Hiển thị các bài đăng có nhãn Viết về tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viết về tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2011

QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN

THANH CHUNG


Sau khi mở cửa chợ Tết một tuần ở chiếu rượu Quê Choa, Bọ Lập khai bút đầu xuân với tạp văn “Những con rạm bè sông Gianh”.


Khi con đường trước mặt mỗi năm một ngắn đi, người ta hay ngoái lại phía sau cũng là điều dễ hiểu. Dạo này mình rất hay nhớ lại những ước mơ thuở nhỏ. Chẳng hạn như lúc lên bốn, lên năm, chỉ mong lọ muối biến thành lọ đường để bát cháo ngô buổi sáng được trộn đường đến ngọt lịm mà không cần phải xin phép mẹ. Mình nhớ từng ao ước sau một đêm ngủ dậy sẽ biến thành cô bé thiếu nhi Liên xô, mặc váy hồng với hai chiếc nơ vừa to vừa xinh cài trên hai bím tóc như trong một tờ họa báo. Lúc còn bé, mình luôn phải mặc thừa quần áo của các anh các chị. Nhà mình ở thành phố, nhưng ký ức vẫn đọng lại một nhánh con sông Kinh Thầy ngày đi sơ tán:


Tuổi thơ tôi có bát cơm, quả trứng bên sông


Cho bạn tôi, một buổi chiều tắm sông nước xiết


Lũ trẻ chúng tôi, chạy dọc theo bờ đê mải miết


"Tuệ ơi, về ăn cơm..."


***


Mình ám ảnh bài viết của Bọ Lập không phải vì tuổi thơ cơ cực của Bọ và những bạn bè cùng trang lứa. Cũng chẳng phải vì những con “cá ngạnh nối đuôi nhau bơi đen đặc dòng sông”, hay vì chiếc “bè rạm to lớn, đến vài vạn con”. Mình từng chứng kiến trận lụt kinh hoàng khi tất cả mọi người phải lánh ra sân kho hợp tác xã. Trẻ con, dù bị giữ chặt ở trên những chiếc bàn đặt trên giường vẫn cố tình thò chân xuống khua nước, cười đùa. Mình cũng từng chứng kiến hố bom sâu hoắm trước cửa nhà. Mấy chị em cái Liễu, bằng tuổi mình, bị văng đi mỗi nơi một mảnh. Mỗi lần nhớ lại tuổi thơ khốn khó mình thường tự nhủ: chiến tranh phải thế!


Hai mươi năm sau, mình đi làm dự án cho một tổ chức Phi chính phủ ở một tỉnh miền núi phía Bắc. Trẻ con giữa mùa đông - vẫn cởi truồng – tím tái vì lạnh - chạy theo xe “ông Tây” xin kẹo. (Hồi đó tụi mình mỗi lần đi xuống dự án đều mang theo mấy cân kẹo Hải Hà); Thanh niên dân tộc mười bảy mười tám tuổi đi khám nghĩa vụ quân sự không biết chữ phải dùng ngón tay điểm chỉ. Đất nước đã hòa bình gần hai mươi năm. Mình không hiểu nổi tại sao lại thế. Ba mươi năm sau, đọc báo thấy trẻ con đi học bị đắm đò chết đuối; trẻ con đu dây đến trường; trẻ con không đủ quần áo ấm phải xúc cát trong giờ ra chơi cho đỡ lạnh… thì lại càng không hiểu nổi. Chúng ta đang tiến lên hay lùi xuống?


Hôm qua, trong bữa ăn, mình vừa kể cho con gái nghe vừa khóc. Cô bé mười ba tuổi trong vụ chìm đò ở Quang Hải đã quyết định buông tay mẹ ra rồi lặng lẽ chìm xuống đáy sông Gianh. Cô bé muốn mẹ sống để còn lo cho các em còn nhỏ. Trong đời, ai cũng phải đứng trước những quyết định trọng đại, khó khăn. Nhưng người lớn chúng ta có tội khi bắt cô bé mười ba tuổi làm một việc quá sức mình như vậy.


Giá như các vị quan chức khi thấy mình bất lực, không lo nổi cho dân cũng dũng cảm như cô bé - Lùi lại phía sau nhường chỗ cho những người thực tài lên thay. Có lẽ đời sẽ bớt đi những số phận như cô bé nằm dưới sông Gianh; và cũng bớt đi những câu hỏi “vì sao lại thế?”.


Thanh Chung's blog

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

CHUYỆN GÃ CHĂN NGỰA BLOG VĂN CHƯƠNG (Phần II)

Lan man chuyện Quê choa thuở mưa không thuận gió chẳng hòa


Xin đọc Phần I ở Quê choa blog. hoăc ở KênhKiablog


Suốt tháng nay bà con luôn hỏi bọ: bao giờ thì nhà bọ mới mở khoá để bà con vào chơi? Nhiều tin nhắn, email và các cuộc gặp gỡ ngoài đời đã hỏi bọ câu đó. Thực tình bọ cũng không biết nói thế nào...đành phải khóa còm đợi ngày mưa thuận gió hoà.” (Trích LỜI TRẦN TÌNH CỦA BỌ)


1. Trong Hợp Tác Xã nơi lão Nập ở, không chỉ có trại ngựa Quê choa mà còn nhiều trang trại khác nuôi đủ thứ từ gia súc trâu, bò, chó, lợn đến gia cầm gà, vịt, ngan, ngỗng; đến cả những động vật nguồn gốc hoang dã gọi là gia…dã khỉ, rắn, nai, hùm. Đến nỗi, HTX quyết định phải thành lập một hiệp hội của những người chăn nuôi gọi tắt là Hội Súc Dã Cầm có tên giao dịch tiếng Anh là SDC Association do một kẻ vừa giàu vừa có thế lực là lão chủ trại trâu làm chủ tịch Hội.


Hội viên của Hội Súc Dã Cầm gồm đầy đủ các chủ trang trại trong vùng. Ngay khi có thông báo về việc thành lập Hội, các chủ trại trong vùng đã ùn ùn kéo đến nộp đơn đề đạt nguyện vọng thiết tha xin được gia nhập Hội.


Chỉ trừ bọ Nập, chủ trang trại ngựa đua Quê choa là kiên quyết không gia nhập Súc Dã Cầm. Lão chủ tịch Hội đã năm lần bảy lượt gửi giấy mời nhưng bọ Nập dứt khoát từ chối. Tuy cáu tiết lắm nhưng lão chủ trại trâu cũng xuống nước đích thân đến Quê choa chiêu dụ bọ Nập.


Sau một hồi thao thao về tương lai sáng lạn của Súc Dã Cầm, lão chỉ ra những rủi ro kèm theo cả ngụ ý đe dọa nếu như trang trại Quê choa không chịu vào khuôn phép. Cuối cùng lão xa xôi rằng sẽ để cho bọ Nập thay cái chân thư kí Hội mà lão chủ trại lợn vốn...ngu như lợn đang giữ. Kết thúc bài thuyết giảng hùng hồn ấy chủ tịch Hội Súc Dã Cầm tự tin hỏi: “Ý ông thế nào, xuôi rồi chứ?”. Câu trả lời của lão chủ trại ngựa Quê choa có lẽ không thể ngắn hơn: “Ẻ quẹt! Choa nỏ vô!"


2. Năm ấy, trời hành một trận dịch không chỉ lở mồm long móng mà long lở từ đầu đến chân lây lan khủng khiếp trong các trang trại chăn nuôi. Gia súc gia cầm cùng các loại động vật nuôi thi nhau lăn đùng ra chết như ngả rạ. Nhiều trang trại thưa vắng hẳn, chỉ còn lơ thơ vài con vật ngơ ngác chả hiểu bạn bè bỏ đi mô hết.


Điều kỳ lạ là đám ngựa đua của lão Nập trang trại Quê choa lại chẳng hề hấn gì, ngược lại chúng vẫn cứ khỏe mạnh như...voi. Hàng ngày, từ vươn thở cho đến tận tiếng thơ, từng dòng người nói cười hỉ hả vẫn kìn kìn đổ về Quê choa cho ngựa ăn. Các chủ trại khác vừa lo sốt vó vừa căm tức Quê choa vô cùng.


Tình hình khẩn cấp đến nỗi HTX quyết định phải cứu Hội Súc Dã Cầm bằng cách tổ chức một hội nghị mời các chuyên gia giỏi bàn biện pháp chống lại nạn dịch mà gia súc gia cầm gia dã đang mắc phải gọi tắt là Hội Nghị Mắc Dịch. Lão chủ tịch Hội và đồng bọn mừng lắm, hạ quyết tâm nhân dịp này phải tìm cách trị bọ Nập và Quê choa cho bỏ tức. Một cuộc họp kín bàn cách triệt hạ Quê choa giữa lão chủ tịch Hội Súc Dã Cầm với đám lâu la diễn ra vô cùng bí mật tại trại trâu.


Lão chủ tịch và đám tay chân không thể ngờ được rằng toàn bộ cuộc họp ma quỷ này lai bị một điệp viên của Quê choa ghi lại không sót một chi tiết nhỏ nào. Điệp viên này mang bí danh Đ.M178 do cố vấn an ninh của Quê choa là CH30 cài vào SDC từ lâu.


3. Có lẽ phải mở một cái ngoặc đơn để nói về hai nhân vật đặc biệt này. Trang trại Quê choa có một cố vấn an ninh cực kì lợi hại. Gã vốn là một vị tướng quân đội đã nghỉ hưu. Bà con xứ Quê choa rất kính nể gã và trìu mến gọi gã là Cụ Chánh. Nhưng Cụ Chánh đáng kính của chúng ta lại bị hen kinh niên nên gã chết danh là Chánh Hen. Vì vậy để dễ bề hoạt động bọ Nập đặt cho lão biệt danh CH30. Con số 30 thêm vào đây chả có nghĩa gì, chỉ để cho nó giống…X30 phá lưới thôi. Chánh Tín với Chánh Hen chưa biết mèo nào cắn mĩu nào, he he.


Thế còn Đ.M178 là ai? Đó là một gã chăn trâu cho chính chủ trại trâu. Điều đáng nói gã này chiếm được lòng tin gần như tuyệt đối của chủ trại trâu do những kinh nghiệm và thành tích chăn trâu tuyệt vời của gã. Chả ai biết tên thật của gã là gì, chỉ biết rằng gã hành nghề chăn trâu và mang luôn cái tên cúng cơm Mục Đồng từ bé. Khắp vùng ai cũng biết tiếng về tài nghệ chăn trâu của gã. Đàn trâu nào mà vào tay gã thì đều béo tốt phương phi và không hề suy suyển một sợi lông. Nghe đâu kiếp trước gã từng chăn...tê giác, nên chuyện chăn trâu đối với gã nhỏ như con...nghé.


Thực ra thì lúc đầu bọ Nập đặt cho gã biệt danh MĐ178, MĐ là tên còn 178 là tháng sinh năm đẻ của hắn. Nhưng được hai hôm thì hắn tìm bọ Nập mếu máo: “Bọ đặt cho con tên khác đi hu hu, bọn trẻ chăn trâu chúng nó gọi con là Móc Đít ”. Bọ Nập suy nghĩ một hồi rồi quyết định: “Thế thì ta đổi lại là MD178 vậy, cho nó giống tây. Người tây không dùng chữ Đ, chú ưng bụng chưa?”. Mục Đồng sướng rân người, cười tít mắt: “Dạ! Giang hồ đồn bọ văn hay chữ tốt quả không ngoa. Con đội ơn bọ, he he he” .


Nhưng rồi cũng được đúng hai hôm thì hắn lại tìm đến Quê choa nước mắt lưng tròng. “Chiện gì nữa đây?”, bọ Nập hỏi. “Dạ, thưa bọ bây giờ thì chúng nó lại gọi con là Mò Dái, hu hu”. Bọ Nập bóp trán suy nghĩ hung lắm, cuối cùng chém gió: “Thôi được rồi, đã thế ta đổi chổ cho chữ Đ ra trước. Từ nay chú là ĐM178, nghe vừa ngầu lại vừa mang hơi hưởng...chưởi thề, hề hề”


Quả nhiên ổn. Không thấy hắn kêu ca than vãn chi nữa, ĐM178! Đáp lại công ơn trời biển của bọ Nập, điệp viên ĐM178 hoạt động rất hăng, cung cấp cho Quê choa biết bao là tin tình báo có giá trị mà đỉnh cao chính là cái thẻ nhớ 14GB ghi lại bằng điện thoại di động đời mới toàn bộ cuộc họp ma quỷ nói trên. Để có được nó, khỏi phải nói ĐM178 đã phải dũng cảm mưu trí, hy sinh gian khổ đến thế nào. Cố vấn an ninh CH30 đã đề đạt với chủ trại Quê choa thưởng cho điệp viên Đ.M178 hẳn một tuần xin nghỉ chăn trâu đi...ngắm sóng ở sông Nhật Lệ.


4. Tối hôm ấy, tại phòng media của trang trại Quê choa, cố vấn an ninh CH30 cùng bọ Nập dán mắt vào màn hình nghiên cứu đối tượng rất chăm chú. Tóm tắt diễn biến cuộc họp quái quỷ ấy là thế này. Sau bài mở đầu dài lê thê như trâu đái của lão chủ trại trâu kể về công trạng của lão và thành tích to lớn của Hội Súc Dã Cầm trong việc góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương, lão quay sang kể tội bọ Nập và trang trại Quê choa là phần tử chậm tiến, lại còn dám coi thường cả Hội Súc Dã Cầm. Cuối cùng, lão đề nghị mọi người hiến kế để dạy cho Quê choa một bài học nhớ đời.


Chủ trại rắn xung phong trước: “Em đề nghị chúng ta thuê một chiếc xe tải nhân lúc lão Nập ra đường húc cho hắn một nhát là xong.” Chủ tọa - lão chủ trại trâu gạt đi: “Không được! Mày đúng là ác còn hơn rắn độc! Thằng này rất ít khi ra đường, nếu có ra thì chỉ đi bộ trên lề. Chả nhẽ cho xe tải leo lên lề à? Với lại như thế thì nặng tay quá, ta chỉ định cho nó một bài học thôi mà.”


Đến lượt lão chủ trại bò: “Hay là ta thuê một bọn côn đồ xông vào trại Quê choa lôi lão Nập ra dần cho một trận? Rồi sau đó...”. Chưa hết câu lão chủ trại trâu đã chặn ngang: "Ngu như bò! Phải có lí gì thì mới xông vào nhà người ta chứ, nó không vi phạm luật, ngựa nó chuyên đua lề phải cơ mà. Với lại, cái ngữ chân vẽ chân xóa như hắn mà thuê cả bọn côn đồ ra tay thì chả đáng mặt anh hào. Chưa kể trang trại của lão luôn có cả trăm người túc trực toàn thứ dữ bảo vệ lão Nập đến cùng. Lạng quạng coi chừng ăn đòn gánh của họ. Tìm cách khác đi.”


Một cái đít đỏ nhoi lên, thì ra là lão chủ trại khỉ. Lão chậm rãi: “Thưa đại ca, tại sao ta không lợi dụng cái đám người hàng ngày vẫn vào cho ngựa lão Nập ăn cỏ? Ta cử người trà trộn vào mang theo ít cỏ quốc cấm, vài bó cần sa chẳng hạn rồi báo công an đến gô cổ lão lại nhập kho một thời gian cho lão sáng mắt ra. Người vào trang trại lão đông thế làm sao mà lão kiểm soát hết được.”


Cả Hội khen rối rít hay! hay! Ý kiến hay! Lão chủ trại trâu cũng khen hay! hay! Trò khỉ của mày được lắm, cứ y án thế mà mần.


Đèn bật sáng, lão Nập mặt tái nhợt, mồ hôi túa ra như tắm thều thào: “Mần răng chừ eng hè?” Cố vấn CH30 mặt lạnh như tiền chẳng biểu lộ một cảm xúc gì, rõ là bản lĩnh cao cường của một cao thủ. Lão lặng lẽ chiêu một ngụm nước tranh thủ uống viên thuốc chống hen rồi thủng thẳng: “Chiện nhỏ như con...nhộng ấy mà, bọ cứ yên tâm đi ngủ đi, choa đã có cách”.


