Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011

Nhớ Hoàng Ngọc Hiến

  Gần tết mình bay ra Hà Nội, vừa rời máy bay, bật mobile đã thấy 8, 9 tin nhắn  báo tin: Thầy Hoàng Ngọc Hiến đã mất lúc 23h ngày 24.1.2011″. Tất cả các tin nhắn đều là các nhà văn, có người học với anh, có người không học với anh một giờ nào như Phạm Xuân Nguyên cũng gọi anh bằng thầy. Mình cũng vậy, chưa được học với anh một giờ nào nhưng mình luôn coi anh là thầy, như mình đã từng  coi Hoàng Phủ Ngọc Tường là thầy vậy.


            Thực ra mình đã bỏ qua nhiều cơ hội để được học với Hoàng Ngọc Hiến ở Trường viết văn Nguyễn Du. Khoá I thì không dám mơ vì không thể đấu lại với các nhà văn “ đại ca” lớp trước, toàn là những tài năng văn chương thời chống Mỹ. Khi đó mình còn nhỏ, mới võ vẽ làm thơ chẳng có tiếng tăm gì, chỉ dám nép cửa sổ nghe anh giảng. Các khóa sau hoàn toàn có thể thi đỗ vào Trường nhưng khi thì bận đi lính, khi thì bị tai nạn giao thông, khi thì vừa mới vào làm công sở không dám xin đi học, thành ra lỡ mất các dịp Nhà trường tuyển sinh. Năm 89, 90 chi đó anh Phạm Vĩnh Cư và Tạ Duy Anh về Quảng Trị vào nhà mình “dụ dỗ” mình đi học. Anh Cư còn nói tụi mình đang muốn cậu làm lớp trưởng khoá tới. Hi hi. Nhưng khi đó hai đứa con còn nhỏ quá, vợ thì không có việc làm nên mình đành chịu. Bây giờ nghĩ lại cứ tiếc mãi.


            Cho nên mình chỉ được nghe lóm anh Hiến dạy thôi. Hồi đó mình học Bách Khoa, hôm nào có tiết hay thầy giỏi thì chị Dạ ( Lâm Thị Mỹ Dạ) lại nhắn lên Trường để mình đứng nghe lóm. Mình đã đứng sau cửa sổ nghe lóm rất nhiều giờ. Cái trò nghe lóm như ăn vụng vậy, rất thích. Nghe đến đâu thấm đến đó. Lần đầu tiên mình biết  S.Freud là ai, thuyết phân tâm học là gì. Chưa bao giờ mình nghe ai nói về phân tâm học của  S. Freud  dễ hiểu và hấp dẫn như Hoàng Ngọc Hiến. Chỉ một giờ đứng nghe lóm thôi mà mình sáng ra biết bao điều. Sau này mò sách về phân tâm học, toàn sách của miền Nam in, đọc thấy rối mù chẳng hiểu gì cả, phải nhờ anh Tường ( Hoàng Phủ Ngọc Tường) giảng mãi mới hiểu.


            Hồi đó nhìn thấy anh Hiến thì sợ lắm, chỉ dám đứng xa xa nhìn, không dám đến gần. Mãi đến cuối năm 1985 mới được ngồi trò chuyện với anh. Hôm đó anh Tường ngồi nhậu với anh ở quán rượu nhỏ gần Trường, khi mình đến thì hai anh đã nhậu lâu lắm rồi. Anh Tường cứ rượu vào là nói lia xia, anh Hiến tay gắp thức ăn miệng nói đúng đúng đúng. Anh Tường nói gì anh cũng đúng đúng đúng, tuồng như anh không quan tâm đến anh Tường nói gì, chỉ say sưa gắp gắp gắp đúng đúng. Rất vui.


            Anh Tường vỗ vai mình giới thiệu với anh Hiến, nói đây là Nguyễn Quang Lập. Anh ngước lên mở to mắt nhìn mình, nói a thế à. Tưởng như mọi đàn anh khác khi mới gặp mình, thể nào anh cũng nói tớ đọc của cậu rồi, được lắm. Hoá ra không. Anh lại cúi mặt gắp gắp gắp đúng đúng đúng với anh Tường. Mình hơi bị thất vọng, nghĩ bụng anh “ A thế à” vậy thôi chứ chẳng đọc của mình chữ nào. Mãi khi đĩa mồi sạch bách, anh thong thả lấy giấy lau miệng, nói này cậu, cái Tiếng lục lạc là một chuẩn truyện ngắn đấy. Nhưng sao lại có chức danh trợ tá? Tôi hỏi mấy ông bác sĩ rồi, họ nói ở bệnh viện chẳng có chức danh nào là trợ tá cả. Mình thú thật, nói đó là y tá giúp việc cho bác sĩ, nhưng viết thế dài dòng quá nên em gọi bừa là trợ tá. Anh lại mở to mắt nhìn mình, nói a thế à. Nhưng mà từ chuyên ngành của người ta thì mình không nên bịa, có bịa cũng phải chú thích.


            Chỉ chừng đó thôi mình đã hãi anh. Đọc thấy một từ lạ thì đi tra, tra không được thì đi hỏi đấy là bài học đầu tiên mình học từ anh. Sau này quen anh rồi, nhiều lần ngồi nói chuyện cùng anh mới thấy bệnh qua loa đại khái, thói giấu dốt của mình thật đáng xấu hổ. Anh nói tu bổ kiến văn như ăn cơm vậy. Nếu mắc xương thì lo khạc ra rồi mới ăn, cứ để đấy ăn liều thì chẳng những bữa cơm không ngon mà chẳng tác dụng gì, vì mình không ăn mà  nuốt sống. Nếu không biết điều gì là anh hỏi ngay, hỏi cả những người thua anh cả chục bậc về đẳng cấp chẳng hề sợ người ta chê mình dốt. Có lần nghe anh hỏi một người anh đã chê dốt trong một bài phỏng vấn nổi tiếng. Mình quá ngạc nhiên, nói anh chê nó dốt kia mà? Anh nói thì nó dốt thật chứ sao, nhưng cái điều này nó biết mà mình không biết thì mình hỏi, có gì đâu. Anh hỏi và a thế a đầy ngơ ngác, rồi đúng đúng đúng đầy sảng khoái, cứ như anh vừa lạc vào một thế giới văn minh nào đó.


            Nhưng chớ có nghe anh a thế à, đúng đúng đúng mà tưởng bở. Có lần mình ngồi nói chuyện với anh, hình như nói về cái Văn học phải đạo của anh thì phải. Mình nói lia xia, anh mắt mở đầu gật, hết a thế  à lại đúng đúng đúng. Mình sướng lỗ rốn nói càng bốc. Đến khi anh nói lại thì hoá ra hầu hết ý kiến của mình hoặc rất ấu trĩ hoặc sai bét. Anh cứ a thế à vậy thôi nhưng khi anh đưa ra ý kiến của mình thì bao giờ cũng có một cái gì đó rất độc đáo, bất luận vấn đề gì.


 Nói chuyện a thế à, đúng đúng đúng của anh, có lần mình nghe chị Nga, vợ anh, kể mới vui. Thời anh chị mới cưới nhau, nửa đêm không thấy anh lên giường, cứ đi lại lầm bẩm mãi một điều gì đó. Sốt ruột, chị nói khuya rồi, không đi ngủ cứ đi đi lại chóng cả mặt. Anh quay lại cúi xuống mở to mắt nhìn chị, nói a thế à, đúng đúng đúng. Xong rồi anh lại vẫn đi lại lẩm bẩm, không chịu lên giường. Điên tiết, chị vùng dậy dài giọng dẩu môi, nói a thế à, đúng đúng đúng. Anh lại quay lại cúi xuống mở to mắt nhìn chị, nói a thế à, đúng đúng đúng. Hi hi. Viết đến đây nhớ chuyện anh Mạnh ( Nguyễn Đăng Mạnh) kể một hôm anh đến chơi nhà thấy vợ chồng anh cãi nhau chuyện gì đó. Chị Nga đang mắng anh Hiến, nói ngu lắm. Anh Hiến mở to mắt nhìn chị, nói a thế à. Chị Nga nhảy chồm chồm chồm, nói ngu lắm lắm ngu lắm. Anh Hiến gật gù, nói đúng đúng đúng. Chị Nga lườm cái, dẩu môi dài giọng nói a thế à, đúng đúng đúng, ngu ngu ngu, rồi bỏ đi. Anh Hiến kéo tay anh Mạnh mặt mày nghiêm trọng, nói này, ông thấy không, vợ chửi mình ngu cũng giống như mình chửi Đế quốc Mỹ ngu ấy mà, đúng không.


Chị Nga rất yêu anh Hiến, tính chị xồn xồn, động chuyện gì là nói ngay không nhịn được, bất kể khi đó có khách hay không. Chị vẫn hay mắng anh ngu vì những niềm tin quá ngây thơ của anh.  Mình cũng rất ngạc nhiên là một người trí lự phi thường, tư duy thậm logic lại thiên kinh vạn quyển như anh đôi khi lại tin vào mấy thứ tào lao, ai cũng thấy phi lý, chỉ có anh là không.


Một dạo mình bị đại tràng, đau bụng rất khó chịu. Anh biết tin gọi điện cho mình nói có một loại thuốc hay lắm, rất thần kì, để tôi gửi cho cậu. Cậu phải uống ngay, uống thật đều thế nào cũng lành. Anh nói say sưa cả giờ về thứ thần dược này. Đã quá quen với mấy món ‘thần dược” mà lâu lâu anh lại giới thiệu cho mình, mình dạ dạ cho qua chuyện. Anh cho người mang xuống Linh Đàm cho mình một gói thuốc bột kèm theo một tài liệu giới thiệu loại thuốc này, toàn là những quảng cáo tào lao xịt bộp. Đại loại tổng thống nước này ung thư di căn uống ba liều thì khỏi, nhà sư ngã gãy lưng vừa uống thuốc này vừa hoà thuốc với nước chanh bóp ba tháng thì lành… y chang tài liệu Niệu liệu pháp mình đã đọc ngày xưa. Mình gọi điện cho anh, nói anh ơi tài liệu tào lao thế mà anh cũng tin à. Anh lặng đi vài giây, nói à thế a.  Lại lặng đi vài giây, nói nhưng tài liệu này là chuẩn của nó đấy. Rồi ngày nào cũng gọi điện hỏi, nói uống chưa, uống đi. Mình đem gói thuốc sang cho ông dược sĩ hàng xóm. Ông ngửi ngửi nếm nếm rồi cười phì, nói men tiêu hoá thôi mà, có gì đâu. Mình gọi điện cho cho anh, chưa kịp nói anh đã rối rít nói ngay, nói tôi biết rồi, tôi biết rồi, đang định gọi điện cho cậu đây. Mình cười khì khì, nói ôi anh Hiến ơi là anh Hiến. Anh cũng cười khì khì, nói a thế à.


Tại đám tang đưa tiễn anh về trời, sau điếu văn của anh Hữu Thỉnh, người em của anh Hiến lên nói lời cảm tạ. Ông nói nhiều về anh Hiến, trong đó có câu: Anh Hiến của tôi vừa là một nhà giáo chuẩn mực vừa là đứa bé ngây thơ giữa cuộc đời. Khi ông nói đến câu này tự nhiên mình bật khóc.

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

MỘT NGƯỜI KỂ CHUYỆN LỊCH SỬ ĐÃ RA ĐI

LÊ PHƯƠNG LIÊN

Rét dài ngày quá khiến nhiều cụ đã phải từ giã cõi trần. Nhà tang lễ Bộ quốc phòng chỉ cho viếng một tiếng, để dành phần viếng cho người khác. Mà hình như nhà tang lễ nào ở Hà Nội mùa này cũng vậy cả. Trong hai ngày tui đã đưa tiễn ba bậc đàn anh kính mến về cõi tiên, đó là gs Hoàng Ngọc Hiến, bác Trương Đình Bảng, nguyên là giám đốc nxb Kim Đồng và anh Hà Ân nhà văn chuyên về đề tài lịch sử hiếm hoi của nước nhà.

Với Hà Ân, tui và anh em nxb Kim Đồng có rất nhiều kỉ niệm, vì anh là cộng tác viên thân thiết của nxb Kim Đồng nửa thế kỉ qua. Anh còn là nhà tử vi nổi tiếng, mỗi anh em nxb Kim Đồng và gia đình đều có lá số tử vi do anh lập. Cứ đụng việc gì lại nhờ anh xem cho. Tui cũng vậy, chẳng những nhờ anh lập lá tử vi cho vợ con, tui còn nhờ an lập cho một số bạn bè thân thiết. Trước khi đi Sài Gòn tui còn gọi điện hỏi anh và được anh khuyên, nói đi đi em, tốt lắm tốt lắm. Giờ anh đi xa chẳng biết hỏi ai nữa.

Tui chưa kịp có bài về anh, xin đăng lại bài của nhà văn Lê Phương Liên, chị làm cùng phòng văn học với tui ở nxb Kim Đồng.

Vào một ngày giáp tết Tân Mão (2011) ,nhận được tin buồn,nhà văn Hà Ân đã từ trần, tôi không khỏi cảm thấy bàng hoàng.Vẫn biết là ông ốm nặng đã lâu, Tết Canh Dần vừa qua, chịem biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng đến thăm ông, đã thấy ông đeo khăn mùi soa ở cổ như yếm dãi, đi đứng phải có người dìu, biết là ông đã yếu lắm. Trông thấy chúng tôi đến chơi, ông hỏi ngay : “Sách ra rồi à?”. Ôi tấm lòng người viết, khát vọng lớn nhất là thấy cuồn sách ,đứa con tinh thần của mình đã được hiển hiện tay người đọc.Niềm đam mê đó có lẽ đến lúc nhắm mắt , xuôi tay vẫn còn nguyên vẹn. Còn nhớ ông, trong những năm tháng thập niên 60, 70, 80 thế kỷ trước, ông là cây bút kể chuyện lịch sử “tả xung hữu đột” khắp trên các trangsách của Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Giáo Dục, báo Thiếu niên tiền phong, báo Nhi Đồng… Nhà văn Hà Ân là một người một trong những tác giả hiếm trong làng văn nước nhà, bởi viết cho thiếu nhi đã là số ít, viết truyện lịch sử cho thiếu nhi lại càng ít hơn. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã từng có bài viết về ông với những nhận xét: “…anh đúng là nhà văn của các em, người kẻ chuyện lịch sử hào hứng và thú vị của tuổi trẻ.Mà làm cho các em ham thích lâu bền đâu phải dễ.Phải có vốn lịch sử chắc chắn và biết làm cho vốn ấy sống dậy. Điều tâm huyết: Phải có sự chân tình.Khác với bạn đọc lớn tuổi, các em nhỏ không phân biệt “thật”, “giả” trong những điều nhà văn hư cấu, nhưng lại rất nhạy cảm với sự “thật”, “giả” trong chính tấm lòng nhà văn…


Người đọc nhớ đến Ông là nhớ đến những cuốn tiểu thuyết lịch sử hào hùng, Truyện Quận He, Truyện ông Đội Cấn…nhưng tiêu biểu hơn cả chính là bộ ba truyện lịch sử Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch và Trăng nước Chương Dương viết về thời nhà Trần.Với cách nghĩ viết cho thiếu nhi thời ấy, ông thiên về tôn vinh những nhân cách sáng ngời, anh hùng, thánh thiện nhưng vẫn rất đời thường, rất con người.Viết về Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuần, ông đã tả những trang văn vừa hào hoa vừa sâu sắc về sự dằn vặt chữ Trung và chữ Hiếu trong lòng vị đại tướng của ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân Nguyên.Viết về Trần Bình Trọng với trận đánh quyết tử bên bờ Thiên Mạc, tấm lòng người chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô năm xưa chắc đã bừng bừng hào khí Thăng Long. Không chỉ viết được về chất anh hùng, ông là người đã tả được vẻ thanh lịch văn võ song toàn trong những nhân vật các ông hoàng các vị tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,các vị vua Trần Thánh Tông,Trần Nhân Tông…Bầu không khí quân dân trên dưới đồng lòng của thời nhà Trần đã được nhà văn làm “sống dậy”(chữ của giáo sư Nguyễn Huệ Chi) trong những trang văn mà chắc nhiều năm sau sẽ còn để người đời thưởng thức.


Nhà văn Hà Ân còn là ngừoi có tài viết truyện ngắn lịch sử, truyện Yết Kiêu , Dã Tượng, truyện Vụ án trầu cánh phượng, rồi Cái chum vàng… của ông đều là những truyện thú vị cho trẻ nhỏ …


Đến lúc tuổi đã cao, ông lại là người biết mình, ông rất vui mừng với thành công của tác giả Nghiêm Đa Văn, một người trẻ tuổi viết phóng khoáng hơn với tiểu thuyết Sừng rượu thề (viết về Lý Thường Kiệt ). Lúc gần 80 tuổi ông còn động viên dìu dắt tác giả trẻ Lưu Sơn Minh đi vào con đường viết truyện lịch sử. Những năm tháng tuổi già dường như ông đã sống để chia sẻ niềm vui với lớp trẻ. Vào những năm tháng NXB Kim Đồng ra sách định kỳ, sáng thứ sáu nào, ông cũng đi bộ từ nhà riêng (gần chợ Hàng Da) đi qua hồ Hoàn Kiếm rồi đến NXB Kim Đồng (ở phía nam khu phổ cổ Hà Nội),một đoạn đường không ngắn với tuổi già. Thế mà thứ sáu nào ông cũng đến để chia vui với những cuốn sách mới xuất xưởng, để chăm chỉ đọc Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh hết tập này sang tập khác như mọi thiếu nhi thời nay. Thế mới biết tình yêu văn học thiếu nhi là tình cảm đam mê suốt đời của những ai đã bước vào con đường đáng yêu đó.


Còn nhớ những năm tháng chiến tranh gian khổ, ông đã cùng các bạn hữu ở Hà Nội lập ra tạp chí Ngựa Gióng dành cho trẻ em.Nhưng tiếc thay, tờ tạp chí mang nét văn hóa Thăng Long dành cho trẻ nhỏ ấy chỉ sống được hơn một thập niên…Suốt mấy chục năm cuối đời ông là người lẻ bóng nhưng tình cảm gia đình thủy chung đã khiến ông rất gần với đạo Phật.


Không biết rằng lúc ra đi ông có tiếc nuối điều gì chăng, chỉ biết rằng ông đã yên tâm với tất cả những gì mình để lại trên trang sách.


Giáp tết Tân Mão


LPL

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Hoàng Ngọc Hiến, bạn tôi

NGUYỄN ĐĂNG MẠNH


" Thầy Hoàng Ngọc Hiến đã mất lúc 23h ngày 24.1.2011" Từ nửa đêm qua cho đến sáng hôm nay tôi nhận được rất nhiều tin nhắn như vậy từ những người đã học với ông và những người chưa từng học với ông một giờ nào, cho thấy hầu hết anh em nhà văn thế hệ sau ông đều coi ông như người thầy," một nhà sư phạm đúng nghĩa, một kho tri thức".


Tôi cũng vậy, dù không được học ông một giờ nào, nhưng cũng như với Hoàng Phủ Ngọc Tường, với ông tôi cũng luôn coi là người thầy. Cứ một lần ngồi với ông bao giờ tôi cũng học khôn từ ông một điều gì đó. Giờ ông đã về trời, văn hoá Việt từ nay có một khoảng trống lớn không có gì và không ai có thể bù đắp nổi. Tôi định viết về ông đôi dòng, nhưng suốt đêm qua ngồi thừ không sao viết được. Có lẽ vì tôi không xứng là bạn ông, ngay cả học trò của ông cũng không xứng. Người viết về ông hay nhất, đúng nhất chắc chắn đó là Nguyễn Đăng Mạnh, người bạn chí thiết của ông, cũng là một nhà văn hoá đáng nể. Vì thế tôi post lên những gì Nguyễn Đăng Mạnh viết vể ông, như một nén hương thành kính, cầu cho ông được bình an nơi chín suối.


Sau đây là bài viết của bác Nguyễn Đăng Mạnh:


 Hoàng Ngọc Hiến là một trong hai người bạn đồng tuế thân nhất của tôi (người thứ hai là Phạm Luận, cán bộ giảng dạy ở Đại học Việt Bắc). Có thể gọi là tri âm tri kỉ, hiểu nhau từ cái hay đến cái dở, chỗ mạnh và chỗ yếu, hoàn toàn tin cậy nhau, luôn quan tâm bảo vệ nhau.


Tôi với Hoàng Ngọc Hiến như có duyên trời xe kết vậy.


Anh ở tận Nghệ Tĩnh, tôi ở Việt Bắc. Thế mà tình cờ gặp nhau. Tôi cùng gia đình tản cư từ Bắc Ninh lên Thái Nguyên hồi kháng chiến chống Pháp, anh thì chạy cải cách ruộng đất cũng vọt lên đấy. Anh có một người học trò tên là Lới, trong đoàn uỷ cải cách ruộng đất, báo cho biết phải chạy ngay lên Việt Bắc vì lý lịch xấu, có thể nguy. Và anh ta lấy quyền đoàn uỷ viên giải quyết ngay cho Hiến (Trong cải cách, bố Hoàng Ngọc Hiến bị quy địa chủ và bị tù). Lên Thái Nguyên, anh dạy văn ở trường Lương Ngọc Quyến. Còn tôi lúc đó là cán bộ Sở giáo dục Việt Bắc thường đến Lương Ngọc Quyến là trường trọng điểm của Sở, để kiểm tra, theo dõi về chuyên môn.


Dạy ở Lương Ngọc Quyến ít lâu, anh được gọi về trường Đại học Hà Nội. Thầy Nguyễn lương Ngọc cho Hiến có hiểu biết về triết học, bố trí làm trợ lý cho Trần ĐứcThảo. TRần Đức Thảo thấy Hiến là đảng viên, không nhận. Vì thế Hiến phải chuyển sang làm trợ lý cho Hoàng Xuân Nhị dạy văn học Nga Xô viết.


Từ Đại học Sư phạm Hà Nội, Hiến được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Tôi thì chả đi đâu cả, chỉ quanh quẩn ở trong nước. Nhưng rồi tình cờ tôi và Hiến lại gặp nhau ở Đại học Sư phạm Vinh. Tôi thì bị điều từ Hà Nội vào. Hiến lẽ ra được ở Hà Nội, vì Đại học Hà Nội cử đi học, nay đỗ phó Tiến sĩ trở về, phải được ở Hà Nội. Nhưng Đỗ Đức Uyên bí thư đảng uỷ và Hoàng Dung bí thư liên chi cho Hiến mắc chủ nghĩa xét lại Khrútxốp, không nhận lại nữa, tống anh vào Vinh.


Từ Vinh, tôi được chuyển ra Hà Nội trước. Hiến ra sau. Nhưng rồi lại gặp nhau ở trường Viết văn Nguyễn Du. Anh phụ trách trường này, còn tôi được mời đến dạy. Rồi nhờ có Phan Ngọc Thu, một học trò cũ của tôi, lúc đầu ở Đại học Sư phạm Huế, sau ở Đại học Đà Nẵng, tổ chức đào tạo giáo viên cấp II lên trình độ đại học và bồi dưỡng giáo viên chuyên văn, thường mời tôi và Hiến vào giúp. Thế là lại gặp nhau luôn, khi ở Huế, khi ở Đà Nẵng, khi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tôi thích đi, Hiến cũng thế. Tôi là thằng ham chơi, vui đâu chầu đấy, Hiến cũng vậy, cứ ới là đi, để tán chuyện, để đánh chén. Ngoài ra tôi hay mời anh đến làm phản biện cho nghiên cứu sinh của mình. Mời là anh đến ngay...


Tuy nhiên tôi và Hiến có những chỗ không giống nhau. Anh dạy văn học nước ngoài, thích lý luận, thiên về tư duy trừu tượng, say mê triết học Đông Tây. Tôi chỉ dạy văn học Việt Nam và thiên về nghiên cứu văn học sử và phêbình văn học. Hiến rất thích nhận xét khái quát, đúc thành những mệnh đề chắc nịch, tuy có phần cực đoan, chẳng hạn:


- Đặc điểm người Nghệ Tĩnh: "Cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc."


- Phân loại cán bộ giảng dạy đại học: "Có hai loại động vật và thực vật. Loại động vật, suốt ngày lăng xăng, chạy từ đề tài này sang đề tài khác, không nghiên cứu được cái gì nên hồn, dù thông minh, cũng chỉ có những ý kiến loe loé thế thôi, chẳng làm nên sự nghiệp gì. Loại thực vật, ngồi yên kiên trì suy nghĩ, như cái cây cắm rễ xuống đất thật sâu, có thế mới làm khoa học được."


- ý kiến sinh viên nhận xét thầy: "Nói chung chê thì đúng, khen thì thường sai..."


Hiến cái gì cũng muốn giải thích, cũng tìm quy luật. Thí dụ: Anh nói: " Lê Hoài Nam nếu cao hơn 5 phân, số phận khác hẳn". Lê Hoài Nam là chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, sau là bí thư đảng uỷ trường và Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Anh người thấp lùn, hơi dị dạng. Hiến cho rằng vì đặc điểm cơ thể như vậy nên Lê Hoài Nam rất ngại xuất hiện ở chỗ đông người, nơi thành phố lớn, nên cứ lùi dần, lùi dần vào nơi hẻo lánh: Vinh, rồi Quy Nhơn.


Có lần tôi nhận xét, các danh nhân thế giới thường là người ở các tỉnh nhỏ, nhưng về Thủ đô thì thành danh nhân. Danh nhân người gốc ở Thủ đô rất ít. Như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh, như Marx, Tolstoi, Lomonosov, Napoléon... Hiến giải thích luôn: "Vì ở Thủ đô lắm cái hấp dẫn làm cho con người ở đây phung phí hết tinh lực, Người các địa phương tinh lực không mất, về Thủ đô được phát huy lên".


Vì sao Hồ Chí minh chết đúng vào ngày Tuyên ngôn độc lập 2.9? Hiến giải thích: "Vì ông cố tình chết vào ngày ấy. Ông Hồ là đáo để lắm. Chỉ cần dứt đứt các giây dợ ở ống thở ôxy là chết chứ gì".


Hiến thường có những nhận xét rất gọn và rất ác về người này người khác trong giới đại học. Hồi ở Đại học Sư phạm Vinh, tôi với Hiến thường đạp xe đi về cùng đường với nhau (Hà Nội - Vinh hay Hà Nội - Thanh Hoá) dọc đường, thường "luận anh hùng" trong thiên hạ. Thường tôi hỏi, Hiến trả lời. Thí dụ:


- NĐN (một giáo sư tiến sĩ được đánh giá rất cao ở Đại học Sư phạm Hà Nội) chỉ là một giáo viên cấp III giỏi.


- Không nên đánh giá ĐVK (giáo sư tiến sĩ của Đại học tổng hợp Hà Nội) là giỏi hay dốt. Anh ta là người không có trí khôn.


- HL (cán bộ dạy sử của Đại học Sư phạm Vinh) kết tinh mọi cặn bã của dân Nghệ Tĩnh.


- Có một giáo sư văn học, trước khi dự lớp, anh đánh giá là một con sư tử (về chuyên môn, khoa học), khi dự lớp về, anh nói: chỉ là một giáo viên phổ thông.


- Một vị giáo sư văn học khác, anh cho chẳng hiểu văn là gì cả.


- Anh nhận xét ĐT, một cây bút phê bình khá tài hoa ở hải ngoại, chỉ là một ông chánh tổng Annam ở Paris.


- PTL (giáo sư trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Hiến nói: "Một điều nhục nhã của mình là đồng hương với PTL. Thậm chí chỉ quen biết PTL thôi cũng đã là một sai lầm, một sai lầm không thể sửa chữa được".


Hiến có những nhận xét rất cảm tính, nghĩa là chưa có căn cứ đầy đủ. Nhưng anh rất tin ở trực cảm của mình.


Trường Đại học Sư phạm Vinh có chủ trương cán bộ giảng dạy phải theo sát thực tế phổ thông. Ai đã đi hướng dẫn thực tập sư phạm thì không nói làm gì, những những người không hướng dẫn thực tập cũng phải về ở một đoàn thực tập nào đấy khoảng một tuần lễ, gọi là tham quan thực tập. Hiến cũng phải về một đoàn, anh chọn một đoàn ở gần chỗ khoa Văn sơ tán, do LBH phụ trách. Đêm ấy, LBH và Hiến cùng ngủ trong một căn phòng kê hai cái giường song song. LBH hỏi Hiến một cách trịnh trọng: "Anh là người sâu sắc, từ ngày anh về trường này, anh nhận xét tôi là người thế nào?". Hiến trả lời luôn: "Cậu là người thiếu nhân cách". LBH ắng đi một lúc vì nhận xét quá bất ngờ của Hiến. Nhưng rồi gặng hỏi Hiến: "Anh cho dẫn chứng?". Hiến bí không tìm ra dẫn chứng. Mãi sau cũng cố đưa ra một ví dụ: "Chẳng hạn, cậu không biết tiếng Pháp mà cứ làm như biết".


Trong quan hệ hàng ngày với tập thể cán bộ, sinh viên, Hiến rất hồn nhiên, chân thật, dễ tính, nên được anh em mến. Nhưng hình như anh có máu phiến loạn, thích gây sự với lãnh đạo. Hồi những năm 60 của thế kỷ trước, tôi nhớ Phạm Văn Đồng có viết một bài về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bài ấy, người khác có thể coi là thường, không hay hoặc chưa đúng chỗ này chỗ khác. Nhưng Hoàng ngọc Hiến thì phải nói: "Phạm Văn Đồng viết bài ấy là thiếu văn hoá". Ở Đại học Sư phạm Vinh, Hiến bị lãnh đạo quy tội thiếu quan điểm giáo dục, vì không chịu đi thực tế, luôn luôn bỏ ra Hà Nội, lẩn tránh việc hướng dẫn sinh viên thực tập sư phạm. Hôm ấy, chi bộ họp kiểm thảo Hiến về khuyết điểm này, có Lê Hoài Nam là đảng uỷ viên của trường xuống dự. Hiến nói: "Tôi cho rằng không đi thực tế mà nắm được thực tế mới giỏi. Tôi kém, nên còn phải đi thực tế một lần. Anh Lê Hoài Nam không đi lần nào mà nắm được thực tế mới giỏi chứ!" Những câu nói như thế, tôi chắc Hiến đều có nghiền ngẫm cẩn thận. Phóng ra những đòn như thế, Hiến bao giờ cũng chuẩn bị rất chu đáo. Tôi biết rõ điều này. Vì cùng được mời đi nói chuyện với anh nhiều lần, tôi thấy anh bao giờ cũng chuẩn bị bài bản rất cẩn thận.


Trở lại tính thích gây sự của Hiến đối với lãnh đạo. Như đã nói, Hiến ít ở khoa (Đại học sư phạm Vinh), hay ra Hà Nội. Có lần anh vắng mặt đúng vào dịp công đoàn khoa văn xếp loại cán bộ theo ba mức A, B, C. Tiêu chuẩn cũng nhẹ nhàng thôi. Loại A chỉ là không có khuyết điểm gì đáng kể thôi. Hầu như cả khoa không có trường hợp nào phải xếp loại B cả. Tổ công đoàn, được sự chỉ đạo của chi bộ Đảng, lập kế hoạch: khi Hiến ở Hà Nội vào thì họp xếp loại. Chủ trương của Chi bộ là phải, nhân cuộc xếp loại này, nghiêm khắc kiểm điểm Hiến về tư tưởng. Trình tự cuộc xếp loại được dự kiến như sau: người được xếp loại tự xếp loại trước. Anh em trong tổ có ý kiến sau. Người ta đoán chắc Hiến sẽ tự nhận loại A. Lúc đó anh tổ trưởng sẽ điều khiển tổ viên phân tích thiếu sót của Hiến, đại khái như sau: Anh Hiến chỉ đáng xếp loại B thôi, vì khuyết điểm này, khuyết điểm khác... Nhưng gần đây anh đã tỏ ra có tiến bộ, thí dụ như gánh nước uống cho anh em tập tự vệ, vậy ta chiếu cố xếp lên loại A... Nhưng, bất ngờ, Hiến chỉ tự xếp loại B. Bài bản đã dự kiến thế là bị phá sản. Tuy thế, tổ trưởng là tay khá thông minh, anh ta vẫn tìm được cách thực hiện phương án cũ: "Đúng, anh Hiến tự xếp mình loại B là đúng (Phân tích khuyết điểm của Hiến một chập). Nhưng vì gần đây có một vài tiến bộ nên ta chiếu cố xếp lên loại A". Hiến nhất định không nghe, chỉ nhận loại B thôi. Anh nói: "Đối với tôi A hay B cũng thế thôi. Và tôi chẳng tiến bộ gì cả. Còn nếu các anh muốn tìm chỗ tiến bộ thật sự của tôi thì tôi xin mách: tôi rất tiến bộ về chuyên môn, soạn bài rất kỹ". Mà đúng như vậy thật. Tôi đã dự giờ Hiến dạy một lần. Anh soạn bài rất nghiêm túc. Anh muốn ý tưởng của mình phải được trình bầy thật sáng rõ, rành mạch, gây ấn tượng và có sức thuyết phục.


Hoàng Ngọc Hiến có một phản ứng khá dữ dội, chung quanh vụ "hiện thực phải đạo" (Hoàng Ngọc Hiến viết bài Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua đăng Văn nghệ số 23 (9.6.1979) có luận điểm nổi tiếng "hiện thực phải đạo"). Hồi ấy anh còn ở Triệu Việt Vương. Tôi đến anh một buổi chiều. Anh kể một câu chuyện vừa xẩy ra với anh: sau bài "hiện thực phải đạo", anh bị đánh rất mạnh. Trên tạp chí cộng sản, Hà Xuân Trường có bài đả Hiến. Hiến viết bài tranh luận lại. Tạp chí cộng sản không đăng, cho người đến mời anh lại toà soạn để nói chuyện. Tay phái viên đến mời anh, nói xong, lấy cái điếu cầy định làm một hơi. Hiến quát ngay: "Thôi, không hút. Đi ngay, không hút sách gì cả!". Đến toà soạn tạp chí, mấy biên tập viên đã chờ sẵn: "Nào mời anh lên gác. Chuyện văn chương phải nói nơi kín đáo". Hiến lại bác lại ngay: "Chuyện văn chương không việc gì phải kín đáo!". Hiến giải thích với tôi: "ấy đối với bọn này cứ phải tấn công như thế, tấn công ngay từ thằng đến mời". Ban biên tập tạp chí Cộng sản giải thích với Hiến: "Hiện nay bọn Tàu đang gây sự ở biên giới. Tạp chí phải dành giấy để đăng bài phê phán chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh, không đăng bài của anh được". Hiến phản ứng ngay: "Tại sao ta thừa giấy để đánh bọn cường bạo nước ngoài, lại thiếu giấy để đánh bọn cường bạo trong nước!".


Năm 1980, người ta tổ chức một cuộc hội nghị khoa học đặt ở Viện bảo tàng cách mạng xế xế Nhà hát lớn Hà Nội. Hội nghị toàn quốc, rất đông. Tôi có gặp một số bạn quen ở Vinh, Huế ra họp. Hoàng Ngọc Hiến hôm ấy nói buông mà rất rành mạch, hấp dẫn. anh nhắc lại cái câu đã nói ở trụ sở tạp chí cộng sản: "Tại sao ta thừa giấy để đánh bọn cường bạo nước ngoài, mà lại thiếu giấy để đánh bọn cường bạo trong nước!". Đến giờ nghỉ. Mọi người, hoặc tản ra dạo chơi ngoài vườn hoa, hoặc ngồi trò chuyện với nhau trong hội trường. Tôi cũng ngồi lại trong hội trường nói chuyện với mấy anh bạn cũ ở Vinh, ở Huế. Hiến cũng ở lại hội trường, nhưng ngồi một mình cách vài hàng ghế, trước mặt chúng tôi. Hà Xuân Trường lững thững từ hàng ghế đầu đi xuống chỗ Hiến, vỗ vai anh thân mật. Hiến gạt phắt tay Trường ra: "Tôi không phải hạng người cho anh vỗ vai nhé!". Trông Hiến lúc ấy rất dữ. Hà Xuân Trường sững người và hơi ngượng. Anh phân bua với chúng tôi: "Đấy, các anh xem, anh Hiến anh ấy như thế đấy!".


Buổi trưa hôm ấy, Hiến rủ tôi về nhà ăn cơm. Trong bữa cơm, Hiến hỏi tôi: "Sao, cậu thấy mình nói có được không?". Tôi khen: "Khá lắm!". Chị Tố Nga, vợ Hiến, mách luôn: "Lẩm bẩm suốt đêm làm gì mà không khá!". Thì ra Hiến không phải chỉ chuẩn bị ý, mà còn luyện nói nữa. Hiến thế mà cũng là một tay đấu khẩu khá nhanh trí và đáo để.


Cũng vào khoảng trước sau năm 1980, khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội có tổ chức một cuộc hội thảo khoa học, đề tài: giáo dục tư tưởng qua giảng dạy văn học. Hiến lúc đó vẫn còn ở Đại học Sư phạm Vinh. Anh ra dự hội nghị. Không biết bản báo cáo viết của anh gửi ra như thế nào, nhưng anh trình bầy miệng thì khá gai góc, và hình như anh lại cố tình diễn đạt cho thật ấn tượng về cái ý rất gai góc của mình. Anh cứ thủng thẳng nói đi nói lại: "Những gì chi bộ Đảng, đoàn thanh niên, đài phát thanh, báo Đảng đã nói hay viết, thì trong lớp ta không nói. Ta chỉ nói những điều chi bộ Đảng, đoàn thanh niên, đài phát thanh, báo Đảng không nói, không viết". Ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến đã gây chấn động hội nghị. Những người lãnh đạo hội nghị rất lo ngại (lãnh đạo hội nghị là Nguyễn Văn Hạnh quyền chủ nhiệm khoa và Trần Thanh Đạm phó chủ nhiệm khoa). Đạm thấy nhất thiết phải uốn nắn lại. Anh động viên Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Hoàng lúc đó là đảng viên dự bị hay cảm tình đảng gì đó lên phê phán Hiến. Tôi không nhớ ý kiến của cô Hoàng thế nào, chỉ nhớ một câu mỉa mai của Châu: "Đứa trẻ con ngồi trên vai bố, cứ tưởng mình cao hơn bố". Hoàng Ngọc Hiến giơ tay xin phát biểu. Anh cố tình tự khoe: "Tôi đã góp phần làm cho hội nghị thành công. Vì một hội nghị khoa học có tranh luận học thuật thì mới là một hội nghị có kết quả. Tôi đã gây được cuộc tranh luận cho hội nghị. Ngoài ra tôi rất sướng vì đã được ngồi trên vai anh Đỗ Hữu Châu".


Sau hội nghị này, Trần Thanh Đạm gửi giấy cho chi bộ Đảng của khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh phản ánh về sự "lệch lạc tư tưởng" của Hiến. ít ngày sau, tôi đến chơi Hiến - Anh vẫn ở Triệu Việt Vương. Một căn phòng rất hẹp, chỉ độ 16 mét vuông. Kê được hai cái ghế salon và một cái bàn nước nhỏ. Tôi và Hiến ngồi ở salon. Chị Tố Nga, vợ Hiến giải chiếu ngồi trên nền nhà. Chị cứ chỉ tay vào mặt Hiến mà nói đi nói lại xa xả: "Tôi không thấy có ai ngu như anh Hiến!". Nói mãi chán, chị bỏ ra đi. Hiến thủng thẳng nói với tôi: "Hắn nói thế mà đúng. Như ta vẫn nói đế quốc Mỹ là ngu ấy mà!". Té ra, anh lại ngẫm nghĩ về lời nói của vợ, như một đối tượng nghiên cứu.


Chị Tố Nga, vợ Hiến, là một người cũng khá đặc biệt: chuyên môn mạt sát chồng trước mặt khách khứa bạn bè, thậm chí trước cả học trò của chồng. Nhưng đám học trò của anh đã có kinh nghiệm: bà ấy nói thầy Hiến thì được, chứ người khác tưởng bở, cũng phụ hoạ theo, nói theo, là chết với bà ấy. Còn Hoàng Ngọc Hiến thì coi thường, bỏ ngoài tai, xem như nói ai đó, chẳng dính dáng gì đến mình.


Hoàng Ngọc Hiến, tư duy khoa học thì tỏ ra sâu sắc, nhưng trong đời sống thực tế, nhiều khi rất nhẹ dạ, cả tin. Vào khoảng 1987, Hội văn nghệ Quảng Nam- Đà Nẵng có mời tôi và Hiến vào nói chuyện với giới văn nghệ trong ấy. Chúng tôi ở với nhau độ một tuần lễ, sau đó, Hiến vào Sài Gòn, tôi ra Hà Nội. ít ngày sau, tôi đang ngồi ở nhà (tại Đồng Xa) thì thấy Hiến đạp xe tới. Lúc đó mới độ 8 giờ sáng. Tôi hỏi ra bao giờ. Anh nói ra sáng nay, tàu 7 giờ sáng tới Hà Nội. Tôi ngạc nhiên: vừa về Hà Nội đã vội đến tôi làm gì! Hoá ra anh vừa tham gia một đảng gọi là đảng "Nhân dân hành động" và ra Hà Nội để phát triển Đảng. Người đầu tiên anh định kết nạp là tôi. Anh nói, không sợ gì cả. Tay thủ lĩnh là một tay tiến sỹ ở Mỹ về. Rất trí thức. Đảng này đã thống nhất với cộng sản chuẩn bị ra đa đảng. Trong đảng này có một uỷ viên bộ chính trị và một thiếu tá công an cộng sản. Đảng phát triển chủ yếu vào trí thức. Anh lại hỏi, thằng Thanh nhà ông vào Sài Gòn đã có việc làm và nhà cửa gì chưa, để anh lo giải quyết cho.Tôi không tin, từ chối: "Cậu định làm chính trị à? Không sợ công an à?" Hiến có vẻ xem thường, cho tôi là thằng nhát. ít lâu sau tôi được biết đảng này phát triển mạnh ở vùng Vĩnh Long, vừa bị bắt một loạt. Tôi vào Cần Thơ, Dạ Ngân bảo thế.


Một thời gian sau, tôi gặp lại Hiến ở trụ sở văn nghệ. Tôi hỏi Hiến: "Biết gì chưa?" Hiến: "Biết rồi! Biết rồi!" Tôi lại hỏi: "Có sao không?" Hiến: "Không sao, không sao - Nhưng này, đừng nói với ai nhé!"


Dương Thu Hương khi biết chuyện này, nói với tôi: "Ông Hiến mà là đàn bà thì chửa hoang hàng tỉ lần".


Tôi cho rằng Hoàng Ngọc Hiến có số "quý nhân phù trợ". Nghĩa là luôn gặp may. Tôi ví anh với nhân vật Pie Bêdukhốp trong Chiến tranh và hoà bình của L.Tolstoi. Người to lớn, ra trận cứ trương ngực ra mà đi giữa chiến trường, nhưng tên đạn cứ tránh không dính. Đấu súng tuy không biết bắn súng, mà lại thắng một tay thiện xạ... Hiến cũng thế. Ăn nói táo tợn với người có chức có quyền, hành động nhiều khi dại dột. Nhưng chẳng sao cả. Vẫn đi Pháp, đi Mỹ đều đều. Anh kể tôi nghe cái vụ "phải đạo" của anh hồi 1980, anh có một cú thoát hiểm rất ngoạn mục. Người ta tổ chức hẳn một cuộc hội nghị để đánh anh. Lê Đức Thọ trực tiếp chỉ đạo. Loại có vấn đề như tôi, không được mời. Hơn 50 người được mời có chọn lọc để nhằm phê phán Hiến. Hiến là người thứ 50 (avant dernier) được phép phát biểu. Người cuối cùng là Chế Lan Viên (thứ 51) . Người ta bố trí một tay sắc sảo như thế để có thể đập tan ý kiến của Hiến vàhội nghị kết thúc luôn. Giờ nghỉ, Lê Đức Thọ trò chuyện với Hiến mới biết Hiến là người đồng hương với mình. Cùng quê Đức Thọ, Hà Tĩnh (Lê Đức Thọ ở Nam Định, nhưng quê gốc ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, anh em Lê Đức Thọ đều lấy biệt danh có chữ Đức hoặc chữ Thọ: Đinh Đức Thiện, Mai Chí Thọ, Lê Đức Thọ) Thế là Hiến gặp may. Vì tình đồng hương, Lê Đức Thọ đã cứu anh. Ai đó trong hội nghị nói Hiến chịu ảnh hưởng tư tưởng mỹ học của Kant. Thọ dõng dạc khẳng định trước hội nghị: "Hoàng Ngọc Hiến chẳng kăng kiếc gì hết, Hoàng Ngọc Hiến là Mác Lênin". Tình thế thành ra đảo ngược. Chế Lan Viên chót đánh Hiến, thấy thế, đâm hoảng, bèn lảng qua chỗ Hiến đang ngồi với Lê Đức Thọ, nói khẽ với anh: "Lúc nãy tôi có nói điều gì quá, anh bỏ qua đi cho nhé!". Sau này, Chế Lan Viên còn nhờ tôi nhắn lại với Hiến hai lần như thế. Lại còn nói phách "Tôi có trọng anh Hiến thì tôi mới tranh luận với anh ấy chứ!".


Có lẽ vì hay gặp may mà Hiến luôn luôn lạc quan.


Lại vẫn cái vụ "hiện thực phải đạo". Tôi nhớ giáp Tết âm lịch năm ấy, Khái Vinh có mời tôi, Hiến và Xuân Diệu ăn thịt chó ở Hàng Lược. Lúc đó, dân Nhật Tân đã lục tục đem đào tới bán. Khái Vinh nói, anh Hiến là người có tài mà khổ, bị đánh dữ quá!. Xuân Diệu nói: "Con người ta có trải qua đau khổ thì mới nên người". Nhưng Hiến lại phát biểu một cách đắc ý: "Những điều tôi được nhiều hơn những điều tôi mất". Và anh dẫn chứng: "Đứa con gái tôi vào Sài Gòn, giáp Tết bị mắc kẹt ở đấy không ra được vì giao thông khó khăn. Có một anh phi công cho lên ngồi ghé phụ bay ra không mất tiền, vì biết là con ông "hiện thực phải đạo". Cũng con bé ấy học đến lớp cuối cấp, sắp thi đại học, rất cần có người luyện cho môn toán. Rất may, có một cô giáo tự nguyện đến luyện giúp miễn phí vì biết là con ông "hiện thực phải đạo". Đó là chưa kể nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đến tận nhà Hiến tặng hoa. Và bài "hiện thực phải đạo" đã làm cho anh nổi tiếng một thời và được nể trọng trong giới trí thức cấp tiến.


Đúng là Hoàng Ngọc Hiến có quý nhân phù trợ thật.


Hồi Hiến sang Mỹ, có một bọn Việt kiều chống cộng quá khích định hành hung anh. May sao lại có một thượng nghị sĩ Mỹ phái một vệ sĩ của ông ta tới bảo vệ - Mới đây Hiến kể với tôi như vậy.


* * *


Tôi rất tin cậy Hoàng Ngọc Hiến. Nên chịu ảnh hưởng Hiến về nhiều mặt, đặc biệt là trong việc dùng thuốc. Thuốc huyết áp, thuốc bổ, thuốc loãng xương... Tất nhiên tôi có chịu ảnh hưởng anh cả về tư duy khoa học. Hiến có tài liệu nào anh cho là hay hoặc nghĩ ra điều gì có vẻ tâm đắc, đều trao đổi với tôi. Trò chuyện với Hiến bao giờ cũng có ích, dù ít dù nhiều, đối với cái nghĩ của mình. "Dữ quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên thư". Người xưa nói thế, vận dụng vào trường hợp Hoàng Ngọc Hiến e có hơi quá. Nhưng quả là trò chuyện với Hiến bao giờ cũng thu lượm được một cái gì đó có ích. Hiến rất ghét giáo điều và nghĩ cái gì thì nghĩ đến nơi đến chốn. Tôi cho rằng, mấy phát biểu sau đây của Hiến là những ý kiến nghe được:


Nghiên cứu khoa học, quan trọng nhất là nghĩ bằng cái đầu của mình và viết bằng lời văn của mình. Đọc người khác rất cần, song phải thấm thế nào đó để trở thành của mình, để khi nghĩ là nghĩ bằng cái đầu của mình và viết bằng lời văn của mình.


Quán tính của con người là thường quy những điều chưa biết vào cái sơ đồ có sẵn, sơ đồ biết rồi. Do lười nghĩ. Quán tính rất mạnh, lay chuyển được quán tính, được cách nghĩ là khoa học.


Khoa học trước hết là đặt vấn đề đích đáng. Tìm ra cái mới hoàn toàn rất khó. Thường chỉ chỉnh lại một tý. Vấn đề đặt ra đúng, nhưng chưa đúng hẳn. Chỉnh lại một tý như chỉnh ti vi cho hình nét hơn, âm rõ hơn. Thí dụ, nói Đam Săn anh hùng dũng cảm là đúng. Nhưng thực ra tính cách Đam Săn phong phú hơn: hồn nhiên, trung thực, lãng mạn, ngỗ nghịch... đặc biệt là một cá tính tự do.


Nói Số đỏ đả kích những ông chủ bà chủ của xã hội cũ là đúng, nhưng đâu chỉ có thế. Số đỏ là cả một xã hội hài hước gồm đủ hạng người, ai cũng buồn cười, một xã hội ngớ ngẩn, nhí nhố, lố bịch... , kể cả bình dân.


Hiến khẳng định vai trò quan trọng của cảm hứng và trực giác. Tôi cho rất đúng. Anh nói, cảm hứng lay động toàn bộ năng lực tinh thần của người nghiên cứu. Trong giây phút ấy, con người, cùng một lúc, có vô số liên tưởng, kể cả liên tưởng vô thức. Do đó rất sáng suốt. Nhưng phải băn khoăn nhức nhối về nhân sinh, về văn học mới có cảm hứng dẫn tới tìm tòi phát hiện. Cảm hứng làm cho câu, chữ có hồn. Cảm hứng phát huy trực giác, khiến cảm nhận được cái mới. Mọi tìm tòi đều bắt đầu bằng trực giác. Sau đó mới dùng suy lý lôgic chỉnh lại (vì thế Hiến rất phục những phán đoán trực giác của ai đó, chỉ ra chính xác bản chất một đối tượng nào đấy, không cần lý lẽ chứng minh gì hết).


Phân tích tác phẩm gay nhất là đọc hết cuốn sách mà chẳng thấy có ý gì cả. ý là một ý nghĩa mới đích đáng trả lời một câu hỏi ta đang tìm tòi, đang suy nghĩ để giải đáp. Tác phẩm chẳng giải đáp được một câu hỏi nào cần thiết, là vô nghĩa.


Phân tích tác phẩm là phân tích chi tiết. Phải chọn chi tiét có vấn đề. Phân tích một chi tiết mà mở ra cả một vấn đề về đạo lý, về triết lý. Phân tích một chi tiết như thế có sức thuyết phục và sang trọng hơn là phân tích tràn lan.


Cuối cùng phải tìm từ, tìm chữ đích đáng để diễn đạt. Một bài viết hay là có được một hai từ đích đáng kết tinh được cái hiểu, cái ý của mình. Đó là cái thần của bài viết.


Hiến nghĩ thế nên rất chăm chỉ học chữ, học từ. Có khi học ở dân gian. Thí dụ, anh rất khoái vì học được chữ "bõ hờn" của một ông người Mường tên là Cò Lửa, chủ nhà chúng tôi ở nhờ hồi kháng chiến chống Mỹ tại Thạch Thành, Thanh Hoá. Phần nhiều học ở sách vở. Thí dụ chữ "hương nguyện", "phường hương nguyện" anh học được của Mạnh Tử khi nghiên cứu triết học cổ phương Đông. Có lẽ tương đương với chữ philistin chăng?


Có những chữ thông thường nhưng anh đem đến cho nó một nghĩa mới nào đấy. Như "kể lại nội dung" và "viết nội dung". (Bài "Kể lại nội dung và viết nội dung" (Văn học gần ...và xa. NXB giáo dục 2003). Hay như chữ "trí thức bình dân" trong bài anh giới thiệu Tuyển tập Nguyễn đăng Mạnh (NXB Giáo dục 2006)... Có thể gọi trường hợp này là sáng tạo từ mới.


Gần đây Hoàng Ngọc Hiến say mê đọc Nho, Phật, Đạo qua sách của Francois Fulien. Anh lấy làm khoái chí học được ở F.Julien, sự phân biệt giữa tư duy Đông và Tây. Tây là chân lý (Vérité). Đông là dịch lý (transformation). Một đằng cứ cãi nhau về chân lý, về đúng hay sai. Một đằng chủ trương "cùng" hay "thông". Đúng sai không quan trọng, quan trọng là không bế tắc, là thông, là được việc, là có hiệu quả thực tế...


* * *


Như đã nói, Hoàng Ngọc Hiến sống rất hồn nhiên, tự nhiên.


Hồi chống Mỹ, sơ tán ở Thạch Thành, Thanh Hoá, không mấy khi có được miếng thịt mà ăn. Hôm ấy, anh em kiếm được một đĩa thịt. Hiến vừa ăn, vừa xụt xịt mũi, vừa gật gù: "Ăn thịt ngon thật!".


Tối tối, anh rất chịu khó cùng với tôi xách đèn đi bắt ốc sên về cải thiện, tin rằng ba con ốc sên bằng một quả trứng vịt (Hồi ấy có kẻ phao lên như vậy).


Hiến hay nghĩ ra những chuyện kỳ cục và buồn cười để đùa vui. Thí dụ như chuyện phân loại cán bộ khoa văn trường Đại học Sư phạm Vinh thành ăn cướp và ăn cắp. Hình như tư duy khoa học mãi, nghĩ mãi những điều có nghĩa lý, người ta phải thư giãn đầu óc bằng những chuyện vô nghĩa lý.


Hiến đúng là vui đâu chầu đấy.


Có một lần Ngô Thảo nhân quen một Việt kiều về nước, mời tôi, Hiến và Hoàng Cầm đến đánh chén ở một nhà hàng. Xe đón tôi trước, đón Hiến sau. Trên xe, tôi gọi điện cho Hiến chuẩn bị ra ngõ để đón xe. Chị Tố Nga, vợ Hiến, cầm máy trả lời: "Lão ấy mời đi họp thì đến chậm, nhưng mời đi ăn thì đúng giờ lắm!".


Một lần khác, mới năm ngoái đấy thôi, anh Vũ Văn Viết ở Việt Trì mời chúng tôi lên dự lễ khai trương ngôi trường phổ thông dân lập do anh vừa xây dựng. Anh cần nhiều người ở Hà Nội lên dự cho thật long trọng. Nhưng hôm ấy nhiều người trong danh sách mời không đi được vì bận việc hay đang đi công tác xa. Ngồi trên xe thấy vắng vẻ quá, tôi nẩy ra ý mời Hiến, tuy Hiến chẳng quen biết gì Vũ Văn Viết cả. Và Viết cũng không mời Hiến.Tôi gọi điện. Hiến nhận lời ngay, và lập tức đáp xe ôm đến chỗ hẹn.


Cái giống nghệ sĩ thật sự bao giờ cũng rất tự nhiên - nói như Lưu Công Nhân, "tự nhiên như ruồi". Họ rất khó tính trong sáng tạo, nhưng rất dễ tính trong sinh hoạt đời thường. Khoa học cũng là một hoạt động sáng tạo, nhà khoa học cũng là một loại nghệ sĩ, nhất là khoa học về văn chương.Vì thế Hoàng Ngọc Hiến cũng rất hồn nhiên, tự nhiên, "tự nhiên như ruồi". Hiến là dân Nghệ Tĩnh nhưng lại chê dân Nghệ "cái gì cũng biết, trừ hạnh phúc". Nhưng chính Hiến cũng rất Nghệ. Một tay đầy nghị lực. Tập thể dục rất kiên trì. Nghiện cả thuốc lá, thuốc lào mà bỏ hẳn (Bỏ mà vẫn cho hút thuốc lá là thích nhất. Anh nói "Khi nào sắp chết sẽ hút lại"). Gần 80 tuổi vẫn cả ngày ôm cái máy vi tính để lấy thông tin và luyện ngoại ngữ. Rồi đọc sách, dịch sách, viết sách... Tôi là dân Bắc Kỳ, kém xa Hiến về mặt này.


Hiến đích thực là dân Nghệ, đúng thế, nhưng là một tay Nghệ "cái gì cũng biết, kể cả hạnh phúc". Vì tôi biết chưa bao giờ anh từ chối một lạc thú trần thế, trần tục nào.


( Rút từ hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh)

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Phùng Quán khi yêu

Đã viết chuyện Phùng Quán nhiều rồi, định bụng không viết gì thêm nữa. Sau ngày anh mất, bác Ngô Minh và chị Bội Trâm ( vợ Phùng Quán) đã cho xuất bản nhiều cuốn sách về đời anh và các sáng tác chưa công bố của anh, ai đọc hết sẽ thấy cuộc đời Phùng Quán, khỏi phải nói gì thêm. Chiều nay vào trang web người quen cũ,  nữ nhà văn Phong Điệp, mình đã từng làm việc với cô ở tờ Văn nghệ trẻ, tình cờ thấy  bài : “ Đi tìm Như của Phùng Quán” của một người mình không quen, tên là Thu Dịu, đọc xong ngồi ứa nước mắt. Lại nhớ anh.


Mình chơi thân với Phùng Quán hơn mười lăm năm, anh vẫn hay đùa, nói thằng Lập chơi với tui từ thời hắn hỉ chưa sạch mũi. Thực ra khi đó mình cũng gần ba chục tuổi rồi, có điều mắc bệnh viêm mũi, cứ se lạnh là nước mũi lòng thòng như con nít. Mỗi lần ra mình ra Hà Nội, anh lại dắt mình đi các tòa soạn báo, các nhà xuất bản cho mình làm quen, sau này có chỗ gửi bài. Đến đâu anh cũng vỗ vai mình cười cười, nói đây là thằng nhà văn hỉ chưa sạch mũi, dân bọ gộc. Mau làm quen đi, sau này hắn thành nhà văn lớn còn có cớ để mà khoe.


Một hôm anh đưa mình đến nxb Văn hóa, vào phòng chị Q. Chị Q. lúc này cũng đã trên bốn mươi nhưng hãy còn dòn lắm, xinh nữa. Anh Quán vào phòng không gõ cửa, chị Q. thấy anh cũng không chào, chỉ chào mình không thôi. Anh Quán đến bàn chị kéo cái hộc bàn ra, chị trừng mắt lên đập tay anh, nói hộc bàn của người ta, tìm cái gì. Anh cười cười, nói em có cất thuốc  lào của anh đây không. Chị lại trừng mắt lên, đẩy anh ra, nói em dư hơi đi cất thuốc lào cho anh à. Cút đi, vô duyên. Nói thế nhưng chị ném cho anh một bọc thuốc lào to tướng, nói thuốc lào Vĩnh Bảo thật  đấy, em vừa đi Vĩnh Bảo về.


Xem thế là biết hai người có tình ý với nhau rồi. Mình hỏi anh Quán, nói chị Q. là anh đang yêu hay đã yêu. Anh thong thả tra thuốc lào vào nỏ, mồi lửa rít một hơi dài, ngửa  cổ nhả khói, nói đã yêu, đang yêu. Anh dừng lại nhấp một ngụm nước, nghĩ ngợi gì lung lắm, rất lâu sau anh mới nói rồi chắc cũng sẽ yêu. Mình biết cái sự ngập ngừng của anh, vì khi đó anh đang yêu cô N. ở Huế, cô N. và chị Q. đang có “ xung đột” mạnh vì bài thơ Phùng Quán tặng cô N.  Bài thơ này được in lên có lời đề tặng cô N. của Phùng Quán. Chị Q. nói đó là bài thơ anh Quán tặng chị hơn chục năm trước. Cô N. nói chị Q. nhận xằng. Chị Q. tức mới trưng bản gốc lên, thế là cãi nhau, hi hi.


Mình nhăn răng cười hỏi anh Quán, nói  răng rứa răng rứa. Anh cười khì, nói kẹt thơ chơ răng. Yêu nhiều rứa mần thơ răng kịp. Thừa nhận anh Quán có nhiều người yêu, người yêu một ngày người yêu một đời, rất nhiều. Thời trẻ anh cực đẹp trai, lớn lên một chút thì tiếng tăm nổi như cồn, anh đi tới đâu có người theo anh ở đó. Ngay cả khi anh đóng vai ông già, để râu dài, mặc áo quần bà ba, đi guốc mộc thì vẫn có người yêu anh. Anh không khoe chuyện yêu đương cũng chẳng giấu diếm, ai biết chuyện mà hỏi anh là anh thừa nhận liền, không hề chối cãi quanh co, kể  cả vợ anh.



Gia đình Phùng Quán: Phùng Quán, Con gái Phùng Quyên, con trai Phùng Quân và chị Bội Trâm


Năm 1990, sau chuyện lình xình giữa cô N. và chị Q. anh thấy nhức đầu mới rời Huế ra Quảng Trị ở nhà mình cả tháng. Anh em tối tối ngồi uống rượu với nhau, chuyện văn chương thơ phú chán rồi thì quay sang chuyện gái gú. Mình nói em hỏi thiệt anh nha, anh còn làm ăn chi được nữa không. Anh cười phì, nói thằng ni chủ quan. Mình không tin lắm, thấy anh đi đứng không được nhanh nhẹn hoạt bát, mấy chuyện sexy không còn mặn nữa, đụng sự thì đánh trống lãng thì dù anh có kể thế nào mình cũng không tin.


Một hôm mình nói chuyện  này với Ngô Minh, nói anh Quán có làm ăn chi được nữa mà yêu đương hè. Ngô Minh cười sật sật, nói lúc đầu tao cũng nghĩ như mi, té ra không phải. Đêm ngủ với anh, tao sờ anh, oa chà…. cứng ngắc. Từ đó mình mới tin, không dám coi thường anh nữa, hi hi. Anh ít khi kể chuyện yêu đương, chuyện trong buồng tối lại càng không. Nhưng một hôm đang cao đàm khoát luận đột nhiên anh hỏi mình, nói mi yêu đương lăng nhăng rứa, có mối tình mô tử tế không.


Mình kể anh nghe mối tình đầu bảy năm của mình, chuyện qua lâu rồi mà thỉnh thoảng mình vẫn bị nghẹn giọng, rưng rưng. Nghe xong anh cười cái hậc, nói chuyện thường, mối tình đầu của tao hay hơn.  Rồi anh vừa nhấp rượu vừa thong thả kể chuyện. Phùng Quán rất có tài kể chuyện, bất kì chuyện gì anh cũng đều có thắt nút mở nút, có cao trào, có vĩ thanh, đặc biệt cái kết lúc nào cũng bất ngờ. Anh nói anh yêu đương nhiều nhưng có ba người đàn bà đến chết anh cũng không bao giờ quên, đó là chị Bội Trâm, chị Q. và bà Nhủ ( không phải Như), người mà nửa thế kỉ sau cô Thu Dịu bôn ba đi tìm và tìm được.


Chị Bội Trâm thì tất nhiên rồi, đó là người đàn bà vô cùng tuyệt vời, khi khác mình sẽ kể. Chị Q. vừa là người tình vừa là bạn vừa là ân nhân của anh. Những năm bị án “treo bút”, rượu chịu cá trộm văn chui, nếu không có chị Q. thì nhà anh sẽ rơi vào túng quẫn, nếu không muốn nói là chết đói. Khi đó chị Q. làm biên tập ở  nxb Văn Hóa đã đặt hàng cho anh viết lời cho hàng chục tập truyện tranh, mười mấy cuốn văn xuôi, tất nhiên là lấy tên người khác.  Đây là việc cực kì nguy hiểm, nếu lộ ra chẳng những chị bị mất việc mà có thể chị bị rơi vào vòng lao lý. Nhưng chị Q. không sợ, suốt ba chục năm chị luôn tạo điều kiện cho anh Quán làm văn chui, bất chấp mọi sự dè bỉu đe nẹt của người đời. Chị làm việc đó vì yêu, vì thương và vì cảm phục Phùng Quán, có một lần chị đã nói với mình như vậy. Tiếc là thiên tình sử của chị với anh Quán mình chỉ biết đến đó thôi, không biết được nhiều hơn.


Anh Quán cũng không kể nhiều về chuyện tình với chị Q., khi nào hỏi đến`thì anh nói khi thì Q. hay lắm khi thì  Q. ngon lắm, tuyệt tuyệt, vậy thôi. Riêng mối tình với cô Nhủ thì anh kể với mình suốt đêm, kể khi say, kể đi rồi kể lại, đôi khi bật khóc. Những khi kể chuyện cảm động thì anh không mày tao nữa, anh xưng mình. Anh nói hồi đó mình mới 22 tuổi, là phóng viên quân đội, đi xuống Sầm Sơn đón tù Côn Đảo, hỏi chuyện và viết báo. Chẳng ngờ chuyện tù Côn Đảo hay quá, mình quyết định viết hẳn một cuốn sách, gọi là Vượt Côn Đảo. Cô Nhủ hồi đó mới 16 tuổi, là con gái nhà mình ở trọ, tối nào cũng  kéo đội Chim hòa bình, như kiểu đội thanh niên xung kích bây giờ, của thôn cô đến nhà cô nghe mình kể chuyện.


Nghe mình kể chuyện các cô thích lắm, mắt trố miệng há hết lượt. Vài cô trong đội Chim hòa bình cố ý với mình, mình biết nhưng lờ đi, kỉ luật quân đội hồi này nghiêm lắm, tơ lơ mơ là bị cạo trọc đầu. Nhưng rồi mình cũng không trốn được ái tình. Mình đã yêu Nhủ, yêu nồng nàn, trong khi cô chuẩn bị lấy chồng. Đến`chết cũng không quên nụ hôn đầu của mình. Tối đó cả nhà đi vắng. Mình đang hí húi viết thì Nhủ đến bịt mắt, mình quờ tay ra sau vô tình chạm ngực Nhủ.  Rứa là tối tăm mặt mũi, rứa là hôn vày hôn vò em. Hôn xong rồi ngồi ngẩn ngở, không biết mình vừa hôn vô chỗ mô. Chỉ một lần hôn đó thôi mà nhớ nhau suốt đời.


Anh dừng lại mắt rưng rưng, nói mình nhớ như in buổi chiều mình trốn Nhủ ra đi. Trốn là vì không thể cưới Nhủ được, yêu một cô gái sắp cưới chồng là trọng tội, chẳng những đơn vị trừng trị mà làng xóm cũng không tha. Mình khoác ba lô tìm đường về Hà Nội. Ra đến giữa cánh đồng bỗng nghe Nhủ gọi thất thanh, nói anh Quán ơi đừng đi đừng đi. Nhủ chạy đến, ôm chầm lấy mình, nói để em trả lễ cho nhà trai rồi em theo anh, anh đi đâu em cũng đi.  Và Nhủ gục mặt vào ngực mình nấc lên, nói anh ơi đừng bỏ em…tội nghiệp. Kể đến đây thì Phùng Quán nghẹn lại, trong giây lát mặt anh đầm đìa nước mắt.



 Bà Nhủ  nay đã 70 tuổi, đang ngồi xem ảnh Phùng Quán

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Nhớ Tố Hữu

Một hôm mình đọc bài của Nguyễn Quang Thiều viết về Tố Hữu, thấy nó viết hay kinh. Những chuyện nó kể mình đều biết cả nhưng chưa bao giờ dám viết ra. Thế mà nó viết ngon trớt, đọc nghe êm ru, lại còn cảm động nữa.  Đọc bài nó xong, mình ngồi thừ, thấy tiếc. Thằng Thiều cũng gặp Tố Hữu loáng thoáng như mình thôi, thậm chí chẳng bằng mình thế mà nó có bài ngon lành, còn mình thì không. Mình cú, định viết bài đấu lại nó, nhưng lại nghĩ xưa ông sống thì không viết, giờ ông chết rồi có viết kiểu gì người ta cũng cho mình nói phét, nên thôi. Nhưng sáng nay tự nhiên muốn viết về ông quá, định bụng 5,6 giờ chiều mới viết, nhưng mót viết chịu không nổi. Thế là víêt luôn.


Mình có tính cục bộ, phàm ai là người Quảng Bình họăc yêu quí Quảng Bình mình đều quí mến cả. Thời chiến tranh Tố Hữu còn quá người Qúảng Bình, ăn dầm ở dề trong bom đạn với dân Đồng Hới, dân Bảo Ninh có khi cả năm trời. Tiếng là ngựa xe chứ chỉ xe U oat thôi, xe volga đường chiến tranh làm sao đi được. Thứ xe U oat bây giờ có đem cho tụi trẻ chúng nó còn mắng cho. Còn yến tiệc thì nói cho sang, thực ra mấy miếng thịt lợn,  thịt bò kho kho xào xào, trẻ con nhà mình dỗ mãi chúng nó mới chịu ăn. Vì thế dù ai nói đông nói tây mình vẫn qúi Tố Hữu như thường.


Thời chiến tranh dượng Thành ( Cổ Kim Thành) làm chủ tịch tỉnh,  mỗi lần vào Đồng Hới mình đều đến nhà dượng chơi, vì nhà dượng gần nhà chú Lình, chú ruột mình, và cũng vì có thằng Vượng là bạn học cũ.  Nó là con thứ 3 của dượng Thành, học cùng lớp 1 với mình. Sau dượng vô Đồng Hới làm chủ tịch tỉnh nó cũng vô theo.


  Một hôm đến nhà dượng Thành, mình thấy một người đang ngồi với dượng nói chuyện gì đó rất hăng. Cả nhà đi lại cứ nem nép. Mình kéo thằng Vượng ra sân hỏi nhỏ, nói ai đó. Nó bảo Tố Hữu. Mình lạnh người, đứng lặng ngắt. Quá vinh hạnh thấy được Tố Hữu bằng xương bằng thịt. Mình đứng nép trong buồng nhìn ra, ngắm ông say sưa cho đến khi ông đi rồi vẫn đứng lặng ngắt. Mình về Ba Đồn khoe gặp Tố Hữu với tụi bạn, bóc phét nói Tố Hữu ôm mình, cho ngồi lên đùi dặn này nọ, tụi bạn ngưỡng mộ mình lắm. Thực ra có gặp cóc khô đâu, chỉ nhìn trộm ông thôi, hi hi.


 Gần ba chục năm sau về làm báo Văn Nghệ mình mới thực sự gặp ông. Báo Văn nghệ có tục cứ đến 28, 29 tết là tổ chức ăn tết toàn cơ quan. Vị khách số 1 không bao giờ vắng là Tố Hữu, vì ông là sư tổ của báo. Thực ra trước đó mình cũng đã thấy ông nhưng chỉ thấy xa xa. Những lần đại hội nhà văn, vài ba hội nghị văn học ông đều là yếu nhân. Ông chưa đến cuộc họp chưa bắt đầu. Tố Hữu đứng đâu người ta đều chỉ trỏ thì thầm, nói Tố Hữu đó kià Tố Hữu đó kìa. Ông bắt tay người nọ, vỗ vai người kia rất vui vẻ. Lên diễn đàn nói chuyện cũng vui, không lý luận cao siêu gì, cứ như đứng kể chuyện chơi vậy thôi nhưng thỉnh thoảng đá ngang vài câu làm ai nấy lạnh sườn.


 Chương trình đón tết báo Văn Nghệ bao giờ anh Quốc ( Bế Kiến Quốc) cũng chủ trò, đôi khi có anh Duật (Phạm Tiến Duật) nữa nhưng chủ yếu vẫn anh Quốc. Mình hỏi anh Quốc cụ Tố Hữu có đến không, anh nói đến chứ, năm nào cụ chả đến. Anh cười cười vỗ vai mình, nói mày thích ngồi với cụ hả, để rồi anh bố trí. Mình cưởi không nói gì nhưng trong bụng thì mừng lắm, được nói chuyện với Tố Hữu còn gì bằng.


Chương trình có 3 phần, năm nào cũng giống năm nào, đầu tiên là nhậu nhẹt, sau đó nghe Tố Hữu nói chuyện, cuối cùng là chơi trò đố vui có thưởng. Hồi đó Tố Hữu đã rời chính trường, nghe nói phụ trách ban chiến lược quốc gia gì đó nhưng thực ra là ngồi chơi xơi nước thôi. Nhậu nhẹt bao giờ cũng vui, ăn uống chẳng có gì nhưng đám văn ngồi đâu tất ở đó rôm rả. Mình thấy lạ là hễ Tố Hữu ngồi mâm nào, mấy ông anh trong báo kính cẩn khúm núm nhưng mắt trước mắt sau chuồn đi cả. Hữu Thỉnh chỉ ngồi với ông có 5 phút rồi nhảy đi mâm nọ mâm kia chúc mừng anh em, kì thực là để tránh nói chuyện với ông.


Nhìn đi nhìn lại không thấy ai, ông đi đến mâm mình, khi đó cũng chỉ mình và vài người. Mấy người này kính cẩn “dạ anh” rồi cũng lẹ làng biến đi, chỉ còn mình trơ khấc. Ông không hỏi mình tên gì mà hỏi mình quê đâu. Mình nói thưa chú cháu quê Quảng Bình. Mắt ông sáng lên và ông bắt đầu nói. Ông nói về Đồng Hới, về Quán Hàu, về Mẹ Suốt, chị Lý ( anh hùng Trần Thị Lý), về Lệ Ninh, về Nhật Lệ, về Đào Duy Từ… đủ thứ chuyện.


 Ông nói nhỏ, đều đêu, hết đông sang tây, hết chuyện Quảng Bình sang chuyện thế sự. Ông nói chuyện thế sự hệt mấy ông hưu trí phường nói chuyện thế sự, đại khái ngày xưa thế này thế kia, bây giờ mấy ông trên kia... ông chỉ ngón tay chỉ chỉ lên trời, lăc đầu, rồi dừng lời. Lúc đầu mình nghe rất hào hứng, dù gì cũng được Tố Hữu cho nói chuyện, nhưng sau ông nói dài quá, lặp nhiều quá, đâm nản. Quanh đi quẩn lại cũng ngày xưa thế này thế kia, bây giờ mấy ông trên kia...Mình nghe thêm một tiếng nữa, các mâm nhậu cũng đã giải tán hết nhưng xem chừng ông vẫn không muốn kết thúc câu chuyện. Nói thật cảm giác như đang ngồi nghe cụ Nguyễn Xuân Sanh nói. Mình đã từng ngồi hứng chuyện cụ Nguyễn Xuân Sanh rồi, khiếp đến già hi hi.


Bảo Ninh thấy mình chịu trận, đứng nép ở cửa cười thích chí, dẩu mồm nói thầm cho mày chết cho mày chết! Tức khí mình nhảy ra kéo Bảo Ninh vào, nói dạ thưa chú đây cũng là nhà văn  Bảo Ninh, người Quảng Bình, con bác Hoàng Tuệ. Tố Hữu bắt tay Bảo Ninh, nói à Bảo Ninh… à, Hoàng Tuệ! Mình tót lẹ ra cửa đứng nép nhìn Bảo Ninh chịu trận, cười khoái trá. Bảo Ninh khúm núm nghe, à dạ vâng rồi tranh thủ ông không để ý, ngoảnh về phía mình chửi thầm sư bố mẹ mày rồi vội vàng ngoảnh lại à dạ vâng. Bất kể Tố Hữu đang nói gì, có khi ông chưa nói xong câu nó đã à dạ vâng rồi lại ngoảnh về phía mình chửi thầm sư bố mày! Nó càng chửi mình càng sướng he he.


Mãi sau, nó vừa à dạ vâng vừa chắp tay giấu dưới gầm bàn lạy mình như tế sao, xin mình cứu cho. Cuối cùng mình cũng đi vào nói thưa chú anh Hữu Thỉnh đang đợi chú rồi dìu ông vào phòng Hữu Thỉnh. Hửu Thỉnh đang ngồi đọc cái gì đó, vò đầu bứt tai ( cái anh này lúc nào cũng đọc được, rảnh phút nào là nhảy vào phòng đọc bài ngay), thấy Tố Hữu vào anh vụt đứng dậy reo to: A, anh! Tiếng reo mừng hồ hởi phấn khởi như thấy bố anh từ vạn kiếp trở về. Hi hi.


Năm sau vẫn vậy, đầu tiên là nhậu nhẹt, sau đó Tố Hữu nói chuỷện, cuối cùng là đố vui có thưởng. Món đố vui có thưởng anh em rất thích, ai cũng muốn mình kiếm được giải thưởng tranh Thành Chương về treo. Nhưng Tố Hữu nói dài quá. Mặc dù Hữu Thỉnh đã nhắc khéo, nói anh Tố Hữu đang rất rất bận, anh chỉ nói chuyện với anh em có 10 phút thôi. Nhưng Tố Hữu đâu có thèm chấp, ông chơi cả 100 phút không dừng. Anh em nói chuyện ồn ào như vỡ chợ ông vẫn cứ nói. Đã gần 10 h rồi mà còn một tiết mục nữa. Trương Vĩnh Tuấn đi vào đi ra mặt nhăn như bị, nói ông Thỉnh sao không nhắc cụ một tiếng nhỉ, chết chết.


 Bỗng có ai đó tắt phụt micro, tưởng ông dừng hoá ra ông vẫn không thèm chấp, vẫn cứ nói. Cho đến khi ai đó cúp cầu dao điện, cả toà soạn tối om, ông mời dừng. Hữu Thỉnh đưa ông xuống cầu thang, mình lúc cúc chạy theo sau. Hữu Thỉnh nói tiếc quá anh nói đang hay lại mất điện. Tố Hữu không nói gì, chắc ông cũng biết, vì cả khu Trần Quốc Toản điện đóm vẫn sáng trưng.


 Thực lòng khi đó mình rất thương ông. Vẫn biết mình đến tuổi như ông thì còn lẩn gấp 10 ông nữa nhưng vẫn thương ông quá. Giá ông đừng làm quan, chỉ làm thơ thì hay biết bao nhiêu.


Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Nhớ Trần Vũ Mai

Trước khi đọc bài Nhớ Trần Vũ Mai, mời bà con đọc tin của  Sài gòn tiếp thị online vừa loan: Ngô Bảo Châu gịât giải Fields, giải Nobel giành cho Toán học:  http://sgtt.vn/


Và  Bee.net.vn tổ chức giao lưu trực tuyến với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: http://bee.net.vn/channel/1983/201008/Anh-Van-va-tro-ly-Trinh-Nguyen-Huan-1764190/


Khoảng năm 79-80 gì đấy thế kỉ trước, mình học năm cuối Bách Khoa vẫn hay sang  khu tập thể Vân Hồ chơi với mấy anh Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Thái  Bá Lợi, Trung Trung Đỉnh… Khi đó họ là các nhà văn trẻ quân đội đang theo học trường viết văn Nguyễn Du khoá I. Một buổi tối mình được các anh cho ngồi nhậu cùng chiếu. Mình còn nhỏ, không biết uống rượu nhưng thích hóng chuyện, được ngồi hóng chuyện mấy ông nổi tiếng còn gì bằng.


Cũng như bất kì cuộc rượu nào của đám nhà văn, lúc đầu còn nói chuyện văn chương lịch sự nhã nhặn lắm, khen cũng nhã chê cũng nhã. Sau bỏ văn chương nhảy sang chuyện thế sự cũng là lúc rượu ngấm thì bắt đầu  tranh luận, người nói chuyện này các ông không biết đâu, người nói mày thì biết cái gì. Đến khi say bỏ cả thế sự nhảy sang chuyện tư cách nhà văn, người bảo mày hèn, người bảo mày ngu, cãi nhau ỏm tỏi, có khi còn táng nhau nữa và rã đám.


Cuộc rượu hôm ấy cũng vậy, chẳng nhớ