ, nói anh nói ai nghe, nói cho cái cột nghe à. Mau chạy sang cột khác.


Ngu Ngơ, Mũm Mĩm lại chạy vù vù. Cột này sorry... Hệ thống tạm dừng hoạt động vì đang trong thời gian bảo dưỡng. Cột kia sorry... Giao dịch không thành công.


Ngu Ngơ gầm lên, nói tiền không có thì nói thẳng đi cho xong, lại còn bày trò sorry giao dịch không thành công với sorry hệ thống đang bảo dưỡng. Mấy ông ngân hàng lo bảo dưỡng cái thân họ thôi, có lo bão dưỡng cho ai đâu. Khốn nạn. Mũm Mĩm mếu máo nhìn Ngu Ngơ, nói anh biết ATM là gì không, là ái… tiền mặt! Dân gửi tiền vào thì nhanh lắm, đến ngày Tết nhất cần tiền muốn rút tiền mặt ra thì nó kêu sorry sorry, ÁI... TIỀN MẶT… không có!


Ngân hàng ôi là ngân hàng ôi! Hu hu

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

Lương thiện trong khoa học

Trước khi bà con đọc bài báo nói về sự thiếu lương thiện trong khoa học thì mời bà con xem xét tin dưới đây để xét xem đây có là kiểu làm báo chụp giật, cẩu thả, xào xáo lại của nhau và dẫn nguồn vô tội vạ- Một cách thiếu lương thiện trong nghề báo. Tin dưới đây là do ông Nguyễn Tôn Hiệt đưa, ông khẳng định báo Pháp Luật Việt Nam đưa bài “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất châu Á”,


do Phượng Lê viết “theo báo Firmenpress” [sic]. Kì thực không có tờ nhật báo Firmenpress, đó chỉ là tờ nhật báo bịa.


Đó chỉ là một trang web tên là firmenpresse.de do công ty LayerMedia Inc. làm chủ. Công ty này có văn phòng tại Burgstr. 2, Filderstadt, BW 70794, GERMANY." Ông Nguyễn Tôn Hiệt khẳng định như vậy.  Ông Nguyễn Tôn Hiệt cũng chỉ ra rằng firmenpresse.de là một trang chuyên đăng các bài “press release” tự quảng cáo tiếp thị (PR) trong mọi lĩnh vực, từ thương mại, nghệ thuật, công nghệ, cho đến chính trị, do các khách hàng tự viết gửi đến.



Trang này còn hướng dẫn cho khách hàng thực hiện các Mẹo và Xảo thuật (Tipps und Tricks) để viết các bài tự quảng cáo tiếp thị có hiệu quả! Bà con bấm vào đây để xem toàn bộ bài viết của ông Nguyễn Tôn Hiệt. Đề nghị báo Pháp luật Việt Nam, VnEpress và các báo dẫn lại tin của hai tờ báo này cần xem xét kĩ lưỡng nghiêm túc bài viết của ông Nguyễn Tôn Hiệt, nếu thấy đúng, mà chắc là đúng, thì cần điều chỉnh kịp thời để tránh làm tổn thương và mất uy tín đối với đồng chí Nguyễn Tấn Dũng!


Sau đây mời bà con đọc bài báo của tui


Lương thiện trong khoa học


Lại có thêm thông tin về đạo văn trong khoa học, ấy là việc một báo cáo khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thế Dũng, giảng viên trường ĐH Sư phạm Huế được công bố từ năm 2004, vừa rồi đã bị một giảng viên ĐH Giao thông vận tải Hà Nội cóp nguyên xi và đăng trên tạp chí khoa học của trường này. Thực ra trường hợp này không còn là đạo văn mà là chiếm đoạt công trình khoa học, một hành vi bất lương và phạm pháp trong nghiên cứu khoa học.


Không rõ đây là trường hợp thứ bao nhiêu các nhà khoa học nước nhà chôm chĩa công trình của nhau? Ở ta không có một thống kê chu đáo nào về đại nạn này như ở Trung Quốc. Một khảo sát gần đây của Trung Quốc cho thấy, có 2.000 nhà khoa học của 6 viện nghiên cứu hàng đầu đã đạo văn hoặc giả mạo số liệu nghiên cứu. Còn nghiên cứu do Hiệp hội Khoa học và công nghệ nước này thực hiện với 32.000 người thì kết quả: 55% người được hỏi nói rằng mình biết người phạm tội lừa đảo học thuật. ( theoVNN). Nước ta tình trạng tương tự chắc chắn cũng không kém.


 Gần đây thôi, theo Tạp chí Tia sáng, năm 2000 hai tác giả nguyên là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật và một tác giả người Nhật công bố một báo cáo khoa học trong hội nghị về ứng dụng tối ưu hóa tại Nga. Đến năm 2004 bài báo đó được xuất hiện trong một hội nghị cũng về ứng dụng tối ưu hóa tại Nhật với 10 tác giả từ Việt Nam! “Điều khó tin là 99% câu chữ, 100% các số liệu, thậm chí hình con tàu Shioji Maru trong bài báo năm 2004 lấy nguyên vẹn từ bài báo năm 2000”. Cũng vậy, Sự kiện ban biên tập tạp chí Euro Physics Letters (một tạp chí vật lý hàng đầu của châu Âu) thông báo rút một bài của nhóm tác giả Việt Nam  “do đạo văn quá nhiều”. Thật đáng buồn và đáng xấu hổ.


Không nơi nào đòi hỏi sự trung thực và tính lương thiện cao như trong nghiên cứu khoa học, bởi vì nếu các nghiên cứu khoa học lại là kết quả của gian dối, của ăn cắp và tước đoạt thì cuộc sống sẽ ra sao khi đem ứng dụng cái gọi là “nghiên cứu khoa học” ấy.  Nghiên cứu khoa học không phải để thỏa mãn ý muốn của cấp trên, càng không phải là mục đích để thoả mãn sự háo danh. Mục đích tối thượng của nó là để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển xã hội. Các trò đạo chích, nịnh bợ và chiếm đoạt trong khoa học chẳng những làm hoen ố thanh danh các nhà khoa học mà còn làm cho cuộc sống đình trệ và rối loạn. Phải ý thức tầm mức quan trọng của tính lương thiện trong khoa học như vậy để kịp thời ra tay ngan chặn. Bàng quan, thơ ơ hay bỏ qua thực trạng trên là có tội với cuộc sống, khác nào tiếp tay cho sự bất lương.


             Nhà dột từ nóc, điều đó giải thích vì sao học trò của các ông thầy đạo chích kia đã coi các hành vi sao chép, chôm chĩa các công trình khoa học là chuyện bình thường, chuyện đương nhiên. Thậm chí họ không cần làm các tiểu luận, các luận văn mà bỏ tiền ra mua. Những mẩu quảng cáo, rao vặt viết thuê luận văn, tiểu luận... tràn lan trên các trang mạng không còn làm ai xúc động. Thầy của họ còn ăn cắp, còn chiếm đoạt công trình khoa học của đồng nghiệp thì tại sao bắt họ phải học thật, làm thật, nghiên cứu thật.


 Buồn thay, đáng lo thay, xấu hổ thay.

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011

Voi ơi ta bảo voi này…

Bạn Ngu Ngơ ghé qua nhà Ngu Ngơ chơi. Vừa vào nhà, chưa kịp chào hỏi gì ông đã nằm xoài ra sàn nhà mắt nhắm miệng há. Ngu Ngơ Mũm Mĩm sợ quá, nói bác ôi bác làm sao thế, bệnh tật gì không, sao lăn đùng ra thế kia? Hỏi đi hỏi lại năm lần bảy lượt, bạn Ngu Ngơ mới mở mắt cười cái hậc, nói rồi cũng chết sạch cả mà thôi. Ngu Ngơ Mũm Mĩm trợn mắt há mồm, nói ai chết,  ai chết? Chết hết là cớ làm sao? Bạn Ngu Ngơ mới uể oải ngồi dậy, nói tôi vừa đi Tây Nguyên về, chứng kiến cái chết cuả voi Păk Cú, thảm lắm. Ngu Ngơ Mũm Mĩm kêu to, nói voi Păk Cú ở Bản Đôn a. Bạn Ngu Ngơ gật đầu thở ra, nói đúng rồi, nó bị bọn voi tặc tấn công để cắt cặp ngà. Thân mình voi bị chém hàng trăm nhát rất sâu. Phần mặt, vòi cùng toàn bộ phía sau mông voi bị đốt cháy đen. Đuôi voi có hai đoạn bị chặt gần như đứt hẳn, hai chân sau bị chém lòi cả xương.


            Ngu Ngơ Mũm Mĩm cùng túm lấy bạn Bạn Ngơ, nói voi tặc a? Voi tặc là bọn nào? Bạn Ngu Ngơ nói thế ông bà không đọc báo nghe đài à. Voi tặc là bọn giết voi lấy ngà, chặt đuôi voi lấy lông, cả xương voi chúng nó cũng không từ. Mấy thứ đó làm đồ trang sức kiếm thiếu khối gì tiền. Cụ Mác nói đúng, khi lợi nhuận lên tới 100% thì dù có treo cổ lên chúng nó cũng cứ làm. Khổ thế đó… Mũm Mĩm ngồi bệt xuống, nói đúng là khổ thật.  Em đọc báo thấy nói chẳng riêng gì voi PắK Cú, những con voi nhà khác cũng đang bị tấn công. Voi Backhăm bị chết trong rừng, voi Bắc Lanh bị ngã gãy mất một cái ngà. Chả biết voi bị ngã gãy ngà hay lòng người gãy gục vì cái lợi.


            Ngu Ngơ cười cay đắng, nói voi tặc là ai voi tặc là ta/ đói cơm rách áo hoá ra voi tặc. Mũm mĩm  chép miệng thở than, nói em nghe nói năm 2007, UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập dự án bảo tồn voi nhà, cuối năm 2009, Sở này cũng đã đề xuất lập trung tâm bảo tồn voi quy mô 200ha ở Vườn quốc gia Yok Đôn với số tiền đầu tư là 58 tỷ đồng, sao đến giờ không thấy đâu. Ngu Ngơ vỗ vai Mũm Mĩm, nói em ơi, em như ở trên trời, bây giờ mà tin vào mấy cái dự án đó thì người còn chết mất ngáp nữa là voi. Bạn Ngơ gật đầu cái rụp, nói phải phải. Ông bà biết người ta chăm sóc voi như thế nào không? Không à? Để tôi kể cho nghe.


            Để voi không đi xa, người ta  được cột chân voi bằng dây xích sắt,  thả rong trong bãi thả voi, không có người canh. Bọn voi tặc muốn sát hại voi dễ như bỡn, chúng nó làm gì mà chẳng được. Mũm Mĩm kêu to, nói úi giời, một con voi bốn năm trăm triệu, một đống của cải lại không có người canh a. Bạn Ngơ nhăn nhó gật đầu, nói có người canh làm sao bọn voi tặc dám ngang nhiên triệt phá voi như thế được.Vì sao không có người canh voi a? Vì không có kinh phí. Người ta có thể bỏ ra 50 triệu để cứu một con voi trong tình trạng không thể cứu được, voi chết tiền cũng mất theo. Nhưng người ta không có kinh phí một hai triệu đồng/tháng để chi trả cho người canh voi. Thế đấy, khổ thân voi.


            Mũm Mĩm ôm  mặt kêu trời, nói thôi đừng nói cụ voi ở nơi rừng núi xa xôi, ngay cụ rùa ở ngay Hồ Gươm, giữa Thủ Đô Hà Nội mà cũng bị bọn câu tặc hành cho te tua. Lại thêm rùa tai đỏ phá hoại, rồi cũng có ngày cụ rùa thăng thiên như cụ voi thôi, khổ lắm.


            Bạn Ngơ chắp tay vái trời, Ngu Ngơ Mũm Mĩm cũng chắp tay vái theo. Cả ba đồng thanh kêu to, nói voi ơi ta bảo voi này/ còn vô trách nhiệm đố mày thoát thân


 Bài đọc thêm:

AI BẢO KHOẺ NHƯ VOI


Nói đến Đắk Lắk, có hai thứ khiến người ta phải nhớ là cà phê và voi. Nhưng đặc sản thứ hai đang ngày càng hiếm. Thậm chí bây giờ đến Buôn Đôn xem voi, du khách nhiều khi sẽ được ngắm những chú voi kỳ quái: ngà không có hoặc bị cắt gần hết, đuôi ngắn tí tởn vì bị cắt trộm! Không khéo chẳng lâu nữa, người trên xứ voi này muốn xem một con voi đúng nghĩa chắc phải về Sài Gòn để vào sở thú!


Xin trở lại sự kiện chú voi Păk Cú đã chết sau hơn hai tháng vật lộn với hàng trăm vết thương trên cơ thể. Khi đoạn phim chúng tôi thực hiện về cái chết của Păk Cú được chiếu trên Truyền hình Tuổi Trẻ, nhiều bạn đọc đã phải thốt lên: kinh hoàng! Những con người dã man đã chém hàng trăm vết khắp cơ thể voi. Voi chưa chết, chúng dùng xăng đổ lên mình voi rồi đốt, da voi cháy đỏ hỏn từng mảng lớn. Chú voi Bản Đôn ấy trong đường cùng đã bứt xích cứu mạng mình, nhưng vẫn không qua nổi vì vết thương quá nặng.


Và trong những ngày này, trên kênh VTV1 có phát một ký sự về Đắk Lắk. Trong phim có đề cập việc số lượng voi nhà đang sụt giảm nhanh chóng: Cụ thể năm 1980 là 500 con, năm 1990 còn 299 con, năm 2005 còn 94 con. Số liệu mới nhất (vào đầu năm 2010) là 57 con. Và bây giờ không biết con số ấy là bao nhiêu...


Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, từ đầu năm 2010 đến nay có khoảng chục voi rừng lẫn voi nhà bị chết. Chúng chết vì môi trường sống bị thu hẹp, chết vì phải làm quá sức, không còn không gian rừng riêng cho mình để hít thở, chết vì rừng không còn đủ cây thuốc để voi có thể tự chữa bệnh cho mình... Trên cái nền thiếu thốn đủ thứ ấy, những chú voi to lớn bỗng trở nên yếu đuối, không còn sức tự vệ trước bọn trộm sẵn sàng làm tất cả để kiếm tiền.


Những ngày này, những người làm công tác bảo tồn voi đang mong ngóng tiền từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn rót về cho dự án bảo tồn đàn voi của Đắk Lắk, vừa được phê duyệt cuối năm 2010 với giá trị 61 tỉ đồng. Chặng đường bảo tồn đàn voi còn lắm gian nan khi phải qua nhiều công đoạn của một dự án. Với tốc độ tận diệt voi như thế này, không ít người đã hóm hỉnh rằng: sợ khi khu bảo tồn đưa vào hoạt động lại không còn con voi nào!


Khi tôi ngồi viết những dòng này thì tin từ Bản Đôn về cho biết bộ da Păk Cú đã được một doanh nghiệp ở TP.HCM lên mua rồi, năm mươi hoặc sáu mươi triệu gì đấy. Voi chết còn có giá như thế, huống gì còn sống. Khi rừng chưa hẳn là nơi trú ngụ lý tưởng, cứ ngỡ ở buôn làng đàn voi nhà có thể sống bình an. Nào ngờ nơi tưởng bình an lại là nơi nguy hiểm nhất!


Càng nghĩ lại càng “giận” cho ai bỗng dưng đặt cho con vật to xác này câu “khỏe như voi”! Vì bảo nó khỏe nên mới đồn rằng mang chiếc nhẫn có luồn chiếc lông đuôi voi, đeo sợi dây chuyền có móc mẫu ngà, răng, xương voi... cũng sẽ khỏe như voi. Và vì những lời đồn vô căn cứ này khiến voi bị thảm sát.


Có một điều lạ là voi vẫn cứ chết, các cơ quan chức năng vẫn cứ kêu gào bảo vệ nó. Nhưng thị trường vẫn công khai bày bán các sản phẩm được làm từ voi tại khu du lịch Bản Đôn, các tiệm vàng ở TP Buôn Ma Thuột mà không hề bị cơ quan chức năng xử lý. Người mua càng đông thì tính mạng voi càng nguy hiểm... Luật lệ có đủ hết, nhưng từ trước đến nay ở thủ phủ voi này, duy nhất chỉ có một vụ chặt đuôi voi nhà ở huyện Lắk được xử lý hình sự!?


NGUYỄN PHAN ( Tuổi trẻ)

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Quà tết và hai chữ liêm sỉ…

Những năm gần đây, không, hơn chục năm gần đây, cứ gần tết lại rộ lên chuyện quà cáp biếu xén của quan chức trong bộ máy công quyền Nhà nước. Không ai không bức xúc về đại nạn này và mong muốn dẹp bỏ nó nhưng tóm lại vẫn đâu vào đấy, quà tết ngày càng nhiều ngày càng to. Theo báo Dân Trí trong một cuộc thăm dò ở Hà Nội, “Có đến 80% số người làm việc trong các cơ quan, công ty được hỏi đều cho rằng khoản chi tiêu lớn nhất trong gia đình họ là dành cho việc quà cáp, biếu xén.” Con số này cho thấy quà tết trở thành một cái lệ không thể thiếu, như là món cống nộp bắt buộc đầu năm dù không muốn cũng không thể. Đó là một bi kịch xã hội, một bi kịch lớn.


            Dễ thấy tệ đút lót, trò móc ngoặc, thói nịnh bợ không lúc nào thực thi dễ dàng như trong những ngày lễ tết. Tại đây người ta dễ dàng cống nộp và phi tang đồ cống nộp nhờ núp bóng nhân nghĩa uống nước nhớ nguồn, đạo lý ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Rất khó bắt tận tay day tận mặt loại này, càng không thể cấm. Gần đây cả chủ tịch lẫn bí thư Hà Nội đều lên tiếng kêu gọi công chức và công sở không chúc tết, không gửi quà  tết đến cấp trên. “ Đừng biếu quà Tết ai, đừng để ai biếu mình”, ông Phạm Quang Nghị bí thư Hà Nội đã nói vậy. Tiếc thay lời kêu gọi chân thành và khẩn thiết kia cũng sẽ rơi vào vô vọng mà thôi, bởi vì điều đó vừa phi thực tế vừa phi nhân văn.


            Làm sao có thể ngăn cấm người ta đến nhà nhau để chúc tết một khi tết là những ngày để thăm hỏi, để chúc tụng, để quà cáp. Làm ăn đầu tắt mặt tối quanh năm, vô lẽ đến ngày tết ai ở nhà nấy, thế thì còn đâu tình thân ái, đạo nhân nghĩa. Và giả sử có cấm được thì “tết” là những ngày nào? Đối với Nhà nước là 8 ngày còn đối với dân Việt là trọn vẹn cả tháng chạp và tháng giêng. Kinh nghiệm cho hay những tay đại bợm tham nhũng chẳng ai dại giở trò đút lót trong dịp tết là những ngày có đông đúc người thăm hỏi, qua lại.


            Bộ tài chính vừa đưa ra dự thảo qui chế về quà cáp tặng biếu, trong đó có ghi rõ: Trong trường hợp không thể từ chối nhận, hoặc người thân đã nhận quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn thì đối tượng phải công khai báo cáo với thủ trưởng cơ quan và nộp lại quà tặng...Quy chế này còn nói rõ chỉ được phép nhận quà tặng có giá trị dưới 500.000 đồng(!?). Báo SGGP đã đặt câu hỏi rất có lý rằng thế nào là “ không thể chối từ” và làm sao có thể biết món quà gói kín kia có trị giá trên 500.000 đồng để mà chối từ? Khéo không  khi qui chế này ban hành, chẳng những không ngăn cản được các hành vi tham nhũng mà còn tạo các lỗ hổng pháp lý cho các trò đút lót lộng hành.


            Cho nên việc ngăn cản, cấm đoán việc chúc tết đưa quà tết xem ra chỉ là “phép thắng lợi tinh thần”. Một khi tham nhũng đang là quốc nạn diễn ra quanh năm không chỉ ba ngày tết, diễn ra một cách trắng trợn và thô bạo, không cần núp bóng nhân nghĩa thì làm sao có thể dẹp được thói nịnh bợ, trò móc ngoặc, tệ đút lót mượn danh chúc tết và mừng tết? Chỉ còn một cách là trông chờ liêm sỉ của mỗi một con người. Có liêm sỉ người ta sẽ biết thế nào là  chúc tết, thế nào là trò nịnh bợ để tự mình chọn lựa đi hay không đi, đến hay không đến trong một cuộc du xuân. Có liêm sỉ người ta cũng sẽ biết thế nào là quà tết, thế nào trò đút lót, đồ cống nộp để tự mình quyết định trao hay không trao, nhận hay không nhận trong việc trao nhau một món quà.


            Nhưng liệu liêm sĩ có còn không? Nếu còn, nó có đủ sức ngăn chặn lòng tham hay không? Điều này mỗi một chúng ta tự hỏi, tự trả lời và tự tìm kiếm lấy chứ cũng không thể trông chờ vào Nhà nước.


     Bài đọc thêm:

CƠ QUAN AI CŨNG SỢ "ĐI TẾT SẾP"


Chuẩn bị Tết Tân Mão, báo đài đưa một thông tin thú vị: ngày 4-1, tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2011 của thành phố Hà Nội, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị yêu cầu đội ngũ cán bộ các cấp của thành phố phải thực hiện nghiêm chủ trương không biếu tặng quà cho lãnh đạo trong dịp tết.


Ông Nghị nói: “Tất cả chúng ta ngồi đây đều là lãnh đạo hết, vì thế đừng ai đi biếu quà cho người khác và cũng đừng để ai đến biếu quà cho mình. Hãy dành sự quan tâm tới các gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn để mọi người, mọi nhà đều được vui đón tết”…


Có thể nói “thông điệp” không biếu ai và kiên quyết không nhận quà cấp dưới “đi tết” của vị lãnh đạo cao nhất Hà Nội được dư luận rất đồng tình, nhất là đội ngũ nhân viên các cấp.


Thực tế cho thấy như ở cơ quan tôi, việc “đi tết sếp” thật lòng ai cũng sợ. Hằng năm cứ đến “tháng củ mật” là cánh nhân viên chúng tôi lại lo ngay ngáy việc “đi tết sếp”. Các anh chị trung niên thì thào hỏi nhau: “Năm nay đi tết sếp thế nào? Khoảng bao nhiêu thì vừa phải phép, vừa đỡ tốn kém?”…


Thấy các anh chị chuẩn bị “đi tết sếp”, mấy nhân viên trẻ mới về cơ quan lo toát mồ hôi. Mà đâu phải chỉ có một sếp thôi!


Chẳng riêng cơ quan tôi, dường như nhân viên ở đâu cũng ngán “đi tết sếp”. Nhưng ngán mấy cũng chẳng thể không đi vì đã thành thông lệ rồi; nhiều đồng nghiệp đi, mình thôi sao đặng. Khổ nỗi tiền thưởng tết ít, thu nhập quanh năm cũng ba cọc ba đồng, phải dè sẻn mới đủ chi dùng.


Tết đến. Đùng một cái phải lo bao nhiêu thứ, từ mua quần áo cho con; về quê lễ tết tổ tiên, họ hàng hai bên gia đình; chỉnh trang cửa nhà và mua đồ tiếp khách; rồi “đi tết” thầy cô giáo, lại còn khoản “mừng tuổi” các cụ già, lì xì con trẻ…


“Đi tết sếp” chẳng biết bao nhiêu là vừa. Biếu “phong bì” không thì vừa chẳng có điều kiện “dày dặn”, vừa sợ bị sếp mắng mình quá “cơ chế” mà thiếu vế tình cảm. Biếu ít, không bằng đồng nghiệp thì ngại, lo sếp phật ý, gây khó dễ cho mình trong công tác, nhất là khi đề bạt, bổ nhiệm. Mà quà biếu sếp sang một tí thì có khi cả gia đình… “mất tết”!


Đó là chưa kể còn lo những thứ mình biếu liệu gia đình sếp đã có chưa, rồi sếp ông, sếp bà có thích không? Nhỡ biếu gì “phạm húy nhà sếp” thì chết chứ chẳng đùa! Thực tế có không ít gia đình lục đục, vợ chồng trách cứ nhau vì chuyện này.


So đo tính toán chán, lại mất vài buổi tại siêu thị mới mua được quà biếu sếp. Mấy tối giáp tết, mọi việc gia đình phải tạm gác để đến nhà sếp trước. Mệt nhất là gặp lúc gia đình sếp vắng nhà, khi ấy các “thuộc hạ” tha hồ chờ đợi...


“Đi tết sếp” khổ thế nhưng chẳng biết các sếp có hiểu tình cảnh của những người phải “đi tết” mình không? Nếu thấu, hãy cảm thông độ lượng, dũng cảm có động thái rõ ràng, tuyên bố công khai trước toàn thể cơ quan như vị bí thư Thành ủy Hà Nội để cấp dưới đỡ khổ.


Mặt nữa, mỗi nhân viên chúng ta cũng cần dũng cảm bỏ cái lệ “đi tết sếp” bằng phong bao, vật chất, mà ngày xuân chỉ gửi lời chúc tết chân thành. Văn minh được như thế có khi cả chúng ta và sếp đều thấy thanh thản.


CÁT BỤI( Tuổi trẻ)


      

 

 

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

Chỉ cần có một tấm lòng

Câu chuyện anh Trần Hữu Lưu và Đội qui tập 584 Quảng Trị lặn lội dọc các cánh rừng Trường Sơn để tìm kiếm hài cốt liệt sĩ là điểm sáng ngời trong năm 2010, cũng là điểm sáng ngời trong suốt 15 năm qua ( 1996-2010). Trong suốt 15 năm ấy, anh và đồng đội đã đi không biết bao nhiêu cánh rừng, lội qua không biết bao nhiêu suối khe, vượt qua không biết bao nhiêu đèo cao dốc đứng… để tìm được 2.268 hài cốt liệt sĩ. Không một ai, kể cả những người có tâm hồn lạnh lẽo, lại không cảm phục trước việc làm cao cả ấy.


            Thời buổi mọi thứ đều có thể qui ra tiền, nếu biết người ta sẵn sàng bỏ ra hàng trăm triệu để có được hài cốt người thân thì sẽ biết sự hy sinh của Trần Hữu Lưu và đồng đội to lớn nhường nào. Ai cũng biết anh và Đội qui tập 584 của anh đã được Nhà nước phong danh hiệu anh hùng nhưng ít biết nỗi cay đắng của anh khi cả hai đứa con anh đều nhiễm chất độc da cam, anh con trai 25 tuổi thiểu năng trí nhớ, cô con gái 20 tuổi thì bị liệt. Ít ai biết khi anh Lưu ngược xuôi kiếm tìm đồng đội thì vợ anh phải túc trực ở nhà để chăm sóc hai đứa con tật nguyền, không làm được gì để kiếm thêm. Cuộc sống nhà anh đã khốn khó lại càng thêm khốn khó. Thật quá cảm động về sự hy sinh vô bờ bến của một người lính.


            Rất nhiều người có thể không hiểu nổi tại sao ngày nay còn có những  người suốt mười lăm năm trời lao vao gian khó nghìn trùng để làm những việc không có thêm được một xu nào, giống như chị Năm Nghĩa ngày xưa đã dành trọn nửa cuộc đời còn lại của mình để đi vào những cánh rừng già kiếm tìm đồng đội, người ta đã gọi chị là “Chị Năm Khùng”, trong khi gia đình còn nhiều nỗi cam go? Anh Lưu và đồng đội chỉ nghĩ đơn giản: “Biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội của mình đã hi sinh, cống hiến trọn đời cho quê hương, đất nước, nay chưa được quy tập về nghĩa trang, về với gia đình. Biết bao nhiều người bố, người mẹ đau đáu chờ con trong  mỏi mòn khắc khoải..." và “ Mình không làm việc này thì ai làm?” Hoá ra để làm những việc mà người ta gọi là “khùng” kia, người ta chỉ cần có một tấm lòng. Hoá ra chỉ cần một tấm lòng người ta không những làm được những việc thiện như anh Lưu, chị Năm Nghĩa và đồng đội đã làm mà có thể tránh được vô vàn những việc bất nghĩa vô lương khác.


Chỉ cần một tấm lòng sẽ không có chuyện cô giáo mắng chửi học sinh như hàng tôm hàng cá, bảo mẫu coi con trẻ như chó mèo. Sẽ không có hiệu trưởng mua dâm nữ sinh, doanh nhân đấu giá ảo từ thiện ảo, kẻ giết người chỉ vì “nhìn mặt dễ ghét” v.v. Chỉ cần có một tấm lòng sẽ không có chuyện đập nát thành nhà Mạc xây lên “cái lò gạch”, in tờ rơi tuyên truyền ATGT thành những tờ rơi khiêu dâm thô tục. Sẽ không có gạo cứu đói cho người nghèo để quên đến mốc xanh, ruộng nông dân ngang nhiên biến thành những dự án lậu và người thi hành công vụ ngang nhiên đánh đập sĩ nhục người dân.v.v.


Cách đây nửa thế kỉ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hát lên: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Đúng như vậy, chỉ cần có một tấm lòng ta sẽ có bao nhiêu việc nghĩa ở đời như Trần Hữu Lưu và đồng đội đã làm; cuộc sống sẽ mất đi những bất công và oan trái; bạo tàn giả trá theo đó cũng mất theo. Nhưng liệu có được bao nhiêu tấm lòng như vậy, khi mà triết lý vinh thân phì gia được coi như lẽ sống người đương thời?

Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2010

Văn hoá tuyên truyền

Chúng ta rất trọng tuyên truyền, bất kỳ một chủ trương nào của Đảng và Nhà nước đều được tổ chức tuyên truyền khá rầm rộ. Thế nhưng việc tuyên truyền của ta hơn nửa thế kỷ qua không hề đổi mới, chỉ một bài lặp đi lặp lại năm này sang năm khác. Đó là một sự thật.


Chỉ cần đặt câu hỏi: Tuyên truyền thế nào, nội dung phải ra sao, hình thức phải thế nào cho mới mẻ và ấn tượng, lập tức không ít thì nhiều người ta cũng đã làm mới sự tuyên truyền. Nhưng không, không hề. Xuân thu nhị kỳ, đến hẹn lại lên, lại dựng pa-nô, treo khẩu hiệu qua loa đại khái, làm chiếu lệ cho xong, vậy thôi. Năm nay nhiệt liệt hoan nghênh, năm sau vẫn cứ nhiệt liệt hoan nghênh. Các tranh cổ động dù có thay mới thì vẫn lặp lại một phong cách vẽ vời cũ kĩ với nền đỏ chữ vàng, nửa thế kỷ nay vẫn nguyên xi như thế.


Đã thế lại vội vàng và cẩu thả. Rất nhiều pa-nô chỉ là sự tô quét lại pa nô cũ, có vẽ mới thì nếu không nguệch ngoạc cũng copy từ những tranh cổ động nơi khác, xứ khác. Khẩu hiệu viết sai chính tả kinh khủng, sai cả kiến thức lịch sử văn hóa sơ đẳng nhất. Ngay cả việc treo khẩu hiệu ở đâu, dựng pa-nô chỗ nào cũng không mấy quan tâm. Rất nhiều pa-nô xiêu vẹo, khẩu hiệu mất chữ, rơi đổ cũng không ai để ý. Nực cười có một pa-nô dựng ngược ở ngay cửa ra vào của một phòng văn hóa quận cả tuần lễ người ta mới phát hiện ra.


Việc Ban ATGT Sở giao thông Kiên Giang bóp méo nội dung tuyên truyền ATGT thành câu chuyện khiêu dâm hầu như ít ai lấy đó làm bài học về sự kém văn hóa trong tuyên truyền, người ta chỉ tặc lưỡi cho là sơ suất. Chính sự tặc lưỡi nhẹ tênh đó cùng với tư duy cũ kỹ, nông nổi, hời hợt đã làm phương hại đến các giá trị cần tuyên truyền. Gần đây, tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia đã lên tiếng về các giá trị Hà Nội sẽ bị phá hỏng bởi chính văn hóa tuyên truyền cũ kỹ, thô lậu đó.


 Ông nói về một cuộc trưng bày quá nghiệp dư ở tòa nhà bảo tàng hiện đại nhất vừa mới xây xong. Cuộc trưng bày vội vàng, chủ yếu để khỏa lấp các không gian rỗng, “vì không kịp chuẩn bị nội dung nên tạm lấp vào đó những cổ vật Thăng Long của những nhà sưu tầm tư nhân”.


Ông nói người ta không quan tâm đến hiệu quả tuyên truyền mà chỉ chăm chú đến cái gọi là cờ đèn kèn trống. Thậm chí ở một trung tâm văn hóa lớn lại có thể có “nhiều pa-nô câu chữ không đạt yêu cầu", "đá nhau”. Trong khi đó, nhà 5D Hàm Long, nơi Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập thì “Bảo tàng Hà Nội lấy làm một trụ sở của mình suốt bao nhiêu năm nay”, còn căn hầm ngôi nhà 90 phố Thợ Nhuộm, nơi đồng chí Trần Phú viết Cương lĩnh “trở thành nơi để xe máy hàng ngày của cán bộ Ban Quản lý di tích”. Đó là một sự xúc phạm lịch sử, ông Nguyễn Văn Huy đã nói vậy và hoàn toàn đúng như vậy.


Bác Hồ rất quan tâm đến tuyên truyền, Người từng nhiều lần nhắc nhở: “Tuyên truyền phải thiết thực. Không phải tuyên truyền để mà tuyên truyền”. Điều Bác nhắc nhở chính là văn hóa tuyên truyền. Một khi kém văn hóa tuyên truyền, một khi tư duy tuyên truyền cũ kỹ, hời hợt, thì vô hình chung gây ra nhàm chán, phản cảm cho công chúng. Đó không phải là tuyên truyền mà là phản tuyên truyền. Còn như lợi dụng tuyên truyền để trục lợi thì đó là báo hại tuyên truyền, nguy hiểm vô cùng.

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

Bài học Bruce Weigl

Tiến sĩ Bruce Weigl là một cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị, nay ông là nhà thơ khá nổi tiếng ở Mỹ. Với 25 cuốn sách và nhiều giải thưởng danh giá,  B.Weigl nổi lên như một tài năng văn chương của nước Mỹ. Hồi kí Vòng tròn của Hạnh  là cuốn sách “best-seller” ở Mỹ sắp được nxb Phụ nữ ấn nhất định sẽ dành được tình cảm đặc biệt của bạn đọc Việt Nam. Nhưng điều chúng tôi muốn nói không phải là những thành đạt của ông sau chiến tranh, chính là những gì ông đã ứng xử với người Việt, với văn hoá Việt, nơi chính ông đã cầm súng bắn giết trong cuộc đối đầu thảm khốc của Chiến tranh.


 Cũng giống như các cựu chiến binh Mỹ khác, sau chiến tranh ông đã viết sách về Việt Nam, về con người Việt Nam và văn hoá Việt; đã tìm về các nghĩa trang liệt sĩ, lặng lẽ thắp hương lên những ngôi mộ của những người lính Việt; đã vào tìm đến các trại mồ côi nhận những đứa bé Việt  về nuôi; đã tham gia nhiều hoạt động cho sự hàn gắn quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau chiến tranh. “Không ai tha thứ cho chúng tôi về quá khứ nhưng quan trọng chúng ta làm gì cho hiện tại và tương lai”. Không chỉ riêng ông đã nghĩ vậy, hầu hết các cựu chiến Mỹ đều đã nghĩ như ông. Điều khác biệt ông đã làm, cũng là điều khiến nhiều người Việt ngạc nhiên và cảm động, là cô  bé người Việt tên Hạnh năm nay đã 23 tuổi, con nuôi  của ông, đã sang Mỹ từ lúc rất nhỏ và lớn lên trong một ngôi nhà không có ai là người Việt, không ai nói thạo tiếng Việt, lại nói tiếng Việt như người Việt và vẫn giữ được cốt cách, tâm hồn Việt đậm đà đến như vậy.


Cô bé Hạnh quê ở Bình Lục, Hà Nam được ông nhận từ một trại trẻ mồ côi. Ông đã nói với mọi người rằng: “Tôi nhận từ các bạn một bé gái Việt và một ngày kia khi nó khôn lớn tôi sẽ trả lại các bạn một cô gái Việt Nam, tôi sẽ không biến nó thành người Mỹ”. Nói là làm, mười mấy năm qua vợ chồng ông đã chăm sóc tâm hồn cô bé Việt hướng về cội nguồn nơi quê cha đất tổ, ăn thức ăn Việt, nghe nhạc Việt, xem phim Việt, nói tiếng Việt. Ông luôn dặn con hãy nói tiếng Việt bất kì lúc nào có thể. Hàng tuần ông chở con đến những người bạn Việt ở Mỹ để cô bé “sống” với dân Việt và chuyện trò với họ.


Cô bé Hạnh đã kể: “Bố đã dạy tôi từng chút một, từ những việc đơn giản nhất trong ứng xử của đời sống thường nhật đến những suy nghĩ, hành động. Bố luôn muốn tôi phải là một người VN, phải nói tiếng Việt thật giỏi,  để khi tiếp xúc với tôi, người ta không được nói tôi là một Việt kiều gì đó”. Cô bé còn kể  để giúp cô thấm nhuần được văn hoá Việt một cách chuẩn xác nhất, bố cô, tức ông B. Weigl. đã lặng lẽ học tiếng Việt, tìm hiểu văn hóa VN từ đền chùa, miếu mạo đến phong tục tập quán hằng ngày. Thật quá cảm động trước tình cảm của một người Mỹ không muốn con mình mất gốc Việt.


Vì sao B. Weigl làm như vậy? Một khi biết trân trọng, yêu quí văn hoá dân tộc mình, chứ không phải tự ti mặc cảm hay tự đắc và thổi phồng, thì nhất định người ta biết trân trọng, yêu quí văn hoá dân tộc khác. Ông B. Weigl hiểu rằng nếu tước đi hồn Việt trong bé Hạnh và nhồi nhét vào đấy thứ văn hoá Mỹ sống sượng thì nước Mỹ sẽ không có thêm một người Mỹ trong khi một người Việt sẽ mất đi. Cao hơn cả điều đó, ông hiểu rằng hạnh phúc đầu tiên và cuối cùng của một con người chính là khi họ có quê hương, có gốc gác, có đất nước và đồng bào của họ và được sống cùng với tất cả những điều đó. Vì thế sẽ không có gì đau khổ hơn khi một người Việt không có  hồn Việt hoặc là một hồn Việt méo mó bệnh hoạn.


Bài học Bruce Weigl khiến mỗi người Việt chúng ta giật mình tự hỏi:  ta đã làm gì để nuôi dưỡng hồn Việt trong tâm hồn con cháu chúng ta, trong chính tâm hồn mỗi một chúng ta?


 

 

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

Bọ phỏng vấn cụ phó tổng Trần Đăng Tuấn

Ông Trần Đăng Tuấn: "Nói chung tôi là người lãng mạn"


Ông Trần Đăng Tuấn nguyên là phó tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam, tháng 11 vừa rồi ông đột ngột từ chức, gây xôn xao dư luận. Ông đã công tác tại VTV từ hơn 20 năm nay, là tiến sĩ chuyên ngành truyền hình đầu tiên của Việt Nam được đào tạo bài bản từ trường ĐH tổng hợp Lomonoxop và Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ).


Ông được cho là người nêu ý tưởng và thực hiện việc mở nhiều kênh sóng truyền hình từ điểm xuất phát VTV chỉ có 1 kênh và đề xuất ý tưởng tự thu, tự chi từ những năm cuối thập kỷ 90. Giải thích cho việc từ chức của mình, ông mỉm cười nhẹ nhàng nói: “Nếu thay đổi môi trường làm việc để được nhìn nhận cuộc sống từ những khía cạnh, góc độ khác, để thêm những trải nghiệm khác, thì đó cũng là việc đáng làm.”


Chúng tôi đã tìm đến ông trong một cuộc trà dư tửu hậu để có cuộc phỏng vấn này.


Nguyễn Quang Lập (NQL): Truyền hình nước ta đã có một bước tiến dài, đặc biệt 10 năm trở lại đây. Một cách thật khách quan, anh đánh giá truyền hình nước ta đang ở đâu trong bản đồ truyền hình khu vực và thế giới?


Trần Đăng Tuấn (TĐT): Người khó tính nhất cũng sẽ đồng ý là truyền hình nước ta (hay truyền hình ở nước ta) đã có bước tiến rất, rất dài những năm qua. Nhưng câu trả lời về việc truyền hình nước ta đang ở vị trí nào nếu so với người ta thì khó tìm được sự nhất trí cả ở người dễ tính nhất. Vì bản thân câu hỏi nó khó, chứ không phải tôi rào đón gì. Thứ hạng theo tiêu chuẩn nào – Công nghệ? Nội dung? Nghiệp vụ? Dịch vụ?...


Nếu nói về công nghệ, tôi xin kể chuyện này: Tôi có dịp thay mặt lãnh đạo VTV tiếp một đoàn chuyên gia truyền hình Nhật Bản. Trước đó họ đã tham quan cơ sở vật chất kỹ thuật của Đài. Họ nói rằng họ ngạc nhiên khi thấy ở Việt Nam kỹ thuật truyền hình tốt như vậy. Tôi hỏi lại họ: Nói vậy thì các ông khen Việt Nam hay khen Nhật Bản? Vì hầu hết máy móc chúng tôi mua từ Nhật Bản. Nếu liên quan đến Việt Nam, xin các ông nói cho biết: việc tích hợp các thiết bị ấy ra sao, tính đồng bộ thế nào, cái gì lạc hậu rồi, cái gì tiên tiến mà sử dụng không hiệu quả, v.v.? Hay là chúng tôi bằng các bạn rồi? Họ cười và nói rằng: “Cũng có thể có những góp ý, nhỏ thôi, rất nhỏ”. Khách nước ngoài đến Việt Nam thường không thấy có cái gì là sơ suất lớn cả. Họ thường nói chúng ta chỉ có vài vấn đề bé tí tẹo thôi!


Tôi biết rằng những người làm kỹ thuật truyền hình ở Việt Nam rất sáng tạo. Có những cách tổ chức công việc mà người nước ngoài ngạc nhiên. Nhưng nếu nói một cách tổng quát thì thế này: cái gì thế giới có, ta cũng đã có, đang có, hoặc sẽ có. Vì họ bán chứ không làm ra để giữ. Cho nên nếu nói ta gần như giống họ, ngang với họ (cái này mạnh mồm một chút), họ cũng chẳng phản đối đâu. Vấn đề là ta sử dụng thế nào. Và việc ta sử dụng hệ thống kỹ thuật, công nghệ mới có có làm ta thay đổi toàn bộ cung cách tác nghiệp không. Cũng có người sử dụng máy vi tính như máy chữ. Cũng có sao đâu? Câu hỏi đặt ra là: công nghệ mới, nhưng con người chúng ta thì sao, mới được bao nhiêu?


Nhưng mà công nghệ dễ xác định. Hàng năm các chuyên gia truyền hình Việt Nam đi dự triển lãm công nghệ phát thanh truyền hình thế giới ở Las Vegas. Họ biết hơn tôi cái gì Việt Nam đã có, cái gì chưa. Nhưng hình như đi dự xong về, họ cũng ít nói lắm. Tôi cũng thế.


So sánh về nội dung và trình độ nghiệp vụ mới là cái khó. Mỗi nước có nền văn hóa riêng, cuộc sống chính trị - xã hội riêng, thị hiếu khán giả riêng. Vậy căn cứ vào đâu để nói mình hay hơn họ hoặc kém hơn họ. Có dịp ra nước ngoài, tôi xem nhiều truyền hình sở tại. Có cái kênh truyền hình từ sáng đến đêm chỉ phát trò chơi. Mà trò chơi rất đơn giản, ví dụ: Hai người cầm hai đầu cây gậy dài, người thứ ba bò qua dưới gậy. Rồi hạ thấp gậy nữa, thấp nữa… làm sao bò chứ không toài người mà vẫn qua gậy. Chạm gậy thì thua. Cứ thế thôi. Khán giả cười thoải mái. Không ai bảo mua vui nhảm nhí, hời hợt. Rồi có một lần, xin đừng ngạc nhiên, lần đó ở Bình Nhưỡng, tôi xem kênh truyền hình của Nga phát bên đó, có chương trình thám tử tư. Họ rình xem anh chồng đi lén lút với cô nào, báo cho vợ, rồi cùng ập vào bắt quả tang. Một môtip ấy thôi, nhưng các tình huống khác nhau. Xem mãi không chán. Và các bạn Bắc Triều Tiên rất thích xem. Nhưng mà xem kênh của Triều Tiên thì toàn hội nghị. Cũng chẳng ai dám nói cái nào hay hơn cái nào, vì nó khác nhau thế thì so thế nào được? Tại Anh, khi theo các đồng nghiệp đi khảo sát họ làm trò chơi truyền hình thế nào, tôi thấy nửa ngày họ mới quay xong một chương trình “Ai muốn thành triệu phú”. Về Việt Nam, anh Sâm một buổi chơi vài chương trình, phát thoải mái. Vậy mình giỏi hơn họ? Hay là mình buộc phải làm cho nhanh vì ít trường quay? Trên truyền hình cáp của ta cũng có kênh phim truyện đấy chứ, nhưng có ai so với HBO không nhỉ? Mà so thì để nói ai kém? Toàn bộ phim truyện điện ảnh của ta nếu phát hết thì được bao nhiêu ngày? Vậy lỗi ở truyền hình hay ở ai? Mà nếu cứ bàn nữa thì kết luận là chẳng ai có lỗi. So sánh là khập khiễng.


Tiếp tục, về cung ứng dịch vụ truyền hình. Cái này dễ nói hơn. Đây là lĩnh vực có nhiều chuyển biến nhất thời gian qua. Các con số khác nhau, nhưng đại loại có thể thấy hàng triệu hộ ở Việt Nam đã là thuê bao của truyền hình có trả tiền. Tức là được xem nhiều kênh. Nhưng nếu so với trên hai chục triệu hộ, thì đó là số lẻ. Thì cái bước tiến nó cũng rõ, mà mình nằm ở đâu trên bản đồ phát triển truyền hình nó cũng rõ.


Cho nên, tôi muốn đổi lại câu hỏi (!). Thành ra là : “Xét về mặt khả năng thực tế để hưởng thụ sản phẩm truyền hình, khán giả Việt Nam so với nước ngoài thế nào?”. Và trả lời là: “Quá nửa thế giới xem truyền hình đa kênh từ lâu. Nửa non còn lại hoặc chưa, hoặc bắt đầu xem, hoặc xem từ lâu nhưng chỉ ít người được xem. Người xem Việt Nam ở cái non nửa sau, nhưng không ở cuối hàng.”


NQL: Thế mạnh truyền hình nước ta là gì, và những tồn tại cần phải khắc phục? Điểm yếu nào cần khắc phục ngay nếu không sẽ hỏng và hỏng nặng?


TĐT: Tôi phải chọn cách trả lời “lướt sóng” như thế này: Cái mạnh nhất của truyền hình Việt Nam: cũng trong cuộc tiếp kiến đồng nghiệp Nhật Bản, sau phần về kỹ thuật, công nghệ, họ nói rằng: “Con người vẫn là quan trọng nhất. Kinh nghiệm của chúng tôi là phải mạnh dạn bổ sung người trẻ vào truyền hình. Các bạn đã làm như vậy chưa?”. Tôi đề nghị được trả lời sau giải lao. Lúc giải lao, chúng tôi đứng ngoài hành lang, gần cầu thang máy, vì nhiều người hút thuốc. Sau đó, trở lại họp, tôi nói: “15 phút vừa rồi, có nhiều người trẻ đi lại qua chỗ chúng ta, có nhiều người chào tôi không?”. Họ nhìn nhau rồi thống nhất nói: “Hầu như không ai chào ông cả”. Tôi nói: “Đơn giản vì họ chẳng biết tôi là ai, dù tôi là một thành viên trong lãnh đạo Đài. Họ mới vào làm ở Đài. Nhưng họ là thành phần chủ chốt làm ra sản phẩm phát sóng.”


Có thể nảy sinh câu hỏi: Đào tạo thế nào? Đào tạo là cần. Nhưng nên nhớ rằng không có trường nào đào tạo tốt bằng cái tivi trong nhà những cô cậu ấy. Nhất là nếu đó là tivi có thuê bao nhiều kênh. Còn cái tồn tại cần khắc phục trước hết ư? Ở một tỉnh, lúc đang lũ lụt, tôi xem truyền hình phỏng vấn một lãnh đạo về việc cứu trợ, trời mưa, phóng viên và lãnh đạo đều mặc áo mưa, đứng giữa trời, nước mưa ướt át không rõ mặt. Nhưng mà cách đấy mấy bước chân thôi là mái che cửa ra vào hội trường Ủy ban. Đứng đó hoàn toàn khô ráo. Nhưng có lẽ phóng viên cho rằng đứng chỗ khô ráo sẽ không có “không khí”. Chuyện này nhỏ hay lớn, tùy từng người. Nhưng tôi nghĩ nó là vấn đề đầu tiên của truyền hình: Sao cho cuộc sống trên truyền hình là cuộc sống thật.


NQL: Truyền hình nước nhà đã có rất nhiều kênh, rõ ràng đã có sự trăm hoa đua nở. Nhưng có vẻ các bông hoa giống nhau quá, lý do ở đâu là chủ yếu?


TĐT: O2 TV là kênh về sức khỏe. Info TV là kênh tài chính - chứng khoán. Hai kênh như vậy không thể nói giống nhau. Nhưng nếu so các kênh tài chính với nhau, thì có giống nhau. Và nếu một đài nào đó nữa, ngoài VTV, nảy ra ý định làm kênh sức khỏe, thì có thể lại giống nhau. Tại sao thế? Trong khi thế giới cũng có nhiều kênh về một lĩnh vực nhưng không giống nhau?


Thứ nhất, vì cách làm khá giống nhau. Nghiệp vụ giống nhau. Quay phim giống nhau, hỏi giống nhau, trả lời giống nhau, kỹ xảo hình giống nhau, định dạng chương trình giống nhau... Vì vậy nếu nội dung khác nhau còn thấy là hai kênh khác biệt, chứ nếu đều là về một nội dung thì…


Thứ hai: nó giống nhau đấy, nhưng nhà tài trợ nó khác nhau, thì cớ gì không có nhiều kênh?


Thứ ba: ở đây, hoặc là thuê bao mạng này, thì không xem được kênh của chỗ khác hay mạng khác. Do vậy, chẳng kênh nào ảnh hưởng đến kênh nào. Chứ cạnh nhau, hai kênh giống nhau thế nào cũng dẫn đến kết cục một kênh phổng phao ra, một kênh teo tóp đi, trước khi mất hút.


Chắc còn nhiều lý do nữa. Nhưng tôi không thấy chuyện nhiều kênh là vấn đề. Chuyện có những kênh nhác nhác giống nhau cũng chẳng phải là vấn đề. Vì mọi cái, theo quy luật tự nhiên, đều bung ra rồi thanh lọc dần.


NQL: Nếu được ước một điều ước cho truyền hình nước nhà, anh ước điều gì?


TĐT: Trăm phần trăm người dân Việt Nam xem truyền hình đa kênh, cả trăm kênh tùy theo ý thích và nhu cầu (cái này chẳng phải ước, ngày đó cũng sẽ đến nhanh thôi). Nhưng khi đó, họ vẫn xem các kênh truyền hình Việt nhiều nhất (kể cả khi ngoại ngữ không còn là vấn đề). Nói chung, tôi là người lãng mạn!


( Đời thế mà vui-SGTT)

Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

Khi thầy không ra thầy

Câu chuyện cô giáo tiếng Anh mắng chửi học trò, thiên hạ bàn tán chưa xong, lại đến chuyện cô giáo tin học chửi mắng học trò, gây một cú sốc lớn trong xã hội. Người ta không thể tin được cô giáo lại có thể nói năng kiểu hàng tôm hàng cá, mày mày tao tao với học trò, lại còn đòi vả vỡ mồm học trò, thật là kinh khủng!


Thực ra chuyện trên chỉ là chuyện nhỏ trong vô vàn những ví dụ về vấn nạn “thầy không ra thầy” đang là nỗi bức xúc toàn xã hội. Nếu vào Google gõ ba chữ “thầy tham ô” sẽ thấy trong 0,18 giây có 2.060.000 kết quả, còn nếu gõ ba chữ “thầy đánh nhau” thì trong 0,12 giây sẽ có 3.020.000 kết quả, vân vân. Tất nhiên những kết quả nói trên là của toàn thế giới, nhưng nếu đi sâu vào tìm kiếm "đặc sản nội địa" ta sẽ thấy hàng trăm, thậm chí hàng nghìn những câu chuyện thầy đánh nhau, thầy tham ô, thầy gian lận bằng cấp, thầy gạ tình lấy điểm v.v.


Sở dĩ clip ghi lại cảnh cô giáo mắng chửi học trò được tung lên mạng gây xôn xao dư luận, bởi vì chỉ hơn một phút thể hiện trên clip, người ta thấy rất rõ ba điểm căn bản của người thầy đã bị đánh mất. Thứ nhất là tính mô phạm của người thầy đã biến mất tiêu, thay vào đó là hình ảnh cá mè một lứa. Thứ hai là việc cho điểm không còn là việc đánh giá chất lượng, nó như là sự ban thưởng hay trừng phạt theo ý muốn của người thầy, đúng như cô giáo này quát nạt: “Còn lâu tôi mới tha cho lớp này”. Thứ ba là sự thiếu văn hóa đã toát lên từ hành vi và lời nói của cô giáo.


Trong tất cả các xung đột giữa học trò và người thầy xưa nay, thường học trò phải hứng chịu mọi nguyên nhân, ấy là do học trò hư thân mất nết, dốt nát, lười biếng, gian dối v.v. Chỉ có qua những clip như thế này, người ta mới thấy rõ, lỗi trước hết là ở người thầy chứ không phải là học trò. Tìm hiểu hai trường hợp cô giáo Anh văn và cô giáo tin học chửi mắng học trò, ta thấy nguyên nhân đầu tiên là chính các cô chưa đủ chuyên môn để đứng trên bục giảng. Cô giáo tiếng Anh thì liên tục phát âm sai, sai đến nỗi học trò phải kêu lên: “Lớp nào cũng phản đối khi cách phát âm của cô là không chuẩn: good-s-morning, writ-s-ting, part-s-ty, to-picture (two pictures)...”. Cô giáo tin học lại không quản được lớp, “để cho lớp ồn ào mất trật tự.” Khi học trò xúm lại xin điểm, cô chẳng biết làm gì hơn là xua đuổi, chửi mắng.


Chuyên môn yếu kém cùng với tư cách dưới chuẩn, một khi bị học trò phản ứng, họ sẽ không cách nào hơn là dùng điểm để thị uy hoặc chửi mắng dọa dẫm, thậm chí đánh đập để lấy lại cái gọi là “uy tín”. Sự đời tất phải thế.


Một phụ huynh nghe nhà trường thông báo con mình dọa đánh thầy giáo đã rụng rời chân tay, không hiểu tại sao con mình lại ra nông nỗi ấy. Tìm hiểu kỹ thì biết ông thầy quá kém, giải toán sai bét nhè, trò chỉ ra cái sai thì chống chế quanh co, trò vẫn không chịu thì chửi mắng, đánh đập. Trò chịu hết nỗi, điên lên mới nói: thầy còn đánh em nữa em sẽ đánh lại. Thầy đã không giật mình tỉnh ngộ, xin lỗi mình đã quá tay mà còn lấy đó làm bằng chứng về sự mất dạy của trò, báo cáo lên nhà trường, đòi đuổi trò cho bằng được.


Kể lại chuyện này để nói, trước khi mắng học trò vô đạo phải xét xem đức, trí của người thầy ra sao. Thầy tài đức kém cỏi, vô luân bại lý, sao bắt học trò phải tôn sư trọng đạo? Cho nên cái câu “Tiên học lễ” có ở khắp nơi trong các trường học không chỉ dành cho học trò mà trước hết nó phải dành cho người thầy.


THẦY GIÁO HẸN HS ĐÁNH NHAU


Trong khi lang thang trên mạng tìm tư liệu để viết bài trên, tui vào một trang web có tên là Trường Tồn chắc là của một nhóm học sinh PTTH và tìm được bài dưới đây. Tui cóp nguyên xi cả lối viết, cả lỗi chính tả để thấy các cháu ngày nay viết lách như thế nào. Chuyện dươí đây nếu được ghi thành clip rồi tung lên mạng chắc thiên hạ lại một phen sốc nặng.


Nghe có vẻ như đùa vậy , nhưng là thật . Thầy Anh văn lớp mình là giáo viên mới chuyển về trường , đầu năm vào thấy thầy cũng dễ thương lắm , nhí nhảnh . Nhưng mà lớp thì có tật nói nhìu , thấy thầy hiền nên cả lũ cũng bắt đầu quậy phá giờ Anh , k ai nghe giảng bài


Đương nhiên là thầy rất bức xúc , tiết nào ồn , thầy ko chịu giảng bài , ngồi chửi cả lớp mình là thú vật ko bik nghe lời , xong rùi chửi thề tùm lum . Lớp mình cũng rất ngạc nhiên về tính tình của ổng . Thầy nói , hồi đó thầy dạy bên trường cấp 3 , thầy từng cầm cây thước chọi thằng3 vào mặt em hs kia – bể mắt kinh => thầy bị đuổi luôn


Cả lớp thấy như thầy đùa , cười . Ai dè hnay , vẫn cứ ồn ào như mọi khi , thầy la khan cổ họng vẫn ko ai nghe . Tức quá thầy ngồi im 1 chỗ ko giảng bài nữa . Thằng bạn ngồi kế mình cầm cái khăn lau bảng chọi giỡn . Thầy hùng hổ đi tới cầm cây thuớc phang lên đầu 1 cái … ! Thằng nhỏ ứa nước mắt lun …


Tên kia , ngồi sau lưng la lên : “ Thầy ơi , nó chọi cái thầy làm gì thấy ghê mà đánh nó dữ zậy “ . Chời ơi , thầy cầm cây hùng hổ la lên , chửi tục , giơ nắm đấm vào mặt tên ấy . Cả lớp hoảng luôn , tên kia cũng nóng tính , đứng thách thức thầy .


Rồi thầy nhặt 1 cây gỗ từ bàn học lên , giơ thẳng vào mặt tên ấy , rựơt khắp lớp , cả lớp kéo thầy lại , năn nỉ bỏ qua . Mặt thầy đỏ gay , vẫn cứ rựot đánh tên kia . Tên kia thì cũng thách thức thầy , kiu tụi nó bỏ ra , coi ổng làm gì … !


Tức quá , ông thầy quăng cây xuống đất , bước ra ngoài , cả lớp phải kéo ổng vào


Xong , thầy chỉ thẳng mặt tên kia mà nói : “ Tao ở đây tao là giáo viên , còn mày là hs , ở đây tao đánh mày thì ko đc . Gìơ chơi ko ? Mày cho tao 1 cái hẹn đi , tao với mày kím công viên nào giải quyết – tay đôi luôn . ( lại chửi thề ) “


Cái lớp năn nỉ ổng bỏ qua , nhưng ổng cứ khăn khăn đòi “tay đôi “


5p sau , ổng cầm đt lên , gọi cho Vợ nói là sẽ bỏ việc . Cả lớp năn nỉ quá chừng , ổng ko nói gì hết


Lát tiết sau , ổng kiu tên kia lại nói chuyện , ko bik hoà chưa mà sao mặt tên ấy nhăn nhó ghê lắm . Thầy nói với bọn tớ là : “ thầy đã từng rựơt đánh 1 em hs như vậy bên lớp kế rồi , tụi nó méc thầy hiệu trưỏng , thầy bị kỉ lụât . Bây giờ , các em bỏ qua nha , ko là thầy bị kỉ luật lần nữa là ra khỏi trg lun đó … ! “


Thật tình ko hỉu sao hết . Lần đầu tiên thấy 1 người giáo viên như vậy luôn á . Mình đồng ý là lớp mình sai , nhưng hình như ông thầy này có gì lạ lạ ấy , đòi đánh tay đôi với hs , chẳng hiểu đc . Lớp mình tính nói cô CN để cô CN xử lí , nhưng thấy cũng tội nghiệp thầy … theo mọi ng , bọn mình nên làm sao ?

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Buôn từ thiện

Ngu Ngơ vừa bước vào nhà đã thấy Mũm Mĩm ngồi ôm bụng cười rũ. Ngơ hỏi chuyện gì thế, trúng xổ số à? Mũm Mĩm cười he he he, nói lại chuyện mít ớt anh ơi, hay lắm hay lắm! Ngu Ngơ ngạc nhiên nói "mít ớt" là cái gì, bà nội vừa gửi mít ra à? Mũm Mĩm lại cười he he he, nói không phải, mít ớt là Miss Earth, tại ông tổ chức phát âm như thế ấy chứ. Ngu Ngơ cười cái hậc, nói ui giời, thế mà ôm bụng cười rũ từ sáng đến giờ, rõ là vô duyên! Mũm Mĩm lườm Ngu Ngơ, nói ai người ta cười chuyện đó, cười là cười mấy ông đi "buôn" từ thiện.


Ngu Ngơ đầu lắc tay xua, nói lại chuyện đấu giá từ thiện vì miền Trung chứ gì, thôi thôi không nói nữa, xấu hổ lắm. Mấy ông mua giả đấu xạo nói một lần cho biết chứ ở đời đám háo danh nhiều lắm! Mũm Mĩm vênh mặt lên, nói anh có cái tính ghét gớm, người ta chưa nói hết câu đã lắc đầu xua tay! Em đâu có nói chuyện mấy ông háo danh. Ngu Ngơ ôm Mũm Mĩm cười nịnh, nói ok ok, thế chuyện gì nói anh nghe nào.


Mũm Mĩm đẩy Ngu Ngơ ra, nói anh không nghe thì thôi, không nói nữa! Vả lại chuyện này nói ra cũng xấu hổ lắm! Ngu Ngơ nói chuyện gì nói đi, anh đang sẵn sàng nghe đây, hay là để anh đi rửa tai để nghe cho thông suốt. Mũm Mĩm cười phì, nói anh giỏi nịnh lắm, định không nói nữa nhưng lại phải nói, đấy là chuyện mấy ông buôn gian bán lận nhân danh từ thiện. Chuyện này còn xấu hổ hơn cả chuyện mua giả đấu xạo.


Lúc đầu mới nghe người ta đem bộ tứ linh giá 2 triệu đô ra đấu giá, ai nấy tưởng thật, té ra bây giờ mới biết bộ tứ linh chỉ có 1 triệu đô thôi. Ban tổ chức hô lên 2 triệu đô để ăn lời? Giả sử đấu giá thành công thì Ban tổ chức kiếm được 1 triệu đô ngon ơ?! Ngu Ngơ gật gù, nói chuyện này anh cũng biết, một ông trong Ban tổ chức nói họ hô lên 2 triệu đô thì 1 triệu đô lời kia họ sẽ dành cho đồng bào bão lụt. Mũm Mĩm nhăn mặt đập lưng Ngu Ngơ, nói người ta nói vậy mà anh cũng tin, người ta nói vậy chứ người có thấy người ta cộng vào khoản chênh lệch 1 triệu đô này vào tiền ủng hộ miền Trung đâu!


Ngu Ngơ ôm vai Mũm Mĩm, nói thôi em, bớt nóng bớt nóng! Dù sao cuộc đấu giá cũng đã đổ bể rồi, có nói thêm thì cũng thế. Mũm Mĩm vụt đứng dậy, khoa chân múa tay, nói đổ bể cũng phải nói, nói để lần sau bỏ cái thói mượn tiếng từ thiện để buôn bán đi. Xưa nay các vụ đấu giá từ thiện thì các vật phẩm từ thiện đều được người ta tặng ban tổ chức để đấu giá. Thế mới phải, chứ nếu đem vật phẩm ra đấu giá để thu tiền giá gốc cho ông chủ vật phẩm hoá ra ông này đem đồ đi bán à? Đi bán đồ trong buổi đấu giá từ thiện vừa được tiếng vừa được miếng. Được cái tiếng làm từ thiện trong khi đồ anh đem bán không phải nộp thuế. Thế có phải khôn lõi không?


Mũm Mĩm đang cao đàm khoát luận thì thằng cu lớn đi học về, nói bố mẹ có biết bộ tứ linh giá thực của nó bao nhiêu không? Nó chỉ có 20 triệu đồng thôi. Ngu Ngơ, Mũm Mĩm giật mình nhìn nhau, nói có thật không con, hay mày nghe người ta đồn thổi? Cu Lớn xoè ra tờ báo, nói báo đăng đây này bố mẹ ơi! Giá bộ tứ linh chỉ có 20 triệu đồng, ông chủ hô lên 1 triệu đô, Ban tổ chức hô lên 2 triệu đô, 2 triệu đô là 40 tỷ đồng chứ không là chuyện nhỏ.


Ngu Ngơ, Mũm Mĩm trợn mắt há mồm, nói ối cha mẹ ơi, buôn gian bán lậu một vốn bốn lời, "buôn" từ thiện một vốn hai chục nghìn lời, kinh quá kinh quá, hu hu!

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

Kinh doanh Từ thiện?

Hằng năm có rất nhiều đợt quyên góp ủng hộ cho vì người nghèo, người tàn tật, nhiễm chất độc Da Cam, vì đồng bào bị thiên tai, lũ lụt… Những cuộc quyên góp như thế đã giúp những con người khổ đau, đói nghèo  vượt qua số phận khắc nghiệt hướng tới một cuộc sống an lành. Đó là một sự thật, đó cũng là điều đáng cho ta khâm phục và ca ngợi. Nhiều chương trình từ thiện được tổ chức bài bản, hiệu quả, minh bạch, gây được niềm tin trong công chúng. Chương trình từ thiện như “Nối vòng tay lớn” được UBMTTQ Việt Nam phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức thường niên là một ví dụ.


            Tuy nhiên có một sự thật khác làm ta không yên tâm khi tham gia đóng góp cho các hoạt động từ thiện. Băn khoăn lớn nhất khiến nhiều người có tâm và có tiền là liệu tiền bạc và của cải mà họ đóng góp  có đến tận tay những con người đói nghèo, khổ đau thật hay không. Câu chuyện dân một xã nhận tiền quà xong lại phải nộp lại cho xã để xã phân phối lại mà báo chí đã nêu chắc chắn không phải là một ngoại lệ.


            Băn khoăn khác thuộc về các nhà tổ chức các hoạt động từ thiện, ấy là số phần trăm chiết khấu số tiền quyên góp được chi cho Ban tổ chức. Đành rằng hoạt động quyên góp từ thiện cũng rất tốn kém nhưng không ai biết nó tốn kém bao nhiêu và số 10%-20% được trích lại là bao nhiêu. Nếu một cuộc quyên góp lên tới hàng trăm tỉ đồng thì số 10%-20% ấy là không nhỏ.


            Người ta chưa có một bằng chứng nào về sự ăn lãi lấy lời của các tổ chức quyên góp từ thiện. Sự nghi hoặc đôi khi làm mếch lòng những người đã dồn hết công sức làm từ thiện. Nếu đêm đấu giá từ thiện ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt đêm 11/11 vừa rồi không vỡ lỡ thì không ai biết đây là hoạt động có tính kinh doanh chứ không đơn thuần là một hoạt động từ thiện. Trong cuộc đấu giá này “Theo bản thỏa thuận, nếu bán đấu giá được, Hội chuyển cho chủ sở hữu số tiền bằng với giá gốc của vật phẩm, số chênh lệch mới được hỗ trợ cho đồng bào miền Trung bị mưa lũ”. Tiêu chí sáng sủa trên không ai ngờ lại ẩn giấu một phép “biến thủ”, đó là sự định giá gốc các vật phẩm đấu giá.


 Đơn cử bộ tứ linh chẳng hạn, giá trị gốc của nó là 1 triệu đô đã được Ban tổ chức công bố là 2 triệu đô. Giả sử cuộc đấu giá thành công và thu về 47,9 tỉ đồng cho bộ tứ linh thì Ban tổ chức sẽ có 1 triệu đô, tức 20 tỉ đồng. Sau khi chuyện này được “ phanh phui”, một người trong Ban tổ chức nói rằng sẽ trích 50% phần chênh lệch “giá gốc” bộ Tứ linh cho ủng hộ miền trung và công tác tổ chức. Câu hỏi đặt ra: thế thì 50% ( tức 10 tỉ) còn lại sẽ vào túi ai? Nhà báo Trần Minh Quân đã chỉ ra: ngay cả khi Ban tổ chức được hưởng một nửa của 10 tỉ kia thì Ban tổ chức đã ăn lời 2 tỉ. Đơn giản là tổng chi phí cho đêm đấu giá được công bố là 4,1 tỉ, trong khi đã thu được 1,1 tỉ nhờ bán vé và quảng cáo. Nếu Ban tổ chức được chi thêm 5 tỉ, ta sẽ có phép toán: ( 5 tỉ+ 1,1 tỉ)- 4,1 tỉ= 2 tỉ. Đó chỉ là phép toán dành cho bộ tứ linh, còn giá gốc thật của chiếc trống đồng, bức tranh bằng đá quí và hòn Rubi 10 kg là bao nhiêu thì chưa ai biết. Cuộc đấu giá đổ bể, những kẻ đấu giá đã chạy làng cho thấy trình độ yếu kém của Ban tổ chức, cũng cho thấy luôn cái “ đuôi chuột”  của tổ chức này. Có thể nói đây là cuộc kinh doanh nhân danh từ thiện.


Không phải nghi ngờ các hoạt động từ thiện xưa nay nhưng từ vụ việc này đã dóng một tiếng chuông cảnh tỉnh, rằng ở đời còn lắm kẻ vô luân bại lý, nhân danh nỗi khổ đau của người khác để kinh doanh, hãy cảnh giác hỡi những tấm lòng hảo tâm.


 

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Hư danh và thực họa

Thích hư danh, lấy hư danh để lừa phỉnh người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng có. Nhưng chưa thời nào hư danh tràn ngập khắp nơi như thời này; từ những danh hiệu, những giải thưởng, những danh xưng đến nạn bằng cấp giả, học hàm giả, học vị dởm…


Một ông phó bí thư thường trực tỉnh ủy có bằng tiến sĩ chỉ sau sáu tháng “đào tạo”. Một giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch có bằng tiến sĩ của Mỹ trong khi một câu tiếng Anh bẻ đôi không biết. Một giám đốc Sở Y tế có bằng thạc sĩ chỉ sau 40 ngày “học”, v.v… và v.v… Không cần nói thêm nữa vì ai cũng biết quá nhiều rồi, có thể nói chúng ta đã quá quen với đại nạn này, đã cay đắng sống chung với nó, cơ hồ còn khốn khổ hơn sống chung với lũ. Cay đắng vì buồn, đau và xấu hổ. Vì sao hư danh lấn lướt chính danh? Vì sao người ta nô nức rời bỏ chính danh chạy theo hư danh ghê gớm đến như vậy? Đó là những câu hỏi đau buốt. Ở cái thời mà đạo đức giả lên ngôi thì tìm kiếm câu trả lời vừa dễ lại vừa khó. Dễ là nhìn thấy mười mươi, khó là ít ai công khai thừa nhận nó.


Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách trọng dụng hiền tài. Ngay trong Luật Công chức cũng đã ghi rất rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”. Vấn đề ở chỗ thế nào là tài năng thì luật không nói đến. Từ đó người ta tự do thoải mái định danh theo cách người tài là người có bao nhiêu giải thưởng, bao nhiêu huân huy chương, học hàm thế nào, học vị ra sao… Ở thời buổi tham nhũng là quốc nạn này thì đó là cơ hội để cho người ta mua danh bán tước, thoải mái ban thưởng cho nhau.


Chính bổ nhiệm cán bộ, công chức dựa trên bằng cấp, không cần biết bằng cấp gì đã dẫn đến có rất nhiều lãnh đạo có trình độ học vấn giả danh. Đồng thời lôi kéo cán bộ, công chức vào một cuộc biến hình trên quy mô xã hội, bất chấp các quy chuẩn tối thiểu của đạo đức và học thuật. Khi đó người trung thực, kẻ thực tài không có đất sống, họ bị đẩy ra rìa. Đây chính là điều làm nên thực họa. Ở bất kỳ nơi đâu, khi hiền tài bị ruồng bỏ, kẻ bất tài khoác áo hư danh hoành hành xã hội, thì ở đó cái họa lớn đã chất đầy. Vô cùng đáng sợ.


Hơn hai ngàn năm trước, Khổng Tử (551-479 TCN) đã khuyến cáo về tệ nạn hư danh như thế này: “Danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói không thuận tất việc chẳng thành. Việc chẳng thành tất lễ nhạc không hưng. Lễ nhạc không hưng tất hình phạt chẳng đúng phép, hình phạt mà không đúng khuôn phép tất dân không biết đặt tay chân vào đâu để nhờ cậy”. Lời cảnh báo đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Khi các công trình giao thông thiếu tính nhân văn

Hằng năm chúng ta có hàng chục công trình giao thông được hoàn tất, được đưa vào sử dụng. Có những công trình lớn, rất lớn, thậm chí rất vĩ đại, như đại lộ Thăng Long chẳng hạn, làm cho bộ mặt đất nước đổi thay, chất lượng cuộc sống được gia tăng rõ rệt. Rất đáng mừng.


 Tuy nhiên có một băn khoăn lớn, cũng là nỗi lo thường trực của người dân, rằng ở đâu có công trình giao thông được đưa vào sử dụng là ở đó cuộc sống của người dân bị xáo trộn, nhiều bất cập nảy sinh do chính công trình đó gây ra.


Thử đọc lướt qua các tiêu đề báo chí cũng đã thấy rất rõ. Ví dụ Đường cao tốc TP.HCM-Trung Lương: Ngày đầu thông xe đường cao tốc TP HCM – Trung Lương: Dân bỡ ngỡ, cán bộ mệt nhoài -Sợ hãi trên đường cao tốc xịn nhất nước-Thêm nhiều sai phạm tại Dự án đường cao tốc TPHCM - Trung Lương …v.v. Ví dụ Đại lộ Thăng Long: Bì bõm 'bơi ao' lên đại lộ hiện đại nhất VN- Cảnh bi hài trên đại lộ dài nhất Việt Nam -Bát nháo giao thông trên Đại lộ Thăng Long. v.v.


 Rất dễ thấy nguyên nhân căn bản gây ra những “ hỗn loạn”, “bát nháo” nói trên. Đấy là khi xây dựng, các nhà chức trách chỉ quan tâm đến công trình mà không quan tâm đến việc công trình đó sẽ sống với dân như thế nào, tức tính nhân văn của công trình bị thiếu vắng nghiêm trọng, nếu không muốn nói là không có.


Đơn cử Đại lộ Thăng Long chẳng hạn, đấy là đại lộ lớn nhất, hiện đại nhất, đường cao tốc tốt nhất, với tổng kinh phí trên 7.500 nghìn tỉ, tuồng như gây cho dân nhiều thất vọng nhất. Khi đại lộ được đưa vào sử dụng thì hầu hết các tuyến đường  huyết mạch của các địa phương  dẫn lên Đại lộ Thăng Long đã biến thành những bài lầy…Lý do là nhà thầu đã sử dụng các tuyến đường này để vận chuyển vật liệu xây dựng cho công trình. Khi thi công xong công trình, nhà thầu dường như đã “quên” trả lại mặt đường, cũng như hoàn thiện các tuyến đường gom dân sinh.


Các nhà thiết kế Đại lộ thì quên mất Đại lộ đi qua vùng dân sinh, ở đó dân phải qua đường ra đồng, ngày thường chỉ mất vài trăm mét, bây giờ muốn ra đồng người ta phải đi  vòng chỗ thì ba bốn cây số, chỗ thì chín mười cây số, lại còn phải gồng gánh, dắt trâu bò nữa. Đó là lý do các rào chắn bị phá, dân tự mở lối ra đồng, gây nguy hiểm vô cùng trên đường cao tốc.


Đó cũng là lý do khiến dân đổ trộm đồ phế thải suốt một dọc dài hàng chục km. Những bãi phế thải xuất hiện sau một đêm trên Đại lộ, đường gom bên cầu vượt Phú Đô, tại nút giao thông Đại học Tây Nam, bên cầu chui đê hữu sông Nhuệ, ngay các hầm qua đường cũng được tận dụng làm nơi đổ phế thải… chẳng những gây ô nhiễm môi trường, làm mất vẻ đẹp cảnh quan mà con gây tai nạn giao thông rất nguy hiểm trên tuyến đường cao tốc này.


Các nhà thi công cũng quên mất mình đang thi công qua vùng dân sinh nào, dân trí đến đâu, đời sống kinh tế thế nào để tính toán việc bảo vệ các thiết bị cho Đại lộ. Đó là lý do Đại lộ chưa kịp đưa vào sử dụng đã thấy xuất hiện việc “chôm chỉa” tôn lượn sóng (hàng rào bảo vệ hai bên đường), nắp hố ga, cáp điện chiếu sáng... Có thể nói Đại lộ đã hỏng ngay khi nó chưa được sinh ra.


Rồi các biển báo từ kí hiệu đến vị trí lắp đặt được nhà thầu cho lắp đặt chỉ để nhà thầu hiểu chứ không phải cho dân hiểu. Thậm chí nhiều nơi khi công trình được đưa vào sử dụng cả tháng rồi vẫn không thấy có biển hiệu, trong khi trên một chặng đường dài ba chục km không có một trạm CSGT nào để giúp dân chúng làm quen với Đại lộ nhiều làn đường này. Đó là lý do ô tô tải, ô tô bán tải, ô tô con, xe mô tô, xe đạp, xe thồ… đủ  loại chạy ngược chiều chạy bát nháo trong những tuần đầu Đại lộ mới khai trương., gây ra cảnh bi hài cười chảy nước mắt trên Đại lộ lắm cái nhất này.


Khi được hỏi vì sao, các nhà chức trách thường đổ lỗi cho dân, rằng do dân trí thấp, ý thức người dân không cao, người dân xem thường luật lệ giao thông… vân vân và vân vân. Điều đó không sai. Nhưng chính các công trình thiếu tính nhân văn, tức thiếu tính vì dân, mới là nguyên nhân đầu tiên cần phải nói đến.  Tiếc thay không một nhà chức trách nào dám đứng ra thú nhận.

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Văn hóa “dưới gầm bàn”

Cha ông ta không có văn hóa phong bì. Văn hóa ứng xử theo kiểu bánh ú đi bánh chì lại, gái có công chồng không phụ, một ứng xử rất văn hóa, đầy tình người, đã bị lòng tham lợi dụng.


Thay vì hai tiếng cảm ơn, người ta hành xử theo cách “bánh chì lại”, chính cái sự “bánh chì lại” là lý do đẻ ra văn hóa phong bì. Văn hóa phong bì gặp cơ chế quan liêu mệnh lệnh giấy tờ, cơ chế xin-cho đã sinh sôi nảy nở, nhanh chóng trở thành một tệ nạn. Lâu ngày nó trở thành nếp nghĩ, nếp sống của người Việt. Ngày nay nó tồn tại như một lẽ đương nhiên. Rất đáng sợ.


Nói như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc: “Những chi phí không chính thức, chi phí “qua gầm bàn” đối với việc thực hiện thủ tục hành chính là vấn đề mà xã hội vẫn đang rất bức xúc. Vậy ai làm vấn đề đó, ai đã gây ra bức xúc đó? Chính là cán bộ”. ĐB QH Nguyễn Minh Hồng (Nghệ An) đã khẳng định: “Nếu phong bì đi trước thì có muốn mua một mảnh đất cũng sẽ có cán bộ đến tận nơi, tận nhà làm thủ tục cho ngon lành. Còn nếu vẫn không chịu “làm luật” thì còn phải xếp hàng chầu chực để vượt qua cả núi nghị định đang cản trở”. Còn ĐB QH Phạm Thị Hải (Đồng Nai) đã nói thẳng: “Đối với các doanh nghiệp trong quá trình xúc tiến các thủ tục cần thiết cho công việc kinh doanh, việc bôi trơn, lót tay cho cán bộ để được giải quyết nhanh chóng là câu chuyện tuy không nói ra nhưng ai cũng phải biết, phải làm”.


Có thể viết vài trăm trang vẫn chưa hết những lời ca thán về cái gọi là văn hóa phong bì, nó không còn là một tệ nạn, từ rất lâu rồi nó đã trở thành một đại nạn. Câu hỏi là làm sao hạn chế và dẹp bỏ thứ văn hóa phi văn hóa này chứ không phải than thở một thực trạng tồn tại hơn nửa thế kỷ nay. Sự tiến bộ của chúng ta chỉ mới dừng lại ở chỗ không còn che giấu nó tại nghị trường, nhưng đưa ra một giải pháp thì hầu như không có. Chưa thấy ai đưa ra một giải pháp khả thi để yên lòng dân.


Có người cho rằng sở dĩ có nạn phong bì là vì đời sống cán bộ công nhân viên chức ta còn thấp quá, nâng cao đời sống cán bộ là để hạn chế nạn phong bì. Đó là sự ngộ nhận rất nguy hiểm. Bởi vì phong bì sinh ra vì lòng tham chứ không phải sinh ra từ đói nghèo. Vấn đề là ở đạo đức chứ không phải sự thiếu thốn hay đói nghèo. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc khi nói về cải cách hành chính đã khẳng định: “Thủ tục hành chính dù có tốt bao nhiêu đi chăng nữa, nhưng con người không tốt thì cũng không giải quyết được vấn đề gì”.


Ngay từ năm 1952, Bác Hồ đã cảnh báo: “Tham ô, lãng phí và tệ quan liêu là kẻ thù của nhân dân, nó là kẻ thù khá nguy hiểm vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta…”. Chính “tham ô, lãng phí và tệ quan liêu” đã sinh ra đại nạn phong bì, và chính chúng là “kẻ thù của nhân dân”, phải xác định đúng kẻ thù thì mới có thể tìm được giải pháp dẹp bỏ được đại nạn này.


Chúng ta đã vượt qua thời kỳ quan liêu bao cấp chưa? Hay nó đang tồn tại ở mức cao hơn, sâu hơn? Cơ chế xin-cho, mệnh lệnh giấy tờ đã dẹp bỏ được chưa hay nó vẫn tồn tại ngang nhiên dưới gầm bàn? Trả lời câu hỏi này, báo cáo của Ủy ban Pháp luật Quốc hội đã chỉ rõ: “Tình trạng cán bộ, công chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, tiêu cực, tham nhũng còn khá phổ biến”.


Một khi lệnh rỉ tai, lệnh telephone vẫn cao hơn các văn bản pháp quy, luật rừng vẫn mạnh hơn luật pháp thì không thể nói các cơ chế của thời quan liêu đã được dẹp bỏ. Một khi cơ chế quan liêu chẳng những không bị dẹp bỏ mà còn được kín đáo nuôi dưỡng thì không ai có thể đưa ra một giải pháp nào khả dĩ để hạn chế đại nạn phong bì chứ đừng nói dẹp bỏ. Đó là một sự thật đau lòng.


 ( Bài viết cho báo Phụ nữ tp. HCM)

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Ứng xử với phản biện và dư luận xã hội

Thông báo: kể từ trưa 9/11 email của bọ bị trục trặc, không sử dụng được, không rõ có phải bị hack hay không. Vậy bọ thông báo email: bilipmayo@gmail.com không dùng nữa, bà con nếu ai nhận được email từ địa chỉ này đều không phải email của bọ.


Email mới của bọ là: lapquechoa@gmail.com, hoặc:


quanglap52@yahoo.com


Chiều ngày 27/ 10 vừa rồi, trên báo điện tử Vietnamnet có cuộc tranh luận trực tuyến giữa đại diện Bộ Tài nguyên - Môi trường, chủ đầu tư với các chuyên gia,  các nhà văn hoá…về chủ đề : Nên tiếp tục khai thác hay dừng dự án bô-xít Tây Nguyên. Cuộc tranh luận có sự tham gia của khán giả với rất nhiều loại chính kiến đã diễn ra rất sôi nổi. Gần đây báo điện tử Dân trí đã mở các cuộc trưng cầu dân ý về Bauxite ở Tây Nguyên, về Đại lễ Nghìn năm Thăng Long- Hà Nội…với sự tham gia đông đảo của bạn đọc. Những sáng kiến như thế này cho thấy phản biện và dư luận xã hội đã thực sự được coi trọng.


            Sở dĩ nói thực sự được coi trọng vì lâu nay các phản biện và dư luận xã hội nếu không bị qui kết là chống đối, là âm mưu diễn biến hoà bình thì cũng bị nhẹ nhàng bỏ qua, coi như không có gì quan trọng. Đôi khi cũng xảy ra việc thăm dò dân ý, cũng thấy có sự chú ý nghe phản biện nhưng đấy chỉ là cách lấy lòng dân chúng, ít ai thực bụng nghe dân. Khẩu hiệu Dân biết dân bàn dân kiểm tra tuồng như chỉ là nói dzậy mà không phải dzậy. Điều đó làm cho dân chán nản, niềm tin theo đó cũng bị sa sút nghiêm trọng.


            May thay gần đây đã có những tín hiệu đáng mừng về sự cầu thị và biết lắng nghe dân ý. Việc đình chỉ bắn pháo hoa trên diện rộng của Hà Nội nhân Đại lễ Nghìn năm là một ví dụ. Việc Quốc hội dành một phút mặc niệm những người dân miền Trung bị chết trong trận lũ vừa rồi là một ví dụ khác cho thấy tiếng nói của dân đã được lắng nghe và những góp ý đúng đắn đã được tiếp thu nhanh chóng, cho dù chỉ là sự lặng lẽ tiếp thu.


             Có lẽ Hà Nội là nơi đi đầu bước trước trong ứng xử với phản biện và dư luận xã hội. Họ  chăm chú lắng nghe phản biện và dư luận xã hội, không chỉ ở những tờ báo chính thống, ngay cả trong các blog cá nhân. Không ít lần Hà Nội đã quyết định làm theo ý của  dân. Từ việc chợ 19/12, khách sạn trong công viên Thống Nhất đến việc lát gạch Hồ Gươm, dựng 5 cổng chào, tên trường Amsterdam… khi lẳng lặng sửa sai khi công khai thay đổi, trước sau Hà Nội đều nghe theo dân cả. Thực ra Hà Nội có thể viện ra cả ngàn lý do để phân bua, họ có cả chục tờ báo để “ đập” lại những phản biện. Nhưng Hà Nội đã không chọn cách ấy, họ quyết định nghe theo dân. Đó là ứng xử đúng đắn nhất, văn minh nhất đối với phản biện và dư luận xã hội.


            Còn nhớ trận lũ lịch sử ở Hà Nội hai năm trước đây, năm 2008, trận lũ đã làm hai chục người chết, hàng triệu người bị kẹt trong lũ. Dân kêu ca cơ sở hạ tầng yếu kém cũ nát, cán bộ xử lý chậm chạp quan liêu. Ông Phạm Quang Nghị khi đó mới về làm bí thư Thành uỷ Hà Nội đã trả lời phóng viên ViêtNamnét rằng  “Tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm”, “cứ chờ trên về, cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia”… lập tức bị một làn sóng dư luận phản ứng dữ dội. Khi đó, nói như nhà báo Huy Đức, ông có thể “đổ lỗi” cho phóng viên và gây sức ép để tờ báo này rút bài báo xuống. Nhưng ông Phạm Quang Nghị đã không chọn cách ấy, ông quyết định xin lỗi dân.  Vẫn trên ViêtNamnet ông đã nói lời thành khẩn:”Tôi thực sự lấy làm tiếc và muốn chân thành xin lỗi bạn đọc, xin lỗi mọi người”. Lời xin lỗi kịp thời và sáng suốt, ông Nghị lập tức lấy điểm được lòng dân.


            Từ những gì kể trên có thể dễ dàng rút ra bài học giản đơn, rằng một khi biết ứng xử có văn hoá, với cái tâm thành khẩn với phản biện và dư luận xã hội thì chẳng những dân không còn oán giận mà lòng dân khi đó đã thuộc về chúng ta. Tiếc thay bài học đó đến nay vẫn không ít người chịu thấm nhuần.


(Bài viết cho báo Phụ nữ Tp.HCM)


 Mời đọc một bài viết hay và xác đáng:

PHẢN BIỆN XÃ HỘI


Nguyễn Trần Bạt


Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Cty Invest Consult Group


Quan sát cuộc sống chúng ta có thể thấy phản biện là một hoạt động diễn ra hàng ngày. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình. Trong khoa học, phản biện cũng là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học. Còn trong đời sống xã hội phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ. Phản biện xã hội là một vấn đề hoàn toàn không mới, loài người đã làm quen với khái niệm này từ rất sớm và biến nó trở thành công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ, tạo sự phát triển về chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến.


Trong thời đại ngày nay, phản biện xã hội vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng, là đối tượng cần nghiên cứu, nhất là đối với các quốc gia đi sau, các quốc gia đang phấn đấu cho nền dân chủ.


I. Phản biện xã hội là một hoạt động khoa học


 Phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó. Nếu không có phản biện có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không thèm đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó. Phản biện xã hội là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc trưng chuyên nghiệp nhất của cái gọi là đời sống dân chủ. Phản biện trong một xã hội dân chủ là môt loại phản hành động (phản hành động chứ không phải là phản động). Nó xuất hiện song song cùng với các hành động, nó xuất hiện đối lập với tất cả các hành động.


Trong mỗi một xã hội bao giờ cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Các nhóm lợi ích bao giờ cũng có nhu cầu tiến hành hành động vì một mục tiêu nào đó. Nhưng trên mỗi khía cạnh hay mỗi lĩnh vực của đời sống con người bao giờ cũng có những cách lý giải khác nhau và do đó có những cách hành động khác nhau để đạt được mục tiêu như vậy. Phản biện tạo ra một giai đoạn đệm cho quá trình hành động tự nhiên của các nhóm lợi ích, đó là giai đoạn thảo luận và thỏa thuận. Phản biện làm cho các hành vi chính trị, kinh tế và xã hội trở nên ít chủ quan hơn, tức là sự xung đột của các nhóm lợi ích đã được điều chỉnh thông qua thảo luận và thoả thuận. Nói cách khác, phản biện làm cho những cuộc xung đột trên thực tế trở thành cuộc xung đột của thảo luận, tức là biến sự xung đột lợi ích trong hành động thành các xung đột lợi ích trong thảo luận.


Nếu một xã hội không có phản biện và mỗi hành động đều được đương nhiên tiến hành thì đấy là cách thể hiện rõ rệt nhất tính chất phi dân chủ của xã hội. Bởi vì mỗi một hành động chính trị bao giờ cũng là kết quả thỏa thuận của các khuynh hướng chính trị, một hành động chính trị chỉ có thể được tiến hành khi nó là sự thúc bách của nhu cầu đời sống và để cân đối các nguyện vọng khác nhau của đời sống. Ví dụ trong đời sống hằng ngày của tôi chẳng hạn, nếu tôi luôn cố gắng tạo ra các không gian chính trị trong khuôn khổ tổ chức mình để các phản biện được thực hiện một cách tự nhiên thì chính các phản biện này sẽ làm cho các hành động của tôi trở nên có chất lượng khoa học và do đó kéo theo cả chất lượng chính trị của chúng, làm cho các hành động ấy trở nên đúng đắn. Chính vì vậy, để có một xã hội có chất lượng hành vi đúng đắn cần phải khẳng định tầm quan trọng của các hoạt động phản biện. Phản biện là một đòi hỏi khách quan của đời sống. Nói một cách khái quát, phản biện là một thể hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó mỗi con người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình. Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hoá, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn.


Cho đến lúc này, ở nhiều nơi, trong một số hệ thống chính trị dường như vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về cái gọi là phản biện. Tất nhiên, trong bất cứ một hệ thống chính trị nào người ta cũng không thể bỏ qua nhân dân được, cho nên tất cả mọi chính sách trong khi xây dựng đều được hỏi ý kiến nhân dân. Nhưng hỏi ý kiến nhân dân là việc trưng cầu dân ý một cách không chuyên nghiệp và hoàn toàn không phải là phản biện. Phản biện là một hoạt động khoa học, phản biện là tranh luận một cách khoa học chứ không phải là hỏi xem anh có đồng ý với tôi hay không. So với trưng cầu dân ý, phản biện hoàn toàn khác về chất. Trưng cầu dân ý là hỏi dân. Phản biện không phải là hỏi dân. Phản biện không phải là nhân dân trả lời mà là nhân dân nói tiếng nói của mình. Và tiếng nói ấy được chuẩn bị một cách chuyên nghiệp bằng trí tuệ, bằng sự thông hiểu lẫn cả dự đoán về sự xung đột lợi ích khi tiến hành một hành động xã hội. Về bản chất chính trị, phản biện là một quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận. Nếu không xác lập quyền phản biện tức là quyền tự do ngôn luận mà trưng cầu dân ý thì chỉ có hai khả năng: gật và lắc. Nhưng cả gật và lắc đều diễn ra trong im lặng. Im lặng không phải là ngôn luận. Ngôn luận là bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học. Đấy là một hoạt động của xã hội dân sự, nhưng không phải là hoạt động nhân dân đơn giản mà là hoạt động thông qua một hệ thống tranh luận chuyên nghiệp.


Nếu trưng cầu dân ý là đi tìm sự đồng thuận đơn giản thì phản biện là đi tìm sự đồng thuận có chất lượng khoa học. Đấy là sự khác nhau về chất lượng giữa phản biện và hỏi ý kiến nhân nhân. Để có được sự đúng đắn thì trong mọi quyết sách nhà nước phải đo sự đồng thuận của xã hội thông qua phản ứng của nhân dân. Để đo được tính đồng thuận xã hội cần phải xây dựng thiết chế cho nó trước. Không thể ngẫu hứng được. Nếu nhân dân chưa biết gì về dân chủ thì không thể trưng cầu ý kiến nhân dân về dân chủ. Trong một xã hội không dân chủ thì nhân dân không có trách nhiệm, mỗi một người không có trách nhiệm mà chúng ta lấy ý kiến của những người không có trách nhiệm thì ý kiến ấy cuối cùng phản ánh cái gì? Đấy chính là căn cứ để các nhà chính trị bỏ qua ý kiến của nhân dân. Sở dĩ không có sự đồng thuận trong các xã hội không phát triển là do người ta vẫn nhầm lẫn giữa phản biện và hỏi ý kiến nhân dân. Muốn có sự đồng thuận có chất lượng, chúng ta buộc phải xây dựng thiết chế phản biện. Các chính sách trước khi thực hiện không những cần phải được đo đạc rất cẩn thận, mà còn phải được xử lý về mặt số liệu một cách cẩn thận, từ đó chúng ta mới có được những chính sách phù hợp với đòi hỏi của cuộc sống. Sẽ rất mất thì giờ nếu chúng ta chỉ biểu diễn sự đồng thuận bằng các phương pháp trưng cầu dân ý một cách không chuyên nghiệp.


II. Từ phản biện đến phản đối


 Như đã nói ở trên, phản biện là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận, cho nên, nếu không xây dựng nền văn hoá thảo luận thì không thể có nền văn hoá phản biện mà chỉ có nền văn hoá chống đối. Cần phải hiểu rằng phản biện không phải là chống đối. Khất lần phản biện tức là khuyến khích chống đối. Chống đối phát triển thêm một chút là thành phá phách, phát triển thêm chút nữa thành cách mạng. Tự do ngôn luận chính là năng lực đau và kêu đau. Đau và kêu đau là năng lực của cuộc sống để thể hiện tất cả các khuyết tật, các vấn đề bên trong của nó. Nếu không có những quyền như biểu tình và ngôn luận thì con người không có năng lực kêu đau. Biểu tình và ngôn luận là hai cấp độ khác nhau của năng lực kêu đau của đời sống xã hội đối với các chính sách. Biểu tình là phản ứng trực tiếp của người dân, ngôn luận không phải là phản ứng trực tiếp từ người dân mà chủ yếu là phản ứng của bộ phận chuyên nghiệp của xã hội, tức là có những bộ phận điều tra chuyên nghiệp về các cơn đau của xã hội đối với các tác động khác nhau của chính sách. Trong một xã hội phi dân chủ, con người không có các quyền như vậy, không có quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình, quyền lập hội... tức là quyền đề kháng những trạng thái thái quá hay những biểu hiện của trạng thái lộng hành của nhà nước đối với xã hội. Nhưng ngay cả khi nhà nước không ủng hộ, không khuyến khích, thậm chí chống lại, thì những phản ứng như vậy vẫn luôn tồn tại mà không hề biến mất. Trong trường hợp đó, bản năng kêu đau của cuộc sống vẫn tồn tại, nó tích tụ lại ở bên trong và đến một mức nào đó tạo thành những cơn bùng nổ được gọi là cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội không phải là cuộc cách mạng chính trị. Cách mạng chính trị là bề mặt của các cuộc cách mạng xã hội, là khía cạnh chuyên nghiệp, khía cạnh bị kích động và khía cạnh được tổ chức của cách mạng xã hội. Còn cách mạng xã hội là nỗi uất ức tồn tại bên trong lòng xã hội, sau khi được các nhà chính trị khai thác và tổ chức mới trở thành các cuộc cách mạng chính trị. Khi đã xuất hiện các cuộc cách mạng xã hội tức là xã hội đã đi quá giới hạn chịu đựng của nó.


Xã hội có thể trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nếu hệ thống chính trị nào không ý thức được rằng chính sách nào thì sinh ra xã hội ấy. Xã hội có thể không vĩnh viễn trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nhưng những trạng thái của nó là hệ quả của hệ thống chính trị ấy. Ví dụ, có những xã hội mà trong suốt một thời kỳ rất dài im phăng phắc, không ai dám nói to tên các nhà lãnh đạo cả. Nếu cứ tiếp tục duy trì như thế thì có thể nói rằng tất cả các trạng thái sợ hãi ấy tạo ra một xã hội sợ hãi. Một xã hội sợ hãi là một xã hội sợ phát triển, sợ thay đổi, một xã hội yên phận thủ thường. Vấn đề đặt ra là chúng ta muốn gì? Với tư cách là các lực lượng xã hội, chúng ta muốn gì thì phải nói rõ, và nhà nước cũng phải tỏ rõ quan điểm là nhà nước muốn gì, tức là phải tạo ra quá trình đối thoại. Không có một xã hội đối thoại giữa các nhóm lợi ích khác nhau thì không thể có phản biện xã hội bởi vì xã hội không có thói quen thảo luận. Khi đó, năng lực phản biện đáng ra xã hội cần có để làm cho đúng đắn hơn các quyết định chính trị của nhà cầm quyền được thay thế bằng sự phản đối xã hội. Sự phản đối xã hội và sự phản biện xã hội là hai cách thể hiện những trạng thái chính trị khác nhau của xã hội đối với nhà nước. Phản biện là hoạt động thân thiện, là hoạt động có trách nhiệm, là sự kết hợp giữa trí tuệ xã hội với trí tuệ của hệ thống chính trị để tạo ra tính chính xác, tính đúng đắn của các quyết định chính trị. Còn phản đối là các phản ứng cực đoan ở những cấp độ khác nhau, cùng phát triển với sự sai lầm của các quyết định chính trị. Nếu không tổ chức phản biện xã hội một cách chuyên nghiệp, một cách đúng đắn và một cách thân thiện thì chắc chắn chúng ta sẽ hướng dẫn xã hội biến hoạt động phản biện trở thành hoạt động phản đối. Khi sự phản đối ấy được chuẩn bị một cách âm thầm cùng với tốc độ tăng trưởng của các sai lầm chính trị thì nó có thể trở thành sự chuẩn bị cho một cuộc cách mạng. Đó là tất yếu.


Phản biện xã hội chính là biện pháp thay thế sự chống đối xã hội, hay nói cách khác, cần phải thay thế tự do cãi cọ bằng tự do ngôn luận. Ở nước Anh, trong công viên Hyde Park người ta dành riêng một khu cho những người muốn nói xấu Nữ hoàng và Thủ tuớng. Ở đấy người ta có thể nói thoải mái để xả hết cơn tức. Do sự bức xúc của đời sống nên con người có những nhu cầu như vậy. Sự va chạm tự nhiên của các nhóm lợi ích hay của các lợi ích tạo ra sự cãi cọ. Cần phải hướng dẫn những sự cãi cọ bản năng trở thành những cuộc thảo luận chuyên nghiệp mà biểu hiện cao nhất của nó là phản biện thì mới có thể có một xã hội ổn định và phát triển.


III. Điều kiện để phản biện xã hội trở thành một hoạt động có chất lượng khoa học


Muốn có phản biện xã hội thì trước hết xã hội phải có thói quen thảo luận, mà muốn tạo thói quen thảo luận cho xã hội thì nhất thiết phải trả lại cho xã hội cảm hứng nói, tức là trả lại cho xã hội quyền tự do ngôn luận để khích lệ xã hội tham gia vào những cuộc thảo luận hoặc tranh luận trên quy mô xã hội về tất cả các vấn đề. Khi xã hội được huấn luyện thông qua những cuộc thảo luận như vậy thì xã hội mới có đủ năng lực để phản biện những vấn đề hệ trọng khác, vì khi nói đến phản biện xã hội tức là phản biện những vấn đề hệ trọng của đời sống chính trị. Cho nên, điều kiện thứ nhất là cần phải thực thi tự do ngôn luận. Phản biện là biểu hiện chuyên nghiệp của việc người ta thực thi quyền tự do ngôn luận nên phải khẳng định quyền tự do nói trước. Tự do ngôn luận là quyền đầu ra của mọi ý kiến phản biện. Nếu không có tự do ngôn luận thì không có cách gì để phản biện. Không có quyền nói thì anh cứ nghĩ mãi và anh có nghĩ kiểu gì, nghĩ hay đến mấy mà không nói được thì cũng vô ích vì anh không có cách gì để thể hiện được ý nghĩ ấy. Nếu hạn chế quyền tự do phổ biến các quan điểm thì có nghĩa là dành toàn bộ các quyền tự do cho một loại quan điểm và nếu xã hội chỉ được hướng dẫn bằng một loại quan điểm thì vô cùng nguy hiểm vì nó tất yếu sẽ dẫn đến sự đơn điệu và lệch lạc của đời sống. Cho nên, tự do ngôn luận chính là một trong những chìa khoá cực kỳ quan trọng để làm cân bằng tất cả các khuynh hướng, để mỗi một điểm trong đời sống xã hội nhận được nhiều thông tin khác nhau giúp cho các thành viên trong xã hội có năng lực lựa chọn. Bản chất của tự do là quyền được lựa chọn và sự phong phú để lựa chọn. Muốn có sự phong phú để lựa chọn thì con người phải có quyền phổ biến quan điểm, tức là quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là tiền đề, là điều kiện cơ bản để con người thực thi các quyền tự do lựa chọn.


Thứ hai, phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận cho nên nó cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách chuyên nghiệp. Trước khi nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức và nói chuyên nghiệp là giới báo chí. Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi một hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện xã hội.


Vấn đề của những nước chậm phát triển là cần phải xây dựng một đội ngũ trí thức. Tại sao lại đặt ra vấn đề này? Bởi vì với chất lượng con người ở những nước này thì chưa thể có đội ngũ trí thức tiên tiến được. Đội ngũ trí thức ở đó mới đạt đến trạng thái hơn nhân dân và họ tự hào là mình hơn nhân dân. Đó là nỗi đau khổ lớn nhất và là chỉ tiêu tập trung nhất để mô tả tình trạng chậm phát triển của xã hội. Khi nào giới trí thức nhận thức được rằng trí thức là tội đồ của nhân dân, có sứ mệnh nghĩ hộ nhân dân, nghĩ trước nhân dân và biết biến nhân dân trở thành đồng minh của sự suy nghĩ của mình thì đấy là dấu hiệu bắt đầu của sự phát triển. Vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi cách đây gần ba chục năm đã nói điều này, đó là người trí thức phải nói hộ nhân dân. Tuy nhiên, người trí thức nói hộ nhân dân thì vẫn chưa đủ để tạo ra sự đồng thuận xã hội. Người trí thức không chỉ nói hộ nhân dân mà quan trọng hơn là phải hướng dẫn nhân dân để tạo cho nhân dân thói quen nói lên tiếng nói của chính mình.


Khi người trí thức yêu nhân dân của mình thì thành đạt bao nhiêu cũng không đủ, cũng không làm cho người ta thoả mãn bởi lý tưởng của tri thức nằm trong nỗi khổ, trong sự suy nghĩ của nhân dân chứ không phải nằm trong sự thành đạt của cá nhân. Những trí thức Pháp ở thời kỳ Khai sáng chính là những ví dụ về tầng lớp trí thức coi mình là tội đồ của nhân dân. Nhà nước Pháp truy bắt Diderot, truy bắt Montesquieu, truy bắt Voltaire. Voltaire phải trốn lên biên giới trong các nhà thờ lớn của nước Pháp, ở đấy ông ta viết những tác phẩm về tự do. Montesquieu và Diderot cũng thế. Cho nên, xã hội muốn phát triển thì việc đầu tiên là phải phát triển đội ngũ trung lưu của xã hội mà ở những nước chậm phát triển thì tầng lớp trung lưu của xã hội là những người trí thức, chứ không phải là những kẻ buôn bán lắm tiền.


Bộ phận nói chuyên nghiệp là giới báo chí ở những quốc gia chậm phát triển cũng có những vấn đề của nó. Do sự bức xúc của đời sống nên giới báo chí thường có xu hướng cứ đòi hỏi, cứ làm to tất cả những thứ thực ra rất khiêm tốn, rất gần gũi với đời sống con người. Đấy chính là một trong những nhược điểm của giới báo chí. Tôi cho rằng chúng ta không nên đao to búa lớn, không nên gạch chân dưới những đòi hỏi của mình. Chẳng hạn, trong một chế độ chính trị chịu sự chi phối của quá khứ mà đòi hỏi các nhà chính trị phải thay đổi hay phải cắt bỏ ngay những bộ phận đã được mã hoá bởi quá khứ ra khỏi cơ thể chính trị thì đó là đòi hỏi khó chấp nhận. Nhưng nếu chúng ta đưa ra những đòi hỏi về xã hội dân sự thì đấy lại là quyền rất chính đáng. Chúng ta hãy đòi hỏi một cách từ tốn tất cả những gì cần cho đời sống con người. Hãy chia nhỏ tất cả những đòi hỏi lớn. Chúng ta xây dựng nền dân chủ bằng việc xây dựng các quyền nhỏ nhoi liên quan đến thân phận con người trước. Và chúng ta thấy rằng tất cả những thứ nhỏ nhoi khiêm nhường ấy không chỉ chúng ta cần, mà con cái những nhà chính trị cầm quyền cũng cần. Họ thấy sự gần gũi của những đòi hỏi của chúng ta so với những đòi hỏi của con cái họ và họ không thấy nguy cơ chính trị nào trong những đòi hỏi ấy cả, hay nói cách khác, chúng ta sẽ có được sự cảm thông chính trị rất con người giữa chúng ta và họ, đấy chính là mục tiêu và là phương thức tối ưu của hoạt động báo chí.


Có nhiều người cho rằng chức năng thức tỉnh cảm hứng xã hội cũng như thức tỉnh nhận thức xã hội là của báo chí, nhưng báo chí lại không có đủ quyền tự do thì làm thế nào để xã hội có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn ấy được. Xét về mặt định tính thì có vẻ như ý kiến ấy là đúng, nhưng trên thực tế thì không đúng. Anh có tự do đến đâu thì anh hãy tận dụng cho hết cái không gian ấy đi. Nói to quá trong một căn phòng bé thì chỉ làm váng tai người nghe, cho nên, hãy nói những điều vừa phải trong một không gian thích hợp, hãy khích lệ mọi người và dần dần họ sẽ đòi một không gian lớn hơn. Các không gian tự nó nở ra cùng với thời gian, cùng với trí tuệ của con người chứ không phải nở ra bằng sự nói to của bất kỳ ai. Chúng ta có nói to mấy cũng không làm thủng được bức tường chính trị, nhưng nếu người dân đòi hỏi thì bức tường ấy sẽ tự giãn. Cho nên phải kiên nhẫn. Nếu chúng ta xem chính trị là một cuộc đấu tranh thì chúng ta hiểu sai toàn bộ giá trị của đời sống chính trị. Chính trị không phải là đối lập, không phải là đối kháng, không phải là đấu tranh, chính trị là quá trình xã hội thuyết phục lẫn nhau về sự hợp lý cho sự phát triển. Và phản biện xã hội chính là một trong những cách thức để thực hiện quá trình ấy.


Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể tiếp tục xem động lực phát triển của xã hội là đấu tranh giai cấp mà phải xem sự phát triển dân trí là động lực của sự phát triển. Trước khi làm cho dân chúng trở thành những người có chất lượng chính trị tốt thì phải giúp họ trở thành người tốt đã. Bởi vì những người muốn làm người tốt có số lượng lớn hơn rất nhiều so với những người muốn tham gia tốt vào đời sống chính trị. Chúng ta hãy góp phần làm cho con người trở thành người hơn đã. Trên nền tảng ấy, con người mới có điều kiện để nhận thức về sự phải chăng của đời sống chính trị. Chính trị phải được phán xét bởi chất lượng con người, chứ không chỉ bởi chất lượng của nhà chính trị. Chúng ta có một nghìn nhà chính trị tốt nhưng chúng ta có một triệu người dân tồi thì xã hội cũng không thể tốt lên được. Nhưng chúng ta có một triệu người dân tốt mà chúng ta chỉ có 10 nhà chính trị tốt và có 90 nhà chính trị tồi, thì xã hội vẫn tốt lên. Cách mạng tháng Tám là một ví dụ về một xã hội như thế. Các nhà chính trị dựa vào chất lượng tử tế của xã hội Việt Nam thời đó đã tạo ra được cuộc cách mạng tháng Tám. Cho nên, để hướng dẫn người dân làm chính trị tốt, trước hết cần phải hướng dẫn họ làm người tốt. Đấy là lời khuyên của tôi với tư cách là một phản biện xã hội đối với báo chí. Báo chí cần phải góp những tiếng nói có hệ thống để xã hội thức tỉnh về câu chuyện tổ chức và rèn luyện nền dân chủ một cách từ tốn, một cách yên tĩnh để khi con người già rồi, ngẩng đầu lên, thấy trên đầu mình có nền dân chủ.


 Thứ hai ngày 8/11/2010


(Nguồn: Webssite Trần Nhương)