5. Sáng hôm sau, như thường lệ, mới tinh mơ là hàng đoàn người đã lại tay liềm tay hái, kiũ kịt gánh, trĩu nặng lòng Quê choa thẳng tiến. Khí thế của họ bị chặn đứng bởi hai cánh cổng sắt của trang trại Quê choa lạnh lùng đóng kín cùng một bảng thông báo rõ to: “Đang có nạn dịch long lở toàn thân lây lan rất kinh. Bọ tạm thời khóa cổng. Mong bà con thông cảm”. Xong om!


Thiên hạ ra sức gõ cửa, gửi tin nhắn, email, gọi điện thoại...đủ kiểu nhưng hai cánh cổng vẫn không thèm nhúc nhích. Gọi chán không được họ ngồi bệt trước cổng quay ra bàn tán. Quái lạ lâu nay đâu có nghe lão Nập nói gì chuyện dịch dọt đâu nhỉ? Qua lỗ khóa thậm chí vẫn thấy ngựa nhà lão khỏe mạnh cả cơ mà? Hay là tối qua lão đi nhậu về bị ngộ gió không tiếp khách được? Hay là lão đã bán trang trại cho người khác, bỏ nghề nuôi ngựa đua? Hay là...hay là...Thôi thì đủ kiểu đoán già đoán non. Nhiều mụ nạ dòng mau nước mắt ôm đòn gánh khóc hu hu. Có kẻ chép miệng động viên: “Mà chắc là đúng đấy, các mụ nín đi. Không lẽ bọ Nập lại nói dối chúng ta. Chả phải HTX ta sắp tổ chức Hội Nghị Mắc Dịch đấy sao. Thôi bà con ta cứ yên tâm mà về. Đợi xong Hội Nghị, tình hình long lở qua đi chắc bọ Nập lại mở cổng trại thôi.”


Mọi người nghe thấy có lí lại lau mồ hôi lục tục ra về, kiũ kịt gánh trĩu nặng lòng. Tuy thế nhưng ngày nào cũng có cả đoàn người tụ tập trước trang trại, mắt lom lom nhìn cánh cánh cổng lạnh lùng mà lòng tràn đầy hi vọng. Nhiều kẻ nhòm qua lỗ khóa ngắm đàn ngựa cho đỡ nhớ rồi cắp nón ra về. Một ngày như mọi ngày.


6. Lại nói chuyện lão Nập. Sau khi đóng cổng trang trại, lão thấy nhẹ nhõm hẳn. Khỏi phải ngay ngáy lo canh chừng cái “cộng đồng cho ngựa ăn” lúc nào cũng hừng hực như đám kiến lửa. Lão mà không canh kỹ thì không chừng cả ngựa lẫn lão đều cháy ra tro bởi đàn kiến lửa ấy.


Ăn ngon ngủ yên được đúng hai hôm, đến hôm thứ ba thì lão bắt đầu thấy thiêu thiếu, nhơ nhớ một cái gì đó vốn dĩ rất thân quen. Cảm giác giống như một người nghiện thuốc lâu năm nay phải cai, “nhớ gì như nhớ thuốc lào...”, nhạt miệng làm sao, ray rứt làm sao.


Mà còn hơn cả nhớ thuốc lào ấy chứ, cái “cộng đồng cho ngựa ăn” tuy đầy hỉ nộ ái ố là thế mà đáng yêu làm sao, thân thiết làm sao. Lão đâm nhớ cái tiếng lao xao của những lọn cỏ comments tuy có làm gã mệt đấy nhưng cũng giúp lão bớt đi được cái cảm giác trống trải hàng ngày giữa bốn bức tường vô cảm. Tuyên bố đóng cửa trại cũng đồng nghĩa với việc từ nay lão đơn thương độc mã với bầy ngựa của mình. Thực ra thì lão thừa sức “Cày chuyện xưa, bừa chuyện nay” một mình mà chả cần ai giúp, nhưng “...làm một mình cực thân”, các cụ đã chẳng bảo thế là gì.


Sau sự cố bọ Nập đóng cửa trang trại, cư dân của Quê choa chạy tứ tán. Họ thừa dịp tạt vào thăm chuồng trại của nhau, những chú ngựa còm của họ bỗng dưng được no cỏ bất ngờ. Có kẻ tức tốc dựng chuồng tình nghĩa rồi “đẻ” vào đấy những chú ngựa con con xinh xinh phần lớn để làm cảnh chứ chả để đua điếc gì. Nhưng cũng nhờ thế mà bà con Quê choa có chổ đi về tám với nhau cho nhẹ bớt gánh, dịu bớt lòng.


Thế mới thấy, bác Thích Ca có nhọc công khuyên mọi người dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ những dính mắc ở đời mà sống cho bình an tự tại thì cũng còn lâu chúng sinh của ngài mới dẹp bỏ được cái bản năng bầy đàn vốn có. Thưa Phật, giữa cõi đời này, chúng con vẫn còn thấy cô đơn lắm, thấy vẫn còn cần nhau lắm. Một khi cả đến “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” thì cũng xin Đức Thế Tôn thông cảm cho việc chúng con chưa thể trở thành những đệ tử thấu suốt giáo lý của ngài, ít nhất là trong kiếp này, hu hu.


Ngay cả đến lão Nập, sau khi đóng cửa trại, buồn tình lão cũng tay liềm tay hái nhấc đít đi cắt cỏ cho ngựa hàng xóm ăn.Vốn có tài lại đào hoa lão có khối ả sồn sồn say mê từ thời Quê choa trẩy hội. Các ả tranh giành nhau chí chóe về chuyện ai là người yêu gã hơn cả. Không những thế các ả còn mang các bộ phận của lão ra bình luận từ mắt, tay, miệng...như cách người ta đi chọn lợn giống vậy, he he. Có lẽ lão Nập cũng tiếc các mụ nạ dòng này lắm nên rất chăm chỉ xách quần đi rảo chuồng ngựa các mụ, hòng chờ khi mưa thuận gió hòa còn tranh thủ canh tác. Có hôm mới nhọ mặt người, mụ Bạch - một fan cuồng nhiệt của Quê choa-vừa mở cửa dắt ngựa ra đã thấy lão sấn vào đòi bóc tem mụ, he he.


Nói gì thì nói, ai từng dan díu với Quê choa đều cảm nhận một thời đằm thắm yêu thương biết bao. Người có công gieo cái nhịp cầu thân ái ấy còn là ai khác ngoài lão Nập, ông chủ đáng mến của trang trại Quê choa. Chả biết lão Nập có tâm tư gì không chứ đối với fan Quê choa cái tiếng comments vẫn hoài lao xao trong lòng mọi người. Như lời trần tình của lão, bà con cũng mong đợi cái ngày lại được dịp lũ lượt tay liềm tay hái ca lên khúc khải hoàn nhong nhong ngựa ông đã về lắm.


Cứ giả dụ cái ngày ấy không đến nữa thì với một thời Quê choa mưa thuận gió hòa, ếch nhái à uôm, cây trái đâm chồi nảy nụ, chim hót líu lo, cá tôm sung sướng, bà con cũng cám ơn bọ Nập lắm lắm.


Cái thuận hòa của mưa gió diễn ra khi nào, kéo dài được bao lâu thì còn tùy...trời, nhưng cái thuận hòa của lòng người thì luôn hằn in dấu ấn và hãy còn ngân vang rất lâu, có khi đến tận cuối đời, bọ hè.


(Kênh kịa blog)

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Nguyễn Ngu Ngơ ấy không phải là Nguyễn Ngu Ngơ

Tối nay tui vô trang nhà bác Trần Nhương, thấy có bài Thư Ngõ gửi ông Nguyễn Trương Tô, tác giả kí tên là Nguyễn Ngu Ngơ tui hơi bị giật mình. Nguyễn Ngu Ngơ là bút danh của tui có từ năm 1998 khi tui cộng tác với báo Tiền Phong, nay đã bỏ. Hiện cái tên ni được dùng cho nhân vật trong mục " Cười hay mếu" của báo điện tử Bee.net.vn. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người tưởng tui vẫn dùng bút danh ni. Cái bút danh Nguyễn Ngu Ngơ tui không đăng kí bản quyền nên người khác có lấy dùng thì tui cũng chịu. Nhưng mà phiền quá, dùng bút danh trùng nhau chẳng ra làm sao cả.  Tui đã gọi điện cho bác Trần Nhương " đính chính" giùm. May bài viết không có vấn đề gì nên tui cũng mừng, nếu không hoạ có thể đổ xuống đầu tui không biết lúc nào. Gần đây có một vài người lấy nick bọ Lập, Quang Lập đi còm lung tung một số nơi, khiến nhiều người tưởng là tui. Có một số còm khá nhạy cảm, rất phiền.  Vừa rồi tui bị Nguyễn Thị Thu Huệ gọi điện hỏi anh mắng em trên blog à? Tui quá ngạc nhiên nói làm gì có. Huệ nói có một trang blog tên là Quê choa viết bài mắng em. Tui tìm không ra trang blog ni nhưng lại tìm được một blog Quê choa ở Facebook, may trang này không có bài vở gì. Chời ơi là chời, khổ thân tui. Tình hình này nếu phát triển sẽ gay go, tui không biết làm chi, chỉ biết la làng thôi. Tui chỉ có một blog ở wordpress này thôi, không còn blog nào cả, cái tên Nguyễn Ngu Ngơ cũng chỉ là tên nhân vật ở Bee.net.vn thôi chứ tui không dùng bất kì nơi nào. Vậy xin khẩn báo.


Dưới đây là bài viết của ông Nguyễn Ngu Ngơ nào đó chứ không phải là tui


THƯ NGỎ GỬI ÔNG NGUYỄN TRƯỜNG TÔ


Kính gửi ông Nguyễn Trường Tô


Tôi vốn là kẻ xa lạ với ông nhưng lại rất gần vì cùng họ, họ Nguyễn. Cũng bởi cái vụ lùm xùm mua dâm trẻ em mà cái bọn đểu giả vu oan giá họa cho ông bị giới truyền thông làm rùm beng nên tôi mới được biết phương danh quý tính của ông. Bây giờ thì sóng gió tạm lắng rồi, tôi mới có dịp suy ngẫm về sự việc đã qua và viết thư cho ông


Thưa ông!


Tôi với ông cùng họ Nguyễn. Mà ông biết đấy, bây giờ nhà nước cho thành lập hội HỌ, cho nên cả nước ồn ào sôi sục thành lập hội họ. Nào là hội họ Băm, hội họ Cướp, họ Đá VV…Hội họ Nguyễn của ta to lắm ông nhỉ. Hơn nữa lại có nhiều sếp to bự cỡ trung ương, cấp trung ương, oai lắm. Dẫu không cùng thuyền thì cũng cùng hội, ta phải có trách nhiệm bảo vệ lẫn nhau chứ nhỉ. Dẫu thuyền bị lật úp thì HỘI cánh ta vẫn còn.


Vụ việc vừa qua xảy đến với ông suy cho cùng là cái sự ghen ăn tức ở, đấu đá tranh quyền cướp vị trong nội bộ đảng, chính quyền tỉnh Hà Giang. Chúng nó đã lừa ông vào bẫy. Biết ông xưa nay máu gái vô độ mà ép bọn trẻ con vào làm mồi nhử. Và ông đã bị sập bẫy, bị một đòn chí mạng. Đến nay thì ông đã bị truất khỏi cái ghế chủ tịch tỉnh, truất khỏi ghế ủy viên trung ương, cút ra khỏi đảng. Song không phải vì thế mà ông không còn quyền kiện lại cái bọn đầu trâu mặt ngựa đã hãm hại ông


Bọn gắp lửa bỏ tay người phải được đem ra ánh sáng. Bây giờ đã hai năm rõ mười ông là người vô tội, hà cớ gì ông phải bị cách chức, khai trừ đảng. Cơ quan điều tra không đủ bằng chứng kết tội thì phải xin lỗi ông, bồi thường danh dự ông trên báo chí trước công chúng bàn dân thiên hạ. Hơn nữa, chính phủ phải phục chức cho ông, phải kỉ kuật xử phạt bọn điều tra, thanh tra, làm sai lệch hồ sơ gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với ông, làm mất an ninh chính trị, mất trật tự xã hội. Đấy là tội vu cáo đối với cán bộ cấp cao thuộc trung ương đảng quản lí.


Việc này không ù xọe được, hoặc ông có tội, hoặc cơ quan điều tra có tội, chứ không thể đánh bùn sang ao hòa cả làng được. Sao lại có chuyện vô lí thế được. Tôi nghĩ nếu ông không làm cho ra môn ra khoai thì sự việc rồi sẽ chìm vào im lặng và kẻ bị oan sai là ông sẽ bị cả nước khinh thường coi rẻ mà bọn đầu trâu mặt ngựa thấp hèn kia sẽ còn có dịp tác oai tác quái gắp lửa bỏ tay người đối với nhiều đối tượng khác. Đảng và nhà nước, hệ thống phap luật sẽ bị mất lòng tin hơn nữa


Qua vụ việc của ông tôi thấy cơ cấu tổ chức của ta có nhiều chỗ hay ho. Đã là chủ tịch tỉnh thì phải có chân trong ủy viên trung ương. Chính vì yếu tố lãnh đạo toàn diện này mà nhiều người ngộ nhận, chủ quan, cho mình là tất cả nên tác oai tác quái đưa ra những quyết định mang tính độc đoán chuyên quyền, gây phẫn nộ trong đám thuộc hạ và dân chúng. Liệu ông có nằm trong số những người đó không?


Năm mới 2011 đến rồi, tôi xin chúc ông mạnh khỏe, kiên quyết đấu tranh đến cùng làm rõ trắng đen để được sớm minh oan, làm rạng danh cho cái hội họ Nguyễn cánh ta.


Kính thư


Nguyễn Ngu Ngơ


( Cóp từ website Trần Nhương)

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

PHÚ NHỚ BLOG "QUÊ CHOA"

Thuận Nghĩa có bài phú về Quê Choa rất vui. Nhân dịp năm mới bọ post lên hầu bà con. Bài phú phê bình bọ rất nặng nề, hi hi, nhưng mà vui. Cảm ơn Thuận Nghĩa nhiều. Nhân đây bọ cũng xin nói thêm, blog Quê choa từ nay sẽ không là chiếu rượu nữa, nghĩa là không có chuyện đàm đạo vui vẻ như xưa nữa. Rất đáng tiếc nhưng đành vậy, chẳng biết làm thế nào


Nhớ ngày năm ngoái


Sướng thay!!!


 


Còm sĩ khắp nơi về hội ngộ


Bạn văn muôn nẻo đến nâng ly


 


Quê choa hừng hực chí tang bồng câu câu ý ý bay trời


Chiếu rượu ngất ngư mộng hồ thỉ tứ tứ lời lời dậy đất


 


Này Dân Choa, Cu Đỉn, Mèo Hen, Bò Sát, Hồng Chương... đó đó


Nọ Hoa Cải, Bạch Dương, Thanh Chung, Như Mai, Em Đẹp ...đây đây


 


Nụ cười xuân nở toét tòe toe vui nổ banh thiên địa....khơ khơ khơ...


Lời chúc tết tràn nhòe nhoét nhé sướng ran đáy nhân tình...ạk ạk ạk...


 


Ngẫm lại tết năm nay


Buồn quá!!!


 


Bạn bè phiêu bạt mười phương


Bằng hữu tác tan mấy cõi


 


Chiếu rượu như chùa Bà Đanh heo hắt hoang tàn thấy lạnh


Quê choa tựa báo Tiếp Thị lợn cợn lắt nhắt nghe khô


 


Topic không cho sẻ chia khác chi rọ miệng


Bài viết chẳng được cùng cảm như thể che tai


Âu là thế thời loạn lạc, nào đâu thoải mái bán táo buôn dưa


 


Đành vốn nhân tình điêu toa, phải thế an toàn buông câu viết chữ


 


Biết là vậy nhưng lòng còn chưa đoạn nghĩa tương giao


Ngầm hiểu thế rằng ý đã dứt tình hạnh ngộ


 


Bao bận ghé vào, thui thủi bước chân ra tâm lấn cấn mấy hồi còn được


Mấy phen dòm tới, ngán ngao dồn gót thối hồn xôn xao bao thế thắng thua


 


Thèm câu văn xưa, chợt rưng rưng tủi tủi hờn hờn


Nhớ tứ thơ cũ, thôi ủ ủ ôm ôm tiếc tiếc


 


Giờ đây ta một đường đi, câu đối mới vui xuân cũng đành mồ côi mồ cút


Mai ấy bạn mấy nẻo về, lời nguyện cầu chúc tết thôi thế gửi gió trao mây


 


Chén rượu ngày nao giờ chỉ còn "độc ẩm" thê thảm thế là cùng


Câu chào bữa nọ nay là vậy "côi cô" bẻ bàng bao kết cuộc


 


Cũng đành ngậm đắng mà vui


Nên vậy nuốt hờn để nhớ


 


Ngưng chiếu rượu Quê Choa, coi như lần dứt mối tình cố quận


Mở trang thơ Bằng Hữu, biết đó phen cầm ân nghĩa tân hương


 


Mấy lời cuối năm nói sao cho rõ


Bao ý đầu xuân nghĩ vậy cho vuông


 


Duyên còn là Có


Duyên tận thì Không


 


Âu đó cũng là đạo trời nhân nhân thế thế


Vọng động mà chi


Lấn cấn mà chi


 


31.12.10


Đồ Gàn cẩn bút


( Thuận Nghĩa's blog)

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

TIẾC MÓN "VĂN NÔ" & Lời trần tình của bọ

Còn trời còn nước còn non

Nếu còn “Chiếu riệu” anh còn say sưa

Từ ngày “Chiếu riệu” của Bọ chuyển thành quán “To go”*, khách ghé qua cũng không hề giảm đi. Nhưng chẳng ai còn chào hỏi ai như ngày xưa. Chủ quán đã có biển treo: “Đề nghị im lặng”.


Nhớ hồi Bọ mới quẳng “Chiếu” ra sân, dọn đồ cất rượu mời bạn bè đến chơi. Khách thân, sơ Bọ cũng “Mời ‘em’ ly rượu tay nâng ngang mày” (Thơ Nguyễn Duy). Chẳng hiểu Bọ lấy đâu ra sức lực và thời gian ngồi trả lời hàng trăm cái comm mỗi ngày. Chưa kể ngày nào cũng có “mồi” mới. Không kịp chế biến thì giật tạm của bạn bè. Cũng toàn cỡ “anh hùng hảo hán”, “cao thủ võ lâm”. Mồi ngon, rượu thơm, khách kéo đến mỗi ngày cả ngàn vạn. Ai đã từng gặp Bọ sẽ cảm thấy áy náy nếu quẳng vào Chiếu riệu một cái còm lãng nhách: Bọ gõ phím chỉ bằng một tay.


Có dạo Bọ “đọa”, định thôi không blog-bleo. Đám chị em khóc như ri. Đám nhậu kiêm còm sỹ quyết liệt “một tấc không đi, một ly không dời”, cam kết cắt cử nhau trông coi “Chiếu” và đáp lễ thay chủ nhà. Bí thư Hồng Chương, Tổng quản Mèo Hen, Thư ký Bạch Dương… ban bệ đủ cả. (Ban quản lý Pờ-mu này không thấy đăng tuyển công khai, chẳng biết có phong bao gì không, hay toàn văn bằng tại chức?). Nhiều còm sỹ “ham vui” bỏ bê nhà cửa, mang đồ nhậu đến góp vui. Đầu ngày chủ Chiếu” dọn ra món “Hai không” của bác Nguyễn Thiện Nhân, quá trưa trên Chiếu đã đủ cả anh Tô – Hà Giang, anh Khoa – Vân Tảo. Nhiều bác còn vui chân sang tận bên trời Tây Anh, Mỹ góp vào rượu xịn không pha cồn, còn nguyên tem thuế nhập khẩu. Nhiều người nhậu ở Chiếu chưa hả lòng, còn “gói mang về”, thỉnh thoảng nhâm nhi. Cũng là để có đồ đãi khách.


Tiếng lành đồn xa, dân nhậu từ hơn 70 quốc gia đổ về. Lúc cao điểm có tới mấy trăm nhậu sĩ cùng nâng chén khề khà, bàn chuyện nhân tình, thế sự. Mặt trời hầu như không bao giờ lặn trên chiếu riệu “Quê choa”.


Rượu vào lời ra. Nhiều còm sỹ khi “phiêu” đã “chém gió” hơi quá tay. Hình như có lần Chiếu riệu bị các bác dân phòng nhắc nhở vì tội “mất trật tự”. Bọ đã nhiều lần ra thông báo, có lần phải ra cả “tối hậu thư” cũng chẳng ăn thua. Vào Chiếu rượu chứ có phải đi qua cửa hải quan sân bay đâu mà bắt tháo cả thắt lưng, giày, tất… Cực chẳng đã, Bọ cho sẵn thức ăn vào hộp “to go”. Nhậu sĩ ghé chơi cứ việc nhận phần. Bức xúc quá thì rủ nhau ra sông đào hố mà hét to: “Vua mọc tai lừa”. Gặp hôm gió to đành “bụng làm dạ chịu”. Nhiều còm sỹ bị đẩy ra đường thành vô gia cư. Nói Bọ chơi khó hơn cả Trạng Quỳnh ngày xưa, mời rượu nhưng lại dán băng keo vào miệng nhậu sĩ. Thôi thì ai nói gì cũng mặc. Bọ phải giữ mình không “ra gió”.


Mấy hôm trước nhà Bọ dọn món “Hồn Việt – văn nô” “ngon tuyệt”. Giá còn như hồi đông vui, các nhậu sĩ, còm sĩ góp mồi thì vui phải biết. Mình chạy tứ tung mới tìm được nhà của bác Ngô Minh thả vào vài lời chia sẻ với vợ con bác tiến sĩ PHG. “Rượu ngon chằng có bạn hiền”. Tự nhiên thấy mình “hoài cổ”. “Bao giờ cho đến ngày xưa.


Thanh Chung


(Nguồn: Blog Thanh Chung)


 LỜI TRẦN TÌNH CỦA BỌ


Suốt tháng nay bà con luôn hỏi bọ: bao giờ thì nhà bọ mới mở khoá để bà con vào chơi? Nhiều tin nhắn, email và các cuộc gặp gỡ ngoài đời đã hỏi bọ câu đó. Thực tình bọ cũng không biết nói thế nào.


Việc khoá còm đối với bọ là một cực hình. Vì bà con biết từ ngày bọ bị tai nạn, chấn thương sọ não, liệt nửa người, suốt ngày bọ phải đối dịên với sự cô độc. Vợ đi làm suốt ngày đêm, con cái đi học, bạn bè ở xa, bọ sống giữa bốn bức tường lạnh lẽo. Chính vì lẽ đó bọ đã lập blog để ngồi nghe tiếng lao xao của comments bốn phương trời. Đến nay đã hơn 6 triệu lượt người từ 146 nước trên thế giới ghé thăm chiếu rượu của bọ và để lại cho bọ 17.297 comments. Chính vì thế bọ cảm thấy hạnh phúc hơn, khát sống hơn.


Tuy nhiên một số comments đã không hề để ý đến gia chủ, họ nói năng bạt mạng, bất kể số phận của gia chủ sẽ ra sao vì chính những phát ngôn của họ. Cũng có người quá hồn nhiên, cho là mình nói đúng nghĩa là mình không có tội, và tất nhiên mình sẽ không gây hoạ cho gia chủ. Họ không nhớ rằng một khi mình cho là đúng là chân lý thì sẽ có người khác cho là sai, là phản động. Bọ thì không thể kiểm soát hết các comments, mỗi entry có từ 200- 800 comments làm sao mà kiểm soát nổi. Có người khuyên nên để comments ở chế độ pending nhưng bọ không muốn. Không gì chán bằng lời mình phát ra lại biến mất tăm, đến khi mình ra về rồi lờì ấy mới xuất hiện. Cho nên đã mở còm thì mở thóải mái, nếu không thoải mái được thì đành phải khóa còm đợi ngày mưa thuận gió hoà.


Vì vậy mong bà con hết lòng  cảm thông cho bọ.


Thư bất tận ngôn


Kính.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

HỒN VIỆT KẾT “VĂN NÔ NQL“ (BLOG QUECHOA) TỘI BÊU RIẾU TỔ TIÊN CÓ VÚ TO

KHÔNG ĐƯỢC BÊU RIẾU DANH NHÂN LỊCH SỬ ( Trích )


Phan Hàn Giang ( Tiến sĩ Sử học )


Ngày nay, bất cứ người Việt nào, kể cả học sinh tiểu học, đều biêt sự tích Bà Triệu. Công củ bà với dân tộc này được xếp sao Hai Bà Trưng. Trong cả nước, tỉnh nào cũng có trường, có đường mang tên bà. Năm 2008, Chính phủ phát hành tem bưu chính nhằm kỷ niệm lần thứ 1760 cuộc khởi nghĩa Núi Tùng ( Thanh Hóa ). Thế mà vừa qua, trên mạng nhật ký điện tử ( blog ) quechoa, một người tự xưng là “ văn nô NQL “ đã bêu riếu danh nhân lịch sử bằng lời lẽ thô tục hạ cấp. Bạn đọc nghĩa gì khi đọc những “sang tác “ dưới đây của “ văn nô NQL “?!


SỰ TÍCH BÀ TRIỆU TRONG BLOG QUECHOA...


Chuyện người trinh nữ anh hùng là vậy. Thế mà, trên blog quechoa ngày 12/10/2010 vừa qua, một người tự xưng là “ văn nô NQL“ đã bêu riếu danh nhân lịch sử bằng những lời lẽ thô tục hạ cấp:” “Mới 13 tuổi vú Ẩu đã dài đến rốn. Ẩu sợ, không biết vì sao vú mình lại thế, ngồi ôm vú khóc. 18 tuổi vú Ẩu dài đến đầu gối lại càng sợ hãi khôn xiết. Quốc Đạt nói vú to là phúc lớn của đàn bà sao lại khóc? Ẩu nói em sợ chị dâu không có vú lại ghen với em.Vợ Quốc Đạt, tên gì không biết, người khô quắt, trên dưới phẳng lì, tính tính nhỏ nhen, thường hành Ẩu đủ việc trên đời. Ẩu tức lắm nhưng không làm gì được. Một hôm Ẩu cùng vợ Quốc Đạt đi tắm sông, Vợ Quốc Đạt nói mày vú to hơn tao nhưng tao lông dài hơn mày, huề, ke ke ke.Ẩu nói vú to để chồng bóp sướng, sữa nhiều cho con bú no, chứ lông nhiều thì để làm gì. Vợ Quốc Đạt tức, nói để cột cổ ba họ nhà mày. Ẩu tức, cầm vú quất một phát vào mặt vợ Quốc Đạt, chẳng ngờ vợ Quốc Đạt hốc máu mồm, chết tốt.Ẩu sợ quá trốn biệt vào rừng, chiêu mộ hơn nghìn tráng sĩ làm thủ hạ, lấy tên là Nhuỵ Kiều tướng quân.


Cuộc khới nghĩa Núi Tùng bị “ văn nô NQL “ xuyên tạc như sau:


“Thứ sử Lục Dận hớt hãi chạy về dập đầu trước vua Ngô, kêu to khởi tấu khởi tấu bọn Triệu Ẩu làm loạn ở quận Cửu Chân. Vua Ngô là Ngô Vĩnh An đang xem bọn cung nữ làm trò thoát y vũ, ngoảnh mặt nói Triệu Ẩu là thằng mô gan to rứa hè.


Lục Dận nói muôn tâu đấy là một con đàn bà. Vua Ngô nói è he, mấy con đó tụi bay không trị được, răng kêu tao? Lục Dận nói muôn tâu con này vú dài ba thước, không lấy chồng, vắt vú lên vai cưỡi voi xông trận, kinh lắm kinh lắm.


Vua Ngô nghe nói vú dài ba thước thì há mồm trợn mắt nói ua chầu chầu hay hè hay hè, rồi lập tức xua quân sang biên giới.


Vua Ngô nói bớ ba quân, Triêụ Ẩu vú dài ba thước rất ghê tởm, đã thế còn dám làm loạn, quân sĩ dốc lòng quyết đánh, đứa mô can trường trẫm cho bóp vú nó. Quân sĩ sung sướng reo hò như sấm hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế!


Giặc Ngô bao vây bốn phương tám hướng, Triệu Ẩu vẫn không hề nao núng, chống trả kiên cường. Vua Ngô nói bớ Triệu Ẩu vú mi mô, chìa ra cho tao coi, tao tha! Triệu Ẩu lôi hai vú ra, nói bớ giặc già Ngô Vĩnh An, vú ta đây! Rồi bà bóp vú, sữa bắn ra như thác,


( dòng sữa trắng thơm khi bắn vào lũ giặc bỗng biến thành bùn đỏ như máu trùm lên cả vạn quân Ngô. Quân Ngô bị bùn đỏ bắn cho tung tóe, kẻ mù mắt đứa hộc máu mồm mà chết. Vua Ngô há mồm trợn mắt, nói chi rứa bay chi rứa bay. Quan quân hét Bô xít Bô xít muôn tâu muôn tâu. Vua Ngô nói rứa a rứa a, sợ hãi vung gươm hét lớn bớ ba quân không được lui, tụi bay lùi tụi nó được lướt đòi chủ quyền chủ queo, tau lấy ai mà cai trị. Nói rồi xua quân tiến lên- Đoạn này HV cắt vì văn nô NQL mô tả trong sữa Bà Triệu có bauxite, một chất cấm kỵ...-P.V.Đ chú thích.)


Quân Ngô ba bề bốn bên bao vây Bà Triệu. Bà cầm hai vú quất lia lịa, đứa dập mũi, đứa gãy răng, ôm đầu máu bỏ chạy, than khóc như ri. Về sau sữa hết vú xẹp, quân ít thế cô, bà Triệu tính kế lui binh cố thủ.”


Bài viết của “ văn nô NQL “ được các trang Web “ đồng hội đồng thuyền “ tiếp tay phổ biến.


Cho dù “ văn nô NQL “ viết những dòng trên đây nhằm ý đồ gì, mục đích gì, người đọc vẫn không thể chấp nhận việc bôi nhọ hình ảnh một vị anh thư hy sinh vì dân tộc ở tuổi hai mươi, mãi mãi được toàn dân yêu mến, kính trọng.


Nhớ ơn các anh hung liệt sĩ là đạo lý của dân tộc ta. Nhà văn cũng là một công dân, nên phải tôn trọng đạo lý đó. Bêu riếu tổ tiên của dòng họ mình là một tội không thể tha thứ. Bêu riếu tổ tiên của cả dân tộc, tội ấy càng nghiêm trọng gấp trăm ngàn lần.


Trước đây, một “ văn nô” đã từng xúc phạm hoàng đế Quang Trung. Phản ứng xã hội lúc đó quá yếu ớt nên đến nay đến lượt “ văn nô “ khác bôi nhọ Bà Triệu.Trong tương lai, những danh nhân nào khác sẽ là nạn nhân củ họ ? Phải chăng, những vị anh hung trong lịch sử dân tộc bị đem ra bêu riếu vì họ đã có “ tội “ dám chống lại quân ngoại xâm để giải phóng đất nước hay bảo vệ độc lập cho Tổ quốc ?


Mong các nhà hoạt động văn hóa và các tổ chức văn học nghệ thuật hãy lên tiếng để chấm dứt nạn xuyên tạc lịch sử và bêu riếu tiền nhân.


( Nguồn: Hồn Việt số 12/2010 )


( Vì không cóp đươc bài này trên Hồn Việt, bọ cóp lại bài này trên blog Phạm Viết Đào. Mời bà con đọc truyện: Sự tích cao nguyên Lâm Viên và Đak Nông)

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Ngôi nhà ma

Tan Dinh


Ngôi nhà Ma. Chắc lại ăn theo “Ngôi nhà Điên” của Bà Đặng Việt Nga ở Đà Lạt?


Còn lâu mới ăn theo nhá! Điên là điên mà Ma là Ma, không thể lẫn lộn khái niệm được, đây là nhà Ma hẳn hoi, nhà Ma xịn, không điên, hehe!


Ngôi nhà ma mà tôi đang nói đến chính là ngôi nhà chung của tất cả chúng tôi – dân yêu văn chương gốc Việt gốc Choa trên toàn Quả Đất, còn ở hành tinh khác thì chúng tôi chưa thống kê được. Đó là một ngôi nhà có chủ, một người gốc quê choa xịn, rất hiếu khách, rất đào hoa, và cũng rất nhát gái, keke!


Chủ ngôi nhà đó có tên là Bọ Lập. Bọ đặt tên ngôi nhà của mình là Quê Choa. Trong ngôi nhà đó, bằng nghệ thuật sắp đặt, Bọ cho bày một Chiếu Rượu với đầy đủ mồi nhậu để khách đến chơi vừa có thể uống rượu vừa đàm đạo về…mồi một cách thoải mái!


Đồn rằng ngôi nhà này có ma. Tin đồn loang ra, khách đến ngày càng đông. Lúc đầu nhiều người do tò mò thử ghé qua xem con ma nó thế nào, hôm sau ngồi nhà thấy bồn chồn không đến Quê Choa không chịu được, thế là lại đến. Có khi chỉ đến đứng ngoài cửa, ghé mắt nhòm vào một cái rồi về, vậy mà không đến không chịu nổi, thế thì bị ma ám rồi còn gì! Hay là trong rượu có ngâm rễ thuốc phiện, loại rượu 138 ma mị của gã “tửu tặc” Văn Công Công? Hay Bọ nêm ma túy vào mồi? Chịu, không ai giải thích được. Chỉ biết là ngôi nhà có một sức hút ma quái, không thể không ghé qua, có khi ngày ghé chục lần, có ngày còn nhiều hơn.


Có điều lạ là ai đã từng ghé qua Quê Choa đều có cảm giác là đang trở về nhà mình, cứ tưởng đó là nhà mình. Và thế là cười nói râm ran, tự nhiên như ruồi vô chủ, chê mồi này nhạt khen mồi kia mặn, khi chê ít lúc kêu nhiều, làm cho lắm lúc khách tưởng mình là chủ mà chủ cứ ngỡ mình là kẻ đầu bếp nấu ăn! Vì vậy mà lúc nào cũng vui như Tết, ra về ai cũng hớn hở hài lòng, chậc chậc tấm tắc xuýt xoa, thật xứng danh là ‘Chiếu Rượu vui vẻ’!


Vậy mà chiều qua lúc tôi vừa đến, ngước nhìn phía cửa thấy con số 113 hiện lên nhấp nháy, giật bắn cả mình. Thần hồn nát thần tính, cứ tưởng có cảnh sát đặc nhiệm đến làm việc. Té ra không phải, 113 là con số thống kê số lượng khách đang ngồi trên Chiếu Rượu. Khách đông kinh hoàng. Nhưng sao nghe lặng ngắt, không một lời trao đổi bàn tán, không một tiếng cười hay trêu chọc tếu táo như mọi khi. Ngó vào Chiếu thấy khách khứa vẫn miệt mài nhắm mồi cụng ly, vẫn khoa chân múa tay nhưng tuyệt nhiên không có một tiếng động phát ra, cứ như là mình đang xem phim câm vậy.


Thấy lạ, tôi vẫy Mục Đồng ra ngoài. Lạ thật, đứng ngoài sân thì nói nghe oang oang, nói thoải mái nghe soải mái, vậy sao trong kia lạ vậy? Tôi thắc mắc “Bọ cấm bà con nói chuyện phải không?”. Mục Đồng giải thích “Đâu có, bác xem bà con vẫn nói chuyện thoải mái đấy chứ. Bọ chỉ cho lắp thiết bị khử âm thôi”. À, ra thế!


Bỗng có mấy “Mụ” đi ra, mắt đẫm nước đầy vẻ bi tráng. Tôi lại gần Bạch Dương, hỏi “Sao thế, ai bắt nạt bọn em?”. Bạch Dương vẻ bức xúc “Đâu có, nỏ ai dám. Bọn em tức là cố nói to mà chẳng ai nghe bọn em nói gì”. Nói xong ôm chầm lấy tôi khóc òa lên tu tu. Eo ơi, ngượng chết đi được!


Đợi các mụ đi xa, tôi nói Mục Đồng đủ nghe: “Tôi không đứng về phe nước mắt! Về mặt lý thuyết thì Bọ có thể làm như vậy, nhưng than ôi, bà con sẽ nghĩ gì, sẽ bức xúc, sẽ ức chế, sẽ vưn vưn. Như mấy mụ vừa rồi đấy, bức xúc như thế về nhà chỉ khổ chồng khổ con thôi!”.


Mục Đồng có vẻ đồng tình, hắn nói: “Thực ra thì cách làm này không có gì mới, bác ạ. Nhưng theo em, cũng phải suy nghĩ tìm ra giải pháp gì đó thích hợp hơn với văn hóa quê choa. Và cũng cần quyết định càng sớm càng tốt!”.


Tôi định ăn theo mụ Thanh Chung, viết một lá thư tung lên mạng như một thứ thư ngỏ người ta vẫn thường làm, có thể giật tít thật kêu như “Thư gửi những linh hồn đau khổ” chẳng hạn. Mục Đồng mới nghe tôi trình bày qua, đã gạt đi “Thôi bác ạ, nói mãi rồi họ có nghe cho đâu, bây giờ thì không còn gì để nói nữa. Bác bảo, cứ bức xúc lên là họ nói cho sướng mồm, nói vung chí mẹt, khua trúng cả vào vùng nhạy cảm, chả để ý gì đến sự an bình của gia chủ. Nói thì bảo sao nói nhiều, không nói thì có người lại phê phán là nhiễm văn hóa Makeno, khổ thế!”.


Tôi kéo Mục Đồng lại gần rồi cả hai cùng quay nhìn về phía Quê Choa: khách khứa vẫn ra vào tấp nập đông đúc, mồi nhậu trên các mâm vẫn đầy đặn thơm ngon, cuốc lủi trong be trong hụ vẫn đầy bặp tràn cả ra chiếu, chỉ có cái khác lạ là tất cả đều lặng câm, không một tiếng động vọng ra ngoài. Chẳng khác gì những bóng ma đang ăn cỗ.


Một ngôi nhà Ma chính hiệu, một cõi đi về của những kẻ ghiền văn chương!


Chú thích: Tất cả những cụm từ viết chữ nét màu xanh dương trong bài là đầu đề của các entry gần đây trên Quê Choa.


(Nguồn: Blog TanDinh)

THỜI ĐẠI ĐI NHẸ NÓI KHẼ


Mr. Do


Sự kiện Cô Gái Đồ Long bị bắt được đưa tin một cách dè dặt trên báo chí chính thống, trong khi các trang báo ngoại quốc và trang mạng không thuộc dòng chính thì bình khá nhiều chuyện “hậu trường”. Căn đều Hai bên Chẳng biết thực hư, đúng sai trong vụ Cô Gái Đồ Long ra làm sao. Mà vụ này theo tôi cũng chẳng dính dáng mấy gì tới dân chủ, nhân quyền hay là những cái tương tự thế, có điều sự vụ diễn ra vào một giai đoạn có quá nhiều sóng gió với giới blogger nên vô hình trung đã tạo ra một không khí tê lạnh trên thế giới mạng.


Cách phản ứng của các blogger có tiếng cho thấy điều đó.


Blogger Beo, một nhân vật vô cùng phức tạp, đã xóa bài viết của mình về vụ Cô Gái Đồ Long. Nghe nói blogger này (tôi chỉ nghe nói thôi) mới đây có nhắn với blogger Quê Choa là hãy cẩn trọng với các lời bình.


Blogger Đông A mới có bài viết rất thú vị về vụ Cô Gái Đồ Long, nhưng cái phần “tái bút” ở cuối bài “Entry này không nhận comment. Bất kỳ comment nào cũng sẽ bị xóa” cho thấy vị học giả này cũng ý thức được những nguy cơ tiềm ẩn đối với mình.


Blogger Osin từng có một bài viết – trước khi phải đóng cửa blog của mình không lâu – với nhan đề: “Các bạn thì ảo, còn tôi thì thực“, trong đó kêu gọi khách viếng thăm hãy cẩn trọng với từng còm men.


Lời nhắn của Beo, “tái bút” của Đông A hay bài tâm tình của Osin là điều dễ hiểu, bởi theo luật pháp Việt Nam, chủ nhân blog phải chịu trách nhiệm đối với tất cả các nội dung đăng tải trên trang của mình. Một còm men “nhạy cảm” của một “anh hùng nặc danh” (khổ thay, dạng “anh hùng” này ngày càng nhiều) nào đó có thể đẩy chủ nhân blog vào tù.


Tôi nhớ, cách đây ít lâu, hôm sau ngày luật sư Lê Công Định và vài người nữa bị bắt, tôi và mấy người bạn ngồi trong quán Serenata sau Nhà tang lễ TP.HCM. Một chuyện thời sự như vậy là đề tài một cách tự nhiên bên ly cà phê nhàn nhạt. Nhưng khi chuyện mới khởi đầu, một người bạn tôi đã lên tiếng: “Thôi, đừng nói mấy chuyện ấy nữa. Không thì rắc rối đấy”. Tôi cười: “Ơ, thời đại này là thời đại nào?!”. Người bạn kia cũng cười: “Thời đại đi nhẹ, nói khẽ”.


————


Hôm trước đi uống bia, nàng thỏ thẻ: “Không hay đâu. Có gì viết thì đưa cho em đọc thôi nhé. Đừng có pót linh tinh”. Tôi cười. Làm sao có thể cưỡng lại đề nghị của nàng chứ


(Nguồn: BLog Mr. Do)

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2010

Đo Đo, bọ Lập và tôi

Hơn năm trước, một lần ngồi nhậu ở nhà Ngụy Ngữ, đạo diễn Vinh Sơn giới thiệu với tôi về chiếu rượu Quê Choa, bảo “hot” lắm! Vậy là qua chiếu rượu Quê Choa tôi biết được bọ Lập, biết theo kiểu “văn kỳ thinh” vậy thôi (sau đó cũng như Vinh Sơn tôi lại giới thiệu chiếu rượu Quê Choa cho một số thân hữu của mình). Mãi gần đây khi bọ Lập “hành” phương Nam và chọn Sài gòn làm cõi trọ, qua bàn rượu số 13 của quán Đo Đo tôi mới thật “mục sở thị” ông chủ chiếu rượu Quê Choa.


Bọ Lập ngoài đời không giống như trong trí tưởng của tôi trước đó. Đọc các bài viết của bọ trên Quê Choa, tôi cứ hình dung bọ là anh chàng rất khoái hoạt, mê rượu cỡ Lệnh Hồ Xung và mồm miệng thì liến thoắng cỡ Đào Cốc Lục Tiên. Té ra ở bàn số 13 hôm ấy (và các hôm sau này) người vừa là Lệnh Hồ Xung, vừa là Đào Cốc Lục Tiên vẫn là thi sĩ Đỗ Trung Quân chứ không phải nhà văn Nguyễn Quang Lập.


Trong bàn rượu, bọ Lập uống ăn rất nhỏ nhẻ, nói năng lại rất kiệm lời, không ra dáng một kiếm khách giang hồ, cũng không ra vẻ một tay nghịch ngợm láu lỉnh đầy tính trào phúng như nhân vật “tôi” trong các bài viết trên chiếu rượu Quê Choa. Thỉnh thoảng mới bắt gặp một tia cười trong ánh mắt của bọ Lập, mà tia cười của bọ thì rất thật, khiến toàn thể khuôn mặt bọ ánh lên vẻ nhân hậu lạ thường! Nói chung với tôi, hình ảnh bọ Lập ở ngoài đời giống một thầy giáo hơn là chủ một chiếu rượu “hot” nhất nước hiện nay.


Có thể ở bàn rượu số 13 hôm ấy có nhiều khuôn mặt lạ đối với bọ Lập nên bọ ngại ngần trong giao tiếp chăng? Hay thiên tính của bọ là người nghe nhiều, nói ít, chủ yếu chỉ quan sát để… làm văn. Mà nếu vậy thì khiếp lắm! Võ Phiến trong một tùy bút đã miêu tả tâm trạng của một nhà văn khi chứng kiến giây phút hấp hối của người thân, anh nhà văn đó bất ngờ phát hiện ra rằng mình đã theo dõi một cách rất chi tiết những biểu hiện bên ngoài của người sắp chết theo thói quen nghề nghiệp và anh ta đã vô cùng bứt rứt về điều đó bởi người sắp qua đời là người thân yêu, lẽ ra phải toàn tâm trước giờ chia biệt thì anh ta lại để thói quen nghề nghiệp chi phối cảm xúc của mình.


Left Image


Nam đồng tiên sanh, bình nhất chỉ, đỗ trung quân và nguyễn quang lập ở bàn 13


Tôi mong bọ Lập không giống anh nhà văn trong tùy bút của Võ Phiến. Trong bàn nhậu bọ Lập không láng lai tình cảm như Lệnh Hồ Xung ở gò Ngũ Bá Cương, nhưng khi viết về bằng hữu của mình trên Quê Choa, gần đây nhất là viết về Đỗ Trung Quân và Nguyễn Nhật Ánh, tôi chưa thấy ai thể hiện sự trân quý bằng hữu một cách đậm tình như Nguyễn Quang Lập.


Đất phương Nam vốn náo động, người phương Nam vốn hiếu động và thường thể hiện tình cảm khá ồn ào (nhưng cái ồn ào đó rất thực lòng). Một ngày nào đó ở chiếc bàn số 13 của quán Đo Đo, quen hơi bén tiếng rồi, tôi tin là bọ Lập cũng sẽ nâng ly và hô: “Một, hai, ba…Dzô!”. như một dân chơi miền Nam chính hiệu. Có vậy mới xứng mặt là chưởng môn nhân chiếu rượu Quê Choa chứ!


(Nguyễn Khắc Nhượng - bình nhất chỉ)


Bọ post bài này khi đang ngồi nhậu bên bờ sông Hương, bằng chứng đây:





[caption id="attachment_5656" align="aligncenter" width="494" caption="Nhà hàng Quỳnh Hương, thôn Vĩ (photo: Phil)"][/caption]


Từ trái sang : Đỗ Trung Quân, bọ Lập, Hồng Chương, cô giáo Huyền và họa sĩ Võ Xuân Huy





[caption id="attachment_5660" align="aligncenter" width="502" caption="Với cặp họa sĩ trời sợ Thanh-Hải, nhà báo Minh Tự"][/caption]

[caption id="attachment_5661" align="aligncenter" width="512" caption="Bọ đang kể chuyện...(tự ý đục bỏ)- Lời bình ảnh của Kwan"][/caption]



Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2010

QUÊ CHOA TẢN MẠN CUỐI NĂM

Hôm nay ngày 23 tháng chạp bọ cũng định nhờ Táo Quân đưa báo cáo tổng kết chiếu rượu quê choa cho Ngọc Hoàng xem xét. Đang loay hoay không biết viết thế nào thì gặp hai cái còm, một của Master, một của Dân choa bày tỏ hai luồng ý kiến khác nhau về quechoablog. Bọ thấy không cần phải viết gì thêm nữa, cái còm của Master để cho bọ phải nghiêm túc suy nghĩ, cái còm của Dân choa cũng chính là những nghĩ suy của bọ.


Cảm ơn Master và Dân choa rất nhiều. Bọ xin phép Master và Dân choa post lên đây, coi như lời cuối năm kính cáo của bọ vậy


MASTER: " CHO EM ĐƯỢC NÓI THẬT LÒNG"


Ngần ngại mãi vì 1 tuần nay chỉ đọc không còm. Giờ viết chắc Bọ Lập giận nhưng cho em được nói thật lòng mình chút.


Không riêng gì Entry này mà dạo này QC nói chung càng ngày càng nhạt. Chưa đến mức phải cho thuê đất như bác THL nói nhưng cứ nhìn số lượng bài của bác TMH Bọ post trong thời gian gần đây cũng thấy nản.


Lâu lắm rồi không thấy cái chất giọng tưng tửng, tục mà không tục, cái ngôn ngữ từng được gọi là khẩu văn mang thương hiệu NQL.


Giờ vào QC chỉ thấy các còm sĩ nịnh nhau, nịnh chủ nhà. Khen thì khen đồng loạt, chê thì chê hội đồng. Trong khi ai cũng nói ủng hộ phản biện nhưng nếu gặp 1 cái còm trái chiều thì đương nhiên sẽ bị mọi người coi là không hiểu biết, thiếu lịch sự.


Chưa thấy có ai “dám” phản bác ý kiến của Bọ mặc dù trên chiếu rượu không thiếu người tài. Thậm chí QC giờ đây còn có ” Mời các bác vào nhà em vì… Em lo cho các cháu quá..!?” PR vừa lộ vừa sến thế thì bảo làm sao không nản.


Xưa yêu QC ngày vào không dưới chục lần vừa để lục tung thư viện vừa để xem bài mới. Giờ ngày vào QC 1 lần theo thói quen và vẫn mong cái gì đó mới ( lâu rồi chưa thấy ) Sức hút của QC trong cộng đồng dân cư mạng là lối viết đầy trải nghiệm nhưng vẫn mang đậm hơi thở cuộc sống hiện tại của nhà văn NQL chứ không phải là Nhà “gì gì” như ai đó nghĩ hoặc những ai đã từng xúm vào mong nó trở thành. Dù rằng đó chỉ là chuyện háo danh nương nhờ sự nổi tiếng của QC. Việc này chắc Bọ Lập hiểu rõ hơn ai hết, nhất là trong khoảng thời gian gần đây.


Vẫn chờ những bài viết mang tâm trạng và văn phong của Bọ ( Chứ không phải bài theo đơn đặt hàng như Thương nhớ nghìn năm ) rồi post nhân dịp Bọ sắp xa HN


DÂN CHOA: "MẤY DÒNG SUY NGHĨ"


Bạn Master và các bạn cùng quan tâm thân mến!


Hôm nay tôi vào Quechoasblog dạo chơi và bắt gặp lời Comment của bạn Master. Tự dưng tôi cũng nghĩ ngợi lắm và cũng muốn trao đổi với Bạn đôi điều. Đầu tiên tôi xin ghi nhận lời viết thẳng thắn của Bạn. Bạn có khen Blog quechoa có thời kỳ sôi nổi, Bạn phê quechoa có lúc trầm xuống và gây cho Bạn mất hứng thú. Bạn cũng nhận xét về thái độ của các Commentator, có lúc mang tính“ bầy đàn, tát nước theo mưa“…Lúc khen thì khen lấy được. Lúc không ưa thì „ dưa có dòi“, hoặc giả không ai đủ „ dũng khí“ để phản bác lại Chủ nhà. Vâng. Đấy là ý kiến thẳng thắn của riêng Bạn. Tôi trân trọng về thái độ biểu hiện chính kiến của Bạn.


Nhưng tôi thì tôi cũng có ý nghĩ riêng. Xã hội cộng đồng mạng ngày nay muôn hình muôn vẻ. Nó hấp dẫn và lôi cuốn nhiều người và cũng là xu thế chung của thời đại khoa học kĩ thuật. Việc nhà văn Nguyễn Quang Lập(NQL) lập Blog quechoa là rất bình thường như nhiều ngừoi khác. Anh đã tạo ra một sân chơi cho mình, cho bè bạn và cho cộng đồng, những ai yêu mến anh và văn chương của anh. Không phải tất cả những gì anh viết, anh suy nghĩ, công việc của anh đều đưa lên Blog. Nó chỉ là một góc nhỏ trong cuộc đời thực của anh mà thôi. Ngoài những bài viết của anh thì anh còn cho đăng tải các bài của bạn bè hay tin tức sự kiện xã hội qua báo chí nữa. Anh muốn đây là một sân chơi vui vẻ, thú vị và có tính nhân văn cao mà thôi. Blog quechoa chưa thể nào là sự nghiệp của anh cả.


Anh Nguyễn Quang Lập là ai? Trước tiên ta phải khăng định đó là một nhà văn Việt Nam. Anh đang sống cùng gia đình ở Hà Nội. Anh kiếm sống bằng nghề văn chương thực chứ không phải nghề viết Blog trên mạng. Anh phải tự nuôi mình và ngoài ra anh còn có trách nhiệm nuôi sống một gia đình nữa. Đó mới là cái chính.


Là một thành viên của xã hội, là công dân của một đất nước, anh phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với cộng đồng. Với tư cách đặc thù là một Nhà văn thì trách nhiệm xã hội của anh cũng có khác so với người thường. Qua văn chương anh chuyển tải tinh thần này đến các thành viên khác. Quechoa là một phần ở trong đấy, mà qua đó chúng ta cũng nhận thấy cộng đồng đón chào thông điệp này như thế nào.


Nhưng không có nghĩa anh NQL là con dao pha, cái gì cũng làm được, mảng gì cũng thấu đáo. mặt trận nào cũng tiên phong.


Những ai kỳ vọng nhà văn NQL là người tiên phong vác thánh giá, một chiến sĩ xung kích ở mặt trận văn hóa văn nghệ, mang những ý tưởng dời non lấp bể của Đảng và Nhà nước đến với từng con người trong xã hội, thì sẽ nhầm to


Còn ai kỳ vọng nhà văn NQL như một nhà tư tưởng, một « Nhà dân chủ » hay một « Chiến sĩ tranh đấu cho Nhân quyền » thì sẽ càng sai lầm.


Đơn giản là anh NQL chỉ một người cầm bút thích thuần văn chương mang tính nhân văn mà thôi.


Lập Blog quechoa tạo sân chơi cho mình, cho bạn bè và cộng đồng là một việc hi sinh rất nhiều thời gian, công sức của anh rồi. Tuy nó nổi tiếng, thu hút nhiều bạn đọc, nhưng mang lại cũng nhiều phiền toái cho cá nhân anh. Có người mến mộ, có người dửng dưng, nhưng cũng có kẻ không ưa. Đấy là thói đời chung, ta cũng nên cảm thấy bình thường. Nhưng không phải vì chê bai mà anh nản, cũng không phải vì có người ghét mà anh bỏ. Nhưng anh chắc chắn có chính kiến riêng mình, chứ cũng không thể chiều lòng tất cả bạn đọc được.


Tôi thiển nghĩ, anh tạo ra quechoa chỉ là sân chơi văn chương vui vẻ. Nơi, anh cùng bạn bè và bạn đọc yêu mến anh giao lưu. Chứ không phải một diễn đàn để tranh luận về chính sự, rồi mổ xẻ phân tích các vấn đề xã hội, cũng không phải là nơi để rao giảng hay gửi gắm thông điệp gì cả.


Mỗi bạn Còm thì nhìn nhận các vấn đề khác nhau. Đơn giản là ai cũng có điểm xuất phát khác nhau. Nhiều lúc cũng gây tranh cãi nẩy lửa, thậm chí có bạn còn nói văng mạng, hoặc sa đà thành mạt sát lẫn nhau. Nhưng suy cho cùng thì nó chỉ là thiểu số.


Còn khi khách mến mộ đến thăm chủ nhà, khen chủ nhà hiếu khách. Nhấm nháp món chủ nhà đãi khách mà có lời ngợi khen chủ nhà, nhất là đúng khẩu vị của mình, thì âu cũng là lối thường tình trong xã giao mà thôi. Còn khi ngồi ở trong bữa đại tiếc mà có đôi ba ông bạn hợp gu nhau, chia thành nhóm nhỏ, gật gù với nhau thì cũng chẳng có gì lạ cả.


Chỉ có điều chúng ta, những người đọc và bình luận, cố gắng giữ cho Blog sạch sẽ, đừng quá lạm dụng nó để làm mất nó. Giữ làm sao cho Chiếu rượu xôm tụ như từ trước tới giờ. Chúng ta cũng phải thông cảm cho chủ nhà, anh NQL, sức khoẻ cá nhân vốn đã kém lại phải đa mang thêm nhiễu sự của người viết Còm.


Mấy dòng tản mạn trong ngày cuối năm cũ( Âm lịch) như vậy. Tôi chúc Master và các Bạn có chút thời gian để cùng Gia đình làm Lễ tiễn đưa ông Táo về trời. Chúc các Bạn vui khoẻ và hạnh phúc.


Thân mến

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Quê choa đang lo...


Nước Mỹ đang lo sản xuất xe bay, từ chạy chuyển sang bay không đầy 30 giây, có lẽ loại xe này dùng cho các nước hay bị tắc nghẽn giao thông.


 



Nước Nhật đang lo cho nông dân vừa làm vừa chơi, vừa làm ruộng vừa vẽ tranh


Nước Úc đang lo nóng, đợt nắng nóng keó dài trên 40 độ



Châu Âu đang lo rét, tuyết phủ dày khắp tất cả các thành phố

 Dân Venezuela đổ xô tới các cửa hàng để mua hàng hóa nhập khẩu trước khi quyết định phá giá đồng bolivar


Trung Quốc đang lo bọn quan tham vét rỗng túi CNXH, hơn 50 tỉ đô quan tham đã ôm chạy ra nước ngoài


Hạn hán làm cho 77% cư dân các nước vùng Trung Mỹ lo bị thiếu lương thực trầm trọng, lâm vào cảnh đói nghèo


bolap.jpg image by nguyetvu


 


Còn quê choa lo đón pv thứ 2 triệu, bọ lo đi nhậu với bạn bè, he he


Biết là nhiều chưa chắc đã hay, thời buổi đảo điên phúc hoạ khôn lường. Nhưng lập ra cái chiếu rượu mà vắng như chùa Bà Đanh thì  cũng buồn lắm.


Số liệu:


-Lượng truy cập trùng bình: 14 ngàn lượt/ ngày


- Ngày truy cập đông nhất: 22.329 lượt người


- số comment: 27.628


- Thời điểm đông khách nhất: 144 người


- Số nước có truy cập: 108 nước


Mới ngày 31/10 vừa rồi đón chào pv thứ 1 tr, hai tháng sau lại đón chào pv thứ 2 tr, blog như rứa là oách rồi. Được như vậy là trăm sự nhờ bà con cả, bọ không hề khách sáo. Xin cảm ơn và xin cảm ơn he he!


 

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2010

Nguyễn Quang Lập đắt sô... nói tục





Nhà văn Nguyễn Quang Lập



(TNTT&GT) Nguyễn Quang Lập không phải là cái tên xa lạ đối với cư dân mạng, đặc biệt là cộng đồng bloggers. Vào Google, thử search “Nguyễn Quang Lập” sẽ có tới hơn 4 triệu kết quả, phần lớn là các link dẫn vào blog Quê Choa của anh.



Thoạt đầu, anh tạo blog trên Yahoo rồi bỏ hoang cả năm trời, chẳng có gì ngoài một entry tiếu lâm “Truyện tình toàn chữ T” đã đăng trên một tờ báo xuân năm 2004.

Bỗng một ngày đẹp trời, tác giả “Những mảnh đời đen trắng”, “Đời cát”… biến thành một blogger nổi tiếng. Ông nhà văn ham vui với nick name “Bọ Lập” bắt đầu viết blog trở lại. Những entry ngắn, có đủ bi hài về những mảnh đời ở quê choa Ba Đồn, về những văn nghệ sĩ thân thiết một thời Bình Trị Thiên khói lửa… trên blog Quê Choa rất cuốn hút bạn đọc. Kiểu viết chuyện bịa như thật và thật như bịa. Các nhân vật chính được Bọ vẽ chân dung, dù tức tràn bụng, gặp nhau vẫn vui vẻ cười xòa, không thèm chấp người “ham vui”. Chỉ có lần duy nhất, người được Bọ "vẽ chân dung" dọa kiện ra tòa, khiến Bọ lo mất ăn mất ngủ. May mà cuối cùng “anh ấy hiểu mình không có bụng dạ chi” nên không sao. Những entry đó sau này được dịch giả Đoàn Tử Huyến, bạn thân của Bọ tập hợp lại in thành tập “Ký ức vụn”, bán rất chạy.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập với status “Một ngày không nói tục thấy nhạt mồm” chính là nhà văn nói chuyện tục hay nhất VN. Chuyện của Bọ từ ngữ rất tục nhưng không thấy tục. Có nhà văn viết hay hơn nói và ngược lại. Nhưng với Nguyễn Quang Lập thì viết và nói tục “hay đều” như nhau, không phân biệt ranh giới. Ngoài đời, uống rượu với Nguyễn Quang Lập rất vui. Uống từ sáng tới chiều cười bể bụng. Vào vài ly, thêm một chút nhan sắc, những câu chuyện tục tuôn ra như suối. Năm 2004, Bọ bị tai biến vừa bình phục sơ sơ, đi cà nhắc, bay vào Sài Gòn. Thêm Phạm Ngọc Tiến, Trần Quang Đạo, Nguyễn Nhật Ánh… kéo nhau tới quán bia Hoa Viên ngồi từ 8 giờ sáng tới đến 10 giờ đêm chỉ toàn nói chuyện tục.

Khách khứa ngồi cạnh, nghe vui, kéo ghế ké vô cười ra rả. Nhưng nói tục với toàn đàn ông không thì ít vui. Bọ rủ thêm Hồng Ánh, Mai Hoa (hay đóng trong những phim bọ viết kịch bản) tới. Từ ngữ thăng hoa tới tận… đáy. “Bọn nó quen rồi, coi mình như anh. Nói vô tư…”. Đang hóng chuyện tục rất vui, Lê Minh Quốc rủ ngày mai có nhà văn Nguyên Ngọc vào, mời cả bàn đi ăn cơm. Bọ ta xua tay liền: Mình kính nể ông Nguyên Ngọc lắm, nhưng ngồi với ổng toàn nói chuyện đại sự mình không chịu được. Thôi để ổng yên, mình là người không "đàng hoàng". Hôm sau lại kéo nhau tới quán Đo Đo của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh để… nói tục tiếp. Có cả cô Kelly người Mỹ, trợ lý gì đó trong phim “Người Mỹ trầm lặng”.

Từ ngày bị tai biến, Bọ ở nhà, lập công ty, chuyên viết kịch bản. Blogger Quê Choa hiện rất đắt sô. Anh em từ Nam hay Trung ra Hà Nội đều lôi kéo cho bằng được Bọ Lập đi nhậu… nói tục. Nguyễn Quang Lập không phải nói tục nữa mà diễn tục với ê-kíp quen thuộc gồm nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà văn Phạm Ngọc Tiến, Trung Trung Đỉnh… và các fan trong blog Quê Choa của anh. Nhiều blogger từ Mỹ bay về, chỉ mong ngồi nghe Bọ nói chuyện tục. Có một dạo, cứ hễ chiều tối mà thấy số điện thoại của Bọ hiện lên là biết Bọ ta đang cần xác minh lại một câu chuyện dân gian rất tục nào đó.  Hiện nay blogger Quê Choa mỗi ngày cứ nói tục hồn nhiên thêm, viết tục thì đã giảm đi một chút cho… lịch sự. Suy cho chuyện đời cũng nên cười một cái cho sướng. Nhà văn chỉ cần nghiêm túc với trang viết của mình!


Nguyễn Thành Nhân

(Nguồn:thannien online

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2009

Đọc sách Ký ức vụn

Phanxine


Tui là đứa thích đọc sách nhưng mà lười đọc sách. Tui có thú vui đi tha sách về nhà để lên tủ cho vui, xong một ngày đẹp trời lôi ra đọc. À không, một ngày xấu trời – chẳng hạn trời mưa không đi đậu được, không có internet, không biết làm gì đành lấy sách ra đọc. Chớ bình thường ít khi tui đọc sách lắm nha. Có nhiều cuốn tui đọc mấy năm trời mới xong (chẳng hạn cuốn T mất tích tui đọc suốt ba năm mới xong), nhưng có những cuốn tui đọc cái vèo là xong (chẳng hạn cuốn gần đây nhất không tính cái cuốn tui sắp review là Kira Kira). Không phải là sách dở tui đọc chậm mà sách hay tui đọc nhanh, mà tùy thuộc vào nhiều tình huống lắm. Chẳng hạn cuốn Kira Kira la cuốn dễ đọc, cộng với tui thích truyện con nít nên từ khi cầm nó lên đọc cho đến khi đọc xong chỉ có… 4 chuyến đi tàu điện từ trường đến Universal Studio xem phim thôi. Trong khi T mất tích tui chỉ chờ khi nào đi máy bay tui mới lấy ra đọc, mà thiệt ra có mấy khi tui đi máy bay đâu. Cả hai cuốn tui đều thích. Vì thiệt ra nếu không thích thì thôi tui dẹp luôn khỏi đọc.


Cái cuốn khó chịu mà làm tui đọc nhanh nhứt – tức đọc mà còn phải lật lại đọc lại đoạn đầu để nhớ ra ai là ai, sự kiện gì là sự kiện gì, xong còn đi kiếm luôn nguyên tác đọc, là cuốn Trần trụi với với chương của Paul Auster (New York Trilogy). Cuốn này hay ho lắm nha, để hôm nào rảnh rỗi tui review chơi.


Quay trở lại với cuốn Ký ức vụn của Nguyễn Quang Lập. Hồi mới về tui đi mua sách thấy cuốn đó mà không có mua nha, tại vì nghĩ trời ơi mua chi lên blog của tác giả đọc là được rồi. Xong rồi một hôm rảnh quá vô blog của NQL thì thấy trong đó nhiều thứ quá, có cái tui thích đọc có cái không, nên cuối cùng quyết dịnh ra mua cuốn đó…
Cuối cùng thì cũng đi mua. Mà người ta hết sách thường rồi. Còn sách đặc biệt thôi. Giá tới… 190.000/cuốn. Đặc biệt tự vì có chữ ký của tác giả đó nha các bạn. Hehehe, mới đầu lúc mở ra tui hết hồn tưởng là ông này tặng ai đó xong người ta bán lại đó chớ. Hồi xưa tui hay đi mua sách cũ đọc, nhiều cuốn trong đó có chữ ký tác giả gửi tặng bạn bè cũng bị quăng ra nhà sách cũ. Tui cầm mấy cuốn đó tự nhiên lòng nao nao nha, tại tui có một cái tính rất là mắc cười là ai tặng gì tui hay giữ lắm, không có cho đi cho lại đâu. Vì vậy tự nhiên thấy mấy cuốn sách người ta tặng nhau mà đem ra tiệm sách cũ là tui thấy buồn ghê gớm, không biết vô tình người tặng tìm thấy mấy cuốn này có buồn không ha…


Mới đầu tui lưỡng lự không biết có nên mua cuốn sách giá trị kia không (thiệt là mắc so với các sách có cùng độ dày nha), nhưng cuối cùng tui quyết định mua luôn tại vì tui nghĩ nói chung cũng nên khuyến khích việc in sách trong thời buổi internet nó tràn lan ebook. Tui vậy chứ dù hay đọc sách trên mạng (cho nó tiết kiệm) nhưng mà cuốn gì hay ho tui cũng hay mua một bản print để giữ, nhiều khi ko có mở ra đọc luôn đó. Để lên kệ hù cho người ta sợ vậy!
Cuốn Ký ức vụn là tập hợp những entry trên blog của Nguyễn Quang Lập. Nếu ai không biết thì tui giới thiệu sơ qua là anh ấy là tác giả của nhiều kịch bản phim, nổi tiếng nhất (tới nỗi giờ ông phát mệt với cái phim đó) là Đời Cát, gần đây nhất là vở Ngàn năm tình sử. Hồi xưa tui có đọc một tập truyện ngắn có tên là Đi tới nơi mặt trời hay đại loại gì đó không nhớ, nhưng sau khi đọc Ký ức vụn thì tui nhớ ra cuốn đó cũng của Nguyễn Quang Lập luôn vì trong Ký ức vụn có mấy mẩu chuyện làm tui nhớ tới một truyện ngắn trong đó có tên là Chuyện ở thung lũng Chớp Ri.


Cuốn này kể mấy chuyện cỏn con về những người mà Nguyễn Quang Lập từng biết – kiểu Những người sống quanh tôi. Có những người không nổi tiếng và có cả những người nổi tiếng. Viết giản dị vô cùng. Thân tình vô cùng. Đọc như có người ngôi tâm sự với mình. Có chuyện đọc như chuyện ngồi bàn nhậu mà kể. Có chuyện dọc như chuyện nửa đêm nằm thủ thỉ nhau mà kể. Chuyện đọc cười đau bụng – chẳng hạn chuyện Niệu liệu pháp (chuyện này tui biết nà, vì bác tui cũng quen ông Hoàng Phủ Ngọc Tường xong có thời cũng thử luôn hahahaha), chuyện đọc rơi nước mắt – những chuyện về bạn bè thời bé tí, hay chuyện về con chó Giôn, hay chuyện về thằng hai đầu gối, về đồng năm hào, có chuyện đọc thấy cay cả sống mũi vì đời cay nghiệt, có chuyện thì đọc xong thấy đắng cả lưỡi, có chuyện đọc nổi hết gai ốc (như Chuyện ma chẳng hạn)
Mà cái hay là mỗi truyện có một giọng kể khác nhau nhưng đọc vào vẫn biết đó là Nguyễn Quang Lập. Có nhiều thứ tui đọc mà sao thấy đồng cảm khủng khiếp. Có lẽ vì mẹ tui người Quảng Bình, tui nghe mẹ tui hay kể những chuyện thời bé, nên đọc những mẩu chuyện này tui cứ thấy quen thuộc. Cũng có lẽ vì những cái cười, cái khóc kia của NQL là những sự cay đắng với nhân tình thế thái, cười cái sự đời. Cũng có lẽ vì sự chân tình (nằm giữa hai chân thật) nằm trong từng câu chữ….


Kỳ lạ lắm nha, cái cuốn truyện ngắn Đi tới mặt trời tui đọc đâu chắc cả hai mươi năm rồi đó, hồi tui còn bé tí, mà sao tui đọc cuốn Ký ức vụn này tui nhớ rõ luôn cái giọng văn, cái câu chuyện của Chuyện ở Thung lũng Chắp Ri hồi lâu lắc. Như chuyện về cô giáo mà NQL yêu thương nhất, về những thằng bạn mà NQL quý mến nhất, về cả sự đê hèn khó đoán của con người ta, đều khiến tui nhớ đến cô giáo Thương, thằng Chơn, chú Dũng hay thầy Hoài trong cái truyện Chuyện ở Thung lũng Chắp Ri lâu lắc đó.
Ký ức vụn hay ở chỗ mỗi nhân vật trong từng câu chuyện đều được khắc hoạ rõ nét, đôi khi chỉ với vài ba chi tiết, nhưng cũng khiến người ta (tui) hình dung ra được rõ mồn một, mà họ không có đơn giản, họ cũng phức tạp, họ cũng có những nỗi niềm, những cái mặt nạ. Hình ảnh của những con người đó sao mà nó mạnh mẽ và đẫm chất điện ảnh đến thế, từ cái thằng hai đầu gối cõng đứa em đã chết lạnh trên lưng, vừa đi vừa nhún, nước mắt chảy hoà với máu, đến thằng Thanh thong thả mặc quần vào, đứng dậy đấm vào mặt ông chồng của con đàn bà nó vừa làm tình rồi mắng Mày đứng có vu khống, từ những kỷ niệm thật đẹp với Hà người bạn thưở ấu thơ đến bức biếm hoạ về ông bạn nhạc sĩ Tinh Túy, từ Hồng Ánh với những câu chuyện tình yêu rất buồn đến mức ước gì mình đi chích hoocmôn để thành đàn ông khỏi lo chuyện lấy chồng cho quách đến chuyện về Hoàng Phủ Ngọc Tường ước ao chỉ cần đi ỉa không cần ai giúp thôi cũng đã hạnh phúc.


Tui đọc cuốn này suốt hai ngày đi Lagi. Đọc không buông sách. Đọc xong đọc lại. Xong mò lên blog đọc comment của người ta về mấy cái entry được in trong sách…
(tính review 2012 trước mà thôi post cái này trước vậy)

Ký ức vụn một cách tự trào và hòa giải

Mai Anh Tuấn


Kí ức vụn, đến thời điểm này, có thể nói là một cuốn sách gây hứng thú vì những gì là nó và những gì về nó. Là nó, người ta nhận ra một giọng văn riêng, một cách tái cấu trúc kí ức riêng và đặc biệt hấp dẫn là những chân dung văn nghệ sĩ (mà tác giả gọi là Bạn Văn) rất riêng. Về nó, thì ngay từ khi còn tồn tại ở dạng entry blog, những mẩu chuyện này đã được đón nhận, bàn luận sôi nổi trên văn đàn mạng và khi thành sách, một lần nữa, nó lại gây sốt không kém mô hình các sách best – seller ở Việt Nam trước đây để cuối cùng, có lẽ rất hi hữu, tác giả cuốn sách, đã trao giải thưởng cho các bài viết, nói chung, có tính chất tán thưởng về cuốn sách của mình.


Bài viết này xin đề cập đến những khía cạnh khác mà bản thân người viết, với sự tập trung sâu hơn vào 25 chân dung Bạn văn, cho rằng quan trọng nhất khi tiếp nhận cuốn sách mang tên Kí ức vụn.


Trước hết, có thể coi Kí ức vụn là một dạng hồi kí, tức là tái cấu trúc kí ức của cá nhân về chính bản thân mình và những người mình từng gặp gỡ quen biết. Nếu “Những người bạn khó quên” hay “Người từng gặp” bị dìm kín trong phạm vi cá nhân nhỏ hẹp, nó chỉ có thể đại diện cho hoặc là một kiểu tính cách hoặc là một tuýp người xã hội mà tác giả đang muốn và có công dựng nó lên thành điển hình thì 25 chân dung Bạn Văn có phạm vi rộng hơn vì những nhân vật này, trước khi hội ngộ trong Kí ức vụn, ít nhiều đã được phác thảo chân dung đây đó. Cũng có thể khẳng định, chính sự nổi tiếng của những người trong Bạn Văn đã làm mờ đi tính chất thân sơ, cái điều mà tôi chắc rằng độc giả không mấy để ý, của mối quan hệ giữa người dựng chân dung và đối tượng được đặc tả. Tuy nhiên, với tư cách người trong cuộc, người dựng phải lẩy ra những chi tiết được coi là thuyết phục và hấp dẫn nhất để độc giả không nghi ngờ về kĩ năng hư cấu, điều tối kị trong thể hồi kí/tự truyện. Và chính nhờ chi tiết mà chuỗi kí ức vụn có dịp trỗi dậy như các chứng thực đáng tin để ráp nối nên nét chân dung mỗi một văn nghệ sĩ. Trong sinh hoạt văn học Việt Nam, trường hợp Kí ức vụn, tức là trường hợp những hồi kí/chân dung tiếp cận và giải cấu đối tượng theo lối phơi bày một sự thực đáng tin trong dáng dấp đáng ngờ nhất, là không nhiều. Trước, có thể kể Tô Hoài với tập hồi kí Cát bụi chân ai, tiếp theo [phần nào] là Trần Đăng Khoa với tập Chân dung và đối thoại. Cả hai, khá giống với Kí ức vụn sau này, một cách ngoạn mục, đều phá bỏ ranh giới truyền thống viết chân dung nhà văn. Độc giả, qua ba cuốn sách trên, sẽ ghi nhớ rất rõ những triệu chứng căn bệnh đồng tính của thi sĩ tình yêu Xuân Diệu, cách ăn phở của Lê Lựu, hay những tâm sự đời người của Hoàng Phủ Ngọc Tường… Nghĩa là, ở đây, họ thích sự ló dạng con người đời tư/đời thường của nhà văn hơn là sự bày chật của con người nghệ sĩ, cái mà thông thường, dễ bị đông cứng trong khuôn mẫu đạo đức xã hội rằng, người nghệ sĩ ấy phải hoàn hảo về mặt nhân cách và lí tưởng về mặt thẩm mĩ. So với hai cuốn trước, Kí ức vụn đậm đặc chi tiết đời tư hơn và do đó, những yếu tố của một đời tư như lời ăn tiếng nói, thói quen ứng xử và những ham muốn nhục dục… cũng được trưng dụng hữu ích nhằm làm cho đối tượng trở nên cực thực và nhất là, có khả năng tạo cái pha nhận thức mới: xét cho cùng, nói như Nguyễn Huy Thiệp, con người diễn nôm ra ai chẳng lằng nhằng! Tuy rất khó giải thích rõ ràng nhưng cái sự lằng nhằng ấy có thể hiểu một cách chung, là tính chất con người nhất, mà có lần K. Marx đã quả quyết “không hề xa lạ với tôi”. Một đời sống hỉ nộ ái ố nếu đã không nhạt nhẽo thì hãy để nó phơi mở trong vai trò là làm sáng lên đối tượng. Nếu đôi khi vì dưới ánh mắt đạo đức hẹp hòi, mà nó không thể được diễn nôm, không được thỏa mãn trình diện thì ngay cả với người nghệ sĩ, hẳn sẽ là tai họa và thậm chí, là kẻ giả vai. Kí ức vụn cho phép mỗi chân dung một cơ hội đúng vai, tròn vai mà dù, thi thoảng, cái bi có quẫy lên thì cũng chỉ làm cho cái hài, cái tự trào trương nở rộng hơn. Kí ức vụn đúng là một cách tự trào.


Khác với tự thán và tự mê, tự trào có một năng lực hướng ngoại rất lớn. Trong khi tự thán và tự mê, chủ yếu, như cách ngắm vuốt chính mình và đặt ở môi trường văn hóa thuần nông, nó gần gũi với tinh thần vị kỉ, tự kỉ. Tự trào, ngược lại, coi việc “quẳng mình” là một trách nhiệm và khi cái cười bật lên thì đám đông sẽ lĩnh hội mình, giải mã mình chứ ‘mình” không còn ở dạng thô sơ của sự thù tạc cá nhân. Tự trào, để xuất hiện, phải cần đến bản lĩnh vì lúc đó, quan niệm thẩm mĩ của anh ta, cái tạo nên tiếng cười, đôi khi chống lại xung quanh, thách thức một cái nhìn cũ. Nhưng nhờ vậy mà nó gây ấn tượng mạnh, được truyền tụng. Xin dẫn vài ví dụ: Thế kỉ XV, Nguyễn Trãi, ngoài những vần thơ tua gìn đạo trung hiếu mà bản thân quan phẩm – nhân phẩm của ông xứng đáng là tấm gương, cũng đã không quên tự trào khi viết về mình: “Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc/ Nhà dột đèn xanh, con mắt xanh”. Có người coi đó là cách nghĩ giản dị và mộc mạc của Nguyễn Trãi. Nếu quả vậy thì cũng phải thấy rằng, chính Nguyễn Trãi đã xa lánh lối dựng chân dung một nho sĩ đạo mạo để có được tiếng cười trẻ trung rất hiện đại. Sang thế kỉ XIX, Nguyễn Khuyến tự trào về mình, dù với tâm lí thất thế, là kẻ “giả điếc”: “Khi vườn sau khi sân trước khi điếu thuốc khi miếng trầu khi trà chuyên năm ba chén khi Kiều lẩy một đôi câu”. Mạnh mẽ và đi xa hơn Nguyễn Khuyến, Tú Xương công khai đẩy con người đời tư lên trước: Vị Xuyên có Tú Xương/ Dở dở lại ương ương/ Cao lâu thường ăn quịt/ Gái đĩ quen chơi lường. Cho dù 4 nét vẽ này là của Tú Xương hay của bạn văn dành cho ông thì cũng phải thấy, khả năng tự trào sắc sảo này đã làm một Tú Xương đời thường gần gũi với thói đời mà ông từng chửi “ăn ở bạc”. Điều quan trọng cần phân biệt ở đây là, Tú Xương chỉ có thể vi phạm đạo đức với tư cách con người xã hội nhưng trong nghệ thuật, ông xứng đáng được ngưỡng mộ vì đã tự tìm lấy lối đi riêng để dựng chân dung và tạo dấu ấn thẩm mĩ mới ở thể loại này. Cũng như vậy, ở Kí ức vụn, mỗi bạn văn đều được tác giả cận cảnh ở chi tiết đời tư một cách nhất quán, không hề có lối tạt/rẽ sang con người nghệ thuật theo kiểu phê bình đạo đức trá hình. Cho nên, tự trào, dù có gây đỗ vỡ những quan hệ xã hội thông thường, thì trước sau, nó vẫn cần phải hồn nhiên, tự nhiên trong tư thế xuất hiện. Có tư thế này còn có thể kể thêm lối tự trào của Bùi Giáng, của thơ đời Bùi Chí Vinh…


Kí ức vụn tự trào, gây cười về điều gì ? Thì cũng như Tú Xương tổng kết: Một trà, một rượu, một đàn bà. Có chăng, ngoài ba cái lăng nhăng ấy, lác đác trong Bạn Văn còn thấy cái sự ‘lười tắm’; sự lắm chữ, yêu chữ, ngộ chữ; sự ứng xử nhân tình… Mỗi chân dung một sự lằng lằng, mỗi lằng nhằng một lẳng lặng nghe, mỗi lẳng lặng nghe, một đằng đẵng cười.


Để gây cười, ngoài hệ thống chi tiết được phục dựng đắc địa, tác giả còn hay sử dụng thủ pháp này: so sánh, liên tưởng theo lối khẳng định hoặc ở dạng hơn nhất. Chẳng hạn: “Trẻ con nước này quên ai thì quên, có ba người không thể quên, đó là Bác Hồ, Tô Hoài và Xuân Sách” (Nhớ Xuân Sách); “Mình nói xứ Nghệ có hai đặc sản quí hiếm gọi là kẹo Cu Đơ và thơ Minh Huệ” (Tuyết Nga); “Tôi nộp thuế cho vợ đầy đủ nhất Hội nhà văn nhé, có thua thì thua Đoàn Tử Huyến thôi chứ quyết không thua ai” (Trung Trung Đỉnh); “Hết phim, các em xinh đẹp xúm đen xúm đỏ xin chữ kí, bụng nghĩ nhà văn nước Nam mấy ai như mấy nghệ sĩ điện ảnh không, may lắm có Trần Đăng Khoa với Nguyễn Nhật Ánh”(Quốc Trọng)… Trong mỗi so sánh, do tính bất nhất, khác biệt giữa các đối tượng, nên nó không những gây cười mà còn ẩn giấu dư vị giễu. Dư vị này được làm ngấm thêm bằng gia vị cảm giác thông qua các lớp từ quen thuộc: hay điếc tai, kinh, thất kinh, sướng rêm người… Chúng như những đường vòng xuyến đuổi theo từng bức chân dung, người xem vừa muốn truy đuổi tận cùng vừa phải chờ đợi tín hiệu tiết chế từ phía tác giả.


Với sự hấp dẫn và độc đáo của mình, Kí ức vụn, ở thời điểm nó ra đời, đúng như Bảo Ninh chào đón “thật là điều quá mừng cho văn học”. Tuy nhiên, phải thấy, trường hợp Cát bụi chân ai (1992), Chân dung và đối thoại (1998), Yêu và sống (Lê Vân, trước đây cũng nhận được điều tương tự. Từ đó, đặt trong sinh hoạt văn học Việt Nam, có thể nhận ra một đặc điểm: khi những đổi mới và cách tân trong sáng tác đi vào hồi lắng và văn đàn luôn chịu trận bởi sự đòi hỏi khắt khe là phải có tác phẩm lớn (chí ít phải có tiểu thuyết lớn) thì gần như nó bị rúng động bởi sự xuất hiện của thể hồi kí/ tự truyện/ chân dung mà nó, mãnh lực tìm kiếm chủ yếu, là thoát ra khỏi sự tự ngưỡng mộ để trở nên tươi tắn trong dáng vẻ bụi bặm. Với một ý thức rõ ràng về việc nhập cuộc với đời sống văn học thì các nhà văn đột phá trong thể loại này sẽ đem lại một không khí mới cho văn đàn, làm giải nhiệt những đòi hỏi nóng bỏng từ phía những người chỉ dựa vào tiêu chí thành tựu, thoạt tiên rất chính đáng nhưng kì thực là vô lí và gây nên bất thường đối với sự phát triển bình thường của văn học. Nói khác đi, việc làm thụt giảm sự chú ý của văn đàn vào những thói quen cũ để mở ra chiều hướng có tính khả thi hơn trong thời điểm cụ thể, chính là sự hòa giải.


Hòa giải, cụ thể, ở mấy điểm. Một là, trong khi nền văn chương luôn chờ đợi một dự án văn chương lớn lao, có khả năng đại diện cho cả gương mặt thời đại thì độc giả, ngược lại, vẫn chờ đón và hi vọng vào những “tiểu văn chương” mà nó đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của mình. Bắt mạch đúng tâm lí tiếp nhận của độc giả là một ứng xử nghiêm túc và thông thái mà không phải người viết nào cũng làm được. Thứ hai, khi không đáp ứng được yêu cầu là thành tựu lớn với nghĩa là hoàn toàn độc sáng về bút pháp thì cung cách mà tác giả Kí ức vụn, nhờ những chiêu thức về ngôn ngữ, giọng điệu và chi tiết phi hư cấu, có thể coi là bước tiền phong nho nhỏ để tiến lên vũ đài văn chương với vị thế của kẻ tuyên ngôn, rằng, không thể cạn kiệt trong cách nhìn về một đối tượng. Và thứ ba, giới hạn của sinh hoạt văn chương sẽ được mở rộng do chỗ nó tôn trọng sự bình đẳng và dân chủ giữa các khuynh hướng thẩm mĩ khác nhau, từ đó, tiếng nói của sự “thương nhớ vỉa hè” như tác giả Kí ức vụn thú nhận, cũng sẽ tạo ra một vùng phủ sóng nhất định đến sự thu phát văn học nơi trung tâm.


Hòa giải, do vậy, đôi khi, là một điểm đáng khích lệ. Tuy nhiên, ít có sự bảo hiểm chắc chắn đối với một sự hòa giải như kiểu Kí ức vụn. Nói rộng hơn, số phận của Kí ức vụn, theo tôi, nhanh chóng trở thành những câu chuyện giai thoại, điều nằm ngoài chủ ý nghiêm túc của tác giả là chứng minh nó rất xác thực. Vì sao vậy ? Vì dường như, trong tâm lí văn học nước ta, nỗi ám ảnh về đạo đức xã hội khiến những sự thật hay điều cấm kị khi được nói ra, đều dễ biến thành truyền miệng và giai thoại. Khi đã là giai thoại, cả người viết và người đọc đều an tâm vì nó, nếu không vô thưởng vô phạt, thì sẽ có dịp “mua vui”. Những câu chuyện đời của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương hay Bùi Giáng… phần lớn đã được giai thoại hóa. Trong Kí ức vụn, đơn cử chân dung Trung Trung Đỉnh với chi tiết: “Một hôm còn thấy anh Đỉnh ngồi với một ông to lắm, ôm vai hót cổ, nói ông ông tôi tôi, say lên còn vọc chim ông ấy, cười khe khé, mình thấy mà thất kinh”, e rồi cũng thành giai thoại.


Mà, một sự xác tín trở thành giai thoại, thì phải chăng là cách tự trào ?

“Ký ức vụn” -Từ “âm mưu” phá vỡ “vùng cấm” văn chương đến khát vọng dân chủ trong sáng tạo

---(Đọc tập “Ký ức vụn” - 2009  của nhà văn Nguyễn Quang Lập)---


LÊ NGỌC – VIẾT VĂN NGUYỄN DU K9


Sau hai mươi năm vắng bóng trên văn đàn Việt, lần này, Nguyễn Quang Lập trở lại ngoạn mục với “Ký ức vụn” – tập tạp văn “độc” đã vào đến vòng chung khảo Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2009.


Sách chia làm năm phần: Những người bạn khó quên, Vui buồn một thuở, Người từng gặp, Thương nhớ mười baBạn văn”. Năm mươi chín câu chuyện là năm mươi chín mảnh ký ức sinh động bị cắt vụn của nhà văn về chính mình, về thời thơ ấu, người thân, bạn bè văn nghệ, về quê hương hay đơn giản chỉ là những miền đất anh đã đi qua, những người anh đã gặp... Rất đẹp, từng mẩu ký ức rời rạc ấy, khi thì nhang nhác truyện ngắn, lúc lại ra hồi ký, rồi giống như chân dung, hiểu là ghi chép hay tản mạn, tạp văn, tùy bút cũng được, “gói” vào nhau thật dễ chịu. Cũng bởi “vụn” nên ngắn và gọn. Nhà văn viết những cái riêng, cái tế nhị mà vô tư, hồn nhiên, không quan ngại, kiêng dè, bề bộn chất đời, chất nhân tình thế thái.


Đặc biệt, ngấm ngầm trong từng trang “Ký ức vụn” là một mưu toan lớn của tác giả: phá vỡ những “vùng cấm” trong văn chương Việt, thiết lập và khẳng định khát vọng tự do dân chủ trong sáng tạo, nhất là trong một xã hội hiện đại mà nền dân chủ còn nhiều cửa ngõ chưa thông như ở Việt Nam (!)


Từ “âm mưu” phá vỡ “vùng cấm” văn chương…


 


Nghệ thuật  “thô tục hóa” ngôn ngữ


Tập sách cuốn hút người đọc bởi thứ khẩu văn hóm hỉnh, bỗ bã của người Bình Trị Thiên. Vô hình chung, cái cách Nguyễn Quang Lập viết ngông, hành văn dân dã, đời thường, xưng “mình”, gọi “nó”, phương ngữ Quảng Bình “hè”, “ tề”, “chi”, “ni”, “nì”, “mô”, “rứa”, “ri”, “răng”, “mi”, “tui”, “mạ”, “mự”, “ mần”, “chớ”,  “ui chầu”, “răng”… dày đặc kết hợp các câu văn ngắn, không có lời thoại, tưởng không có chuyện mà lại có chuyện, nhiều màu nhiều vị: khi trong sáng, hồn nhiên, ngộ nghĩnh; khi lại hài hước, dung tục, khóc cười “hu hu”, “hi hi”, “ha ha”, “he he”…, văng tục “mịa”, “cụ chúng mày”, “bố mày”, “bố con cu mày”, “đ. mẹ”… đủ cả, lại là bước đột phá về cách hành ngôn nhắm thẳng tới mục đích phá vỡ tính thi pháp bó buộc của văn tự văn học, nhằm gây cười cho độc giả. “Vùng cấm” ngôn ngữ của văn chương bắt buộc phải mở lối cho ngôn ngữ đời thường dung tục đi vào. Ngay cái đặc danh Blog Bọ Lập” cũng được sử dụng như một địa hạt hợp pháp của tiêu chí bình dân hóa, dân chủ hóa, không quên tôn cao lòng tự tôn quê hương.


Nguyễn Quang Lập tin rằng:“Tục, nếu dùng đúng chỗ, sẽ được thanh hoá, làm câu văn của mình sáng lên, sinh động lên, gần gũi với cuộc sống… Tôi dùng từ tục khi không có từ thanh nào để thay thế”. Và ông đã làm tốt điều đó. Mỗi trang viết đậm đà chất “xứ bọ” làm người đọc thú vị, hả hê, cất tiếng cười khoái chí, thậm chí ngay sau đó có thể khóc, thương, giận hờn và nuối tiếc cái gì đó thật gần mà đã xa xôi, khó cắt nghĩa. Ngay cả khi viết về bi kịch đời người, Nguyễn Quang Lập cũng viết hài hước, khiêu khích. Nhà văn không độc đoán ở góc độ sử dụng ngôn ngữ hay xây dựng hình tượng sao cho khác người nhưng độc quyền ở mức độ đời thường hóa những chất liệu trào lộng tiếu lâm dân gian, cách kể chuyện khôi hài, cách nói phóng dụ và sắp đặt các chi tiết đời thực dưới cảm – nhãn quan tinh nhạy. Cách nói tục của nhà văn, xem ra cũng đã gợi lên trong người đọc những xúc cảm thẩm mỹ tích cực, những suy ngẫm sâu xa về cuộc đời hay triết lý về cái Đẹp đích thực.


Cách “hiện thực hóa” đời sống người bình dân


Tiếp cận “Ký ức vụn”, dễ thấy một loạt bài lấy khí phách tả chân để nói nhiều hơn chuyện thực về những con người có thực, hữu danh và vô danh, sang và hèn, những “anh cu”, “con, thằng” nhưng đầy cá tính, kiểu như “không đứa mô giống đứa mô” nấp dưới những cái tên “con ăn ruồi”, “thằng hai đầu gối”, “thằng sứt môi”, “thằng Thanh”, “thằng Á”, “chị Du”...hay chị diễn viên, một anh đánh dậm thời chiến, một bà cụ bán hàng nước, một anh chàng chuyên nghề liệm xác, một đứa trẻ dị hình hay một con chó tên Giôn. Tất thảy đều mang những ám hiệu của một số phận đặc biệt trong cuộc sống bi hài…Dòng ký ức chảy tràn trên trang giấy bông lơn nhưng sâu nặng vui buồn, như muốn sẻ chia, thương cảm với số phận không lành lặn của những người bạn, người dân quê chân lấm, hiền lành. Ký ức năm hào”, “Thằng sứt môi”,”Thằng hai đầu gối”… là những chuyện lấy nước mắt của độc giả và thức tỉnh lương tri trong họ.


Hiện thực xã hội đi đôi với việc xây dựng tính cách nhân vật đối lập nhau nghiệt ngã: có những đoạn xây dựng tính cách trẻ thơ với những trò chơi nghịch ngợm, vô tư, những kỷ niệm đẹp đẽ, hồn nhiên và kỷ niệm của tác giả nơi thị trấn Ba Đồn bé nhỏ hay làng Đông – vùng quê nơi gia đình anh sơ tán làm người đọc bâng khuâng tìm lại mình. Lại có những đoạn trực tả những thói hư tật xấu như tính đạo đức giả, sự giả dối của những thằng Thanh, thằng Tụy, thằng cu Hó, Bê cờ lê mê tê, ông Đề cương, …gây nhiều ngạc nhiên và tiếng cười hả hê thú vị. Thái độ khách quan của nhà văn về cái Xấu chứng tỏ cái Tâm sáng của một người cầm bút hiểu rõ về chân lý: “Không có gì thuộc về con người lại xa lạ với tôi”. Nguyễn Quang Lập miêu tả con người với đa chiều khuôn mặt, cả cái Xấu và cái Thiện, lúc ngợi ca thương cảm, khi phê phán giễu cợt với mục đích cao nhất là lên tiếng biện minh cho họ: ai cũng có cái xấu và cái tốt, có điểm mạnh và điểm yếu. Một lần nữa, những “vùng cấm” của bản chất người lại được khai phá. Ngòi bút châm biếm sắc sảo, phóng khoáng của nhà văn cứ mặc sức đả phá cái Xấu, cái Giả rồi cất lời tôn vinh cái Thiện, cái Thật quanh quất trong đời sống đâu đây.


Ngay cả cái cách mà nhà văn đề cập đến các vấn đề thời sự nóng hổi như sự thay da đổi thịt của làng quê Việt, sự lớn mạnh của quá trình đô thị hóa hay kể lại những tình huống trớ trêu như người dân lầm tưởng tác giả là nhà văn Ngô Tất Tố, sự ấu trĩ của anh em văn nghệ sỹ khi đua nhau uống nước tiểu để bồi bổ sức khỏe…Những nhầm lẫn văn hóa, hiểm họa sống còn của văn hóa làng xã trong thời buổi hội nhập và tính cả tin đồng loại, thói a dua, bảo thủ cộng đồng… là một trong những những vấn nạn, những  thói tật xấu của xã hội Việt. Những câu chuyện giản đơn của Nguyễn Quang Lập đem lại nhiều gợi ý mang tính thời sự cập nhật, nhắc chúng ta về hành vi và trách nhiệm. Tính nhân văn dân chủ rất cao ấy cho thấy một tầm nhìn khác, một nỗi trở trăn lớn nơi người cầm bút, chiêu dụ sự đối thoại cảm thông của nhiều thế hệ độc giả.


 


Lối “ bình dân hóa” hình tượng nghệ sỹ


Phần “Bạn văn” là chuỗi ký ức sâu xa của tác giả về những nhân vật đặc biệt: những người bạn, người anh, người chị, người đồng chí văn nghệ tài hoa một thời gắn bó với nhà văn trên khắp miền đất nước như Trần Dần, Bùi Giáng, Nguyễn Khải, Ngô Tất Tố, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Đăng Khoa, Hữu Thỉnh, Phùng Quán, Nguyễn Trọng Tạo, Hồng Ánh, Nguyễn Thanh Sơn…Dưới ngòi bút phóng túng tếu táo của nhà văn, chân dung của mỗi văn nghệ sỹ hiện lên hài hòa với đủ đầy ái ố hỉ nộ, điểm tốt, tật xấu, tài năng, số phận, nửa thật nửa đùa, kích thích trí tò mò của bạn đọc.


Cái dạn dĩ của Nguyễn Quang Lập là dám vi phạm “vùng cấm” về nhân vật trí thức tài năng, phá vỡ hình tượng toàn bích của giới văn nghệ sỹ bằng cách dựng lên những chân dung văn học rất bạo, rất nghịch, rất “người”. Cái ái ngại cho tác giả là cách viết thô, nghịch, phơi bày trần trụi chuyện riêng tư của mình, của anh em văn nghệ sỹ, không nề hà cả chuyện giường chiếu – một vấn đề tế nhị khó nói rất dễ chạm đến lòng tự ái của nhiều nhà văn đương thời được “chỉ tên điểm tật” rõ ràng, kể cả những nhà văn có hoàn cảnh nhang nhác giống như tác giả đề cập. Nào là chuyện Phạm Ngọc Tiến ngâm “dụng cụ sinh sản” vào nước nóng để chọn giờ lành đẻ con trai; nào là chuyện khôi hài về một liệu pháp chữa bệnh phản khoa học bằng nước tiểu mà ngay cả những người trí thức, đặc biệt anh em văn nghệ sỹ cũng tin và thực hành, sau cùng ai nấy ngẩn tò te đổ tội cho nhau…Đùa vui thân thương thế, vừa hạ thấp vừa tôn cao hình tượng nghệ sỹ nổi tiếng rất cần ở nhà văn một bản lĩnh văn hóa vững vàng. Điều lạ là sau mỗi trang viết, người đọc không cảm thấy khó chịu, trái lại còn thích thú khi nhận ra: hóa ra thần tượng của họ bấy lâu nay cũng là những con người giản dị, bình thường. Những chân dung văn nghệ sỹ nổi tiếng nước nhà đều trở nên thật hơn, gần hơn. Họ trở lại đời sống thật sau trí tưởng tượng hóm hỉnh của Nguyễn Quang Lập.


 


Cách tiếp cận xã hội và con người thể hiện ước mơ về một xã hội dân chủ đúng nghĩa


Nếu nói các tác phẩm của Nguyễn Quang Lập rất thật, ừ thì thật đấy, trần trụi đến mức thông tục đấy, mà nói nhà văn kể chuyện như bịa, ừ thì bịa giỏi chứ. Bằng chứng là từ những câu chuyện có thật, những nhân vật có thật, tác giả gia thêm hoặc bớt đi các chi tiết thật rồi xếp chúng theo trình tự lôgíc nào đó để có được một tác phẩm hoàn thiện. Thêm cái kết truyện đôi khi giật cục bắt độc giả muốn đọc và tự giải mã những nghi ngờ của họ. Từ trí thức đến người dân lam lũ quê mùa đọc xong cũng hiểu, cũng cười ngây ngất!


Cách tiếp cận xã hội xưa và nay với nhiều chiều kích, cách nhìn con người trong tính hai mặt của nó: phần sinh học và phần xã hội với nhiều hoàn cảnh - tầng lớp, nhiều số phận – thân phận giúp nhà văn có một thái độ công bằng, dân chủ. Ông tả chân một xã hội nhiều mặt với những con người nhiều mặt, dùng đối thoại và độc thoại nội tâm của các nhân vật, như một phương pháp thám hiểm vùng tiềm thức của con người. Người đọc tự chìm vào những suy tư của mình rồi làm một hệ quy chiếu để so sánh với tâm sự của tác giả, ít nhiều họ đã tìm thấy mình trong đó.


Trong sáng tạo, nói đến dân chủ, có nghĩa là đồng nhất được tự do cá nhân và yêu cầu xã hội. Văn chương xưa nay từ một sản phẩm của cá nhân để đi đến cái đích đại chúng. Nguyễn Quang Lập, với “Ký ức vụn”, đã làm sâu sắc điều này.


 


Nói “Chuyện giường chiếu”, phá vỡ “vùng cấm” văn chương đạo đức để đến gần mức “dân chủ hóa” công khai


Văn chương Việt ít dám nói về vấn đề tế nhị của con người là chuyện “sinh hoạt giường chiếu”, hoặc giả gần đây có nhiều tác phẩm dám nói nhưng vẫn ở mức độ nói giảm nói tránh. Nguyễn Quang Lập đi một đường khác: ông đánh động vào cái cấm kỵ đó bằng thứ ngôn ngữ thông tục, bỗ bã mà xưng tụng: “giường chiếu có văn hóa của giường chiếu”.


Thực vậy, tính dục (sexuality) là một hiện tượng văn hóa. Theo triết gia hiện đại nổi tiếng của nước Pháp  Michel Foucault: tính dục cũng là một nét cơ bản của “bản chất người” –thứ “bản chất người” mà theo ông, nên để ở dạng số nhiều, tức là phải đa chiều và phức tạp, dưới sự tạo tác của xã hội. Như thế, nhà văn khám phá “bản chất người” trong mỗi nhân vật phải vừa là cái tôi riêng (self) vừa là cái chung (common), vừa là cái tốt vừa là cái xấu, vừa là cái được chấp nhận và cái không được chấp nhận như một tất yếu trời sinh, chỉ có điều phần nào nên ít hơn, phần nào nên trội hơn. Dù ở khía cạnh nào thì tất cả đều phải được hợp thức hóa để phục vụ cho mục đích xây dựng những hình tượng chân thực tiêu biểu cho thời đại đó.


Văn học Việt xưa coi “chuyện giường chiếu” là cấm kỵ vì các diễn ngôn về tính dục thời đó được nhìn dưới góc độ đạo đức. Xã hội hiện đại dân chủ, diễn ngôn tính dục được nhìn nhận dưới góc độ khoa học, thông qua phân tâm học, là một bản năng tự nhiên và là một nhu cầu của con người. Cho nên, khi nói về “chuyện giường chiếu” của bản thân, của bạn bè, Nguyễn Quang Lập nói rất thô, thẳng, không giấu diếm, không né ai. Những danh từ rất tục chỉ bộ phận sinh dục nam như: “chim”, “cặc”, “dái”, “cái ấy” hay các từ chỉ khoản sinh hoạt giường chiếu như: “mần”, “make love” được nhà văn sử dụng rất hồn nhiên. Như thế, tác giả của “Ký ức vụn” đã mưu toan phá vỡ “vùng cấm” văn chương đạo đức để đến gần mức “dân chủ hóa” công khai, gần thứ văn học tự do của công chúng.


đến khát vọng dân chủ trong sáng tạo


Ăngghen đã nói: “Tự do là tất yếu được nhận thức”. Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ. Không ai được phép đặt ra các vùng cấm cho bất cứ ai. Khi sáng tác, nghệ sỹ phải chịu nhiều sức ép từ phía các lực lượng thống trị, từ phía công chúng và cuối cùng là sức ép từ chính bản thân người viết. Nghệ sỹ sáng tạo trên cái vốn hữu hạn của chính mình, cho nên: “Bất cứ người viết tài năng nào cũng đều chạm phải những bức tường. Họ không thể viết về tất cả những gì họ muốn, hoặc người đọc muốn. Nhà văn, hơn bao giờ hết, cần được hoàn toàn tự do trước trang viết của mình” (Êrenbua).


Từ âm mưu phá vỡ “vùng cấm” văn chương theo cách nhà văn thể hiện đã hợp thức hóa mối liên quan giữa tác giả và các hình tượng, chân dung văn học, giữa tác giả và độc giả, đương nhiên sau đó là các hình tượng, chân dung văn học và công chúng. Đó cũng là cách thể hiện đầy đủ nhất tinh thần và khát vọng dân chủ tự do trong sáng tạo của Nguyễn Quang Lập.


Những “hành vi” suồng sã quê mùa chất phác của nhà văn tuyệt nhiên không phải là một thứ văn dễ dãi từ một cái đầu hời hợt, ngược lại tự nó và nhờ nó đã chế nên thứ đặc sản văn chương ngon lành, tốn ít gia công mà lại nhiều dư vị: văn chương bình dân. Thứ văn nhất định là dành cho những người dân quê lam lũ cần nhiều hơn nữa tiếng cười, nghe có vẻ không mấy hợp với văn chương đô thị song lại có sức cuốn hút nhiều giới, nhiều đối tượng, dù ở hình thức văn học mạng hay viết. Sự xuất hiện ngang tàng của thứ văn nghịch ngợm này đã hoán đổi vai trò của người cầm bút với người phát ngôn đòi quyền dân chủ trong sáng tạo, làm đã cơn khát của một xu thế văn học thành thị hoa mỹ chạy đua sex đang ngày một xa rời quần chúng nhân dân.


Mang tinh thần nhân văn dân chủ, Nguyễn Quang Lập bạo dạn “viết bất kỳ chuyện gì chợt nhớ, chợt thấy, chợt ngẫm ra…”. Không viết hằn học gai góc, cứ mình mình ta ta, tự mình bảo kê cho lý lẽ của mình, thận trọng điểm ra những mặt khuất của đời người, phận văn chương và tình người, lẽ đời, dứt khoát đi ra ngoài quỹ đạo của lối văn xưng tụng, mềm rớt, văn Nguyễn Quang Lập là một thứ “của lạ”. Hồn nhiên mà thâm hậu, viết vu vơ mà đầy chất sống, “Ký ức vụn” tưởng chỉ đọc cho vui để cười nhưng rồi lại khóc, lại bâng khuâng, nhớ thương, tiếc nuối ngay được. Hơi thở dài tiếc nuối xót xa của tác giả kéo dài sau những câu văn ngắn trơ ngắn trọi, những câu văn gấp, những câu chuyện kết thúc vội vàng bi ai sau tiếng cười khôi hài như muốn khiêu khích lòng tin của độc giả. Thứ văn chất phác thật thà chạm được mạch tâm cảm của nhiều người, dù là trong cuộc hay ngoài cuộc. Không thể đo lường tính toán được hết những cung bậc xúc cảm trong thế giới ngầm do ký ức vụn gây ra, song mỗi câu chuyện đã đánh thức phần trắc ẩn thiêng liêng trong mỗi chúng ta. Những câu chuyện về nhiều người, giữa nhiều người một thời có thể sẽ có duyên trở thành những tư liệu có giá trị sống chân thật và đầy nhân văn. Cũng cần nhận ra rằng: cách nói tục xen nhiều phương ngữ đôi khi bị lạm dụng, làm cho tính thẩm mỹ của câu văn bị giảm sút.


Cách “đi bằng hai chân trên mặt đất với tất cả sắc thái đa chiều cuộc sống”như thế dễ gần đời, gần dân, mà như vậy thì việc thực thi dân chủ hiệu quả hơn nhiều. Hay như cách sử dụng văn học mạng qua Blog để văn mình đến với quảng đại công chúng, đến mà không dễ đi, mọi người tự do bình luận phát biểu ý kiến (comment) cũng là cách dân chủ hóa văn học tích cực của Nguyễn Quang Lập. Đằng sau mỗi trang văn thông minh và phóng túng, Nguyễn Quang Lập ngậm ngùi che giấu một niềm tin yêu con người, nỗi ưu tư thời thế đầy bất trắc.


Có lẽ điều quan trọng và thiết thân nhất với mỗi người nghệ sĩ là hãy luôn luôn khảo cứu ngay chính bản thân mình để hiểu mình rõ hơn, biết cách nói ra những điều mình muốn nói, để có tác phẩm đạt đến tính Chân. Hãy trình diện cho người đọc xem hết các phương diện tinh thần của mình để có được sự đồng cảm, góp phần làm phong phú đời sống, để đạt tới tính Mĩ. Cái tâm sáng với cái tài cao sẽ đưa tác phẩm vượt qua mọi rào cản để đạt được tính Thiện. Hình thức tuỳ theo tác giả chọn, quan trọng là nội dung phải có những xung đột bên trong. Điều quan trọng là người viết phải đứng  trên tác phẩm của mình, nhìn cho được cái tổng thể. Người kể chuyện phải hiểu tác phẩm của mình, biết tác động của nó đến với độc giả, xã hội. Và dĩ nhiên, nhà văn phải công bằng và tác phẩm phải mang tính nhân văn. Từ việc nhân danh một quan điểm thẩm mỹ, qua tác phẩm của mình, người nghệ sỹ bày tỏ một thái độ thẩm mỹ. Thái độ ấy thực chất bao gồm hai khía cạnh chính: tuyên dương và tuyên chiến. Sáng tạo, khi thử nghiệm một cái gì mới, cũng là một cách tuyên chiến với những cái cũ, cái khuôn thước, gò ép. Có thể nói sáng tạo, tự bản chất, là những sự tuyên chiến”.


 


Như thế, cùng với vùng ký ức đang dang dở về đời văn Bọ Lập, hy vọng từ những mảnh ký ức vụn vặt ý nghĩa trong “Ký ức vụn” lần này sẽ góp phần hoàn thiện một chân dung nhà văn xứ Quảng tài hoa. Rõ ràng, với “Ký ức vụn”, Nguyễn Quang Lập đã chọn cho mình một lối đi riêng. Lối viết ấy có thể khiến nhiều người thích, và đương nhiên cũng sẽ có những người “dị ứng”. Nhưng văn chương, xét tới cùng là cuộc chơi của mỗi cá tính. Trong “cuộc chơi liều” ấy, tự do là một “thiết chế” của sáng tạo. Chỉ có tự do sáng tạo mới đem lại quyền dân chủ cho người sáng tác và người tiếp nhận, phát huy tối cao quyền tự do cá nhân. Có những điều lớn lao không bao giờ nói hết một điều bé nhỏ. Ngược lại, những cái tầm thường vụn vặt, nhiều khi, lại nên chuyện!  “Ký ức vụn” nằm trong số đó.


 


 


Hà Nội, 13/09/2009


 


 Lê Ngọc Thụy Nguyên


------------------------------------------------------------------------------------


(*)  Bản chưa rút gọn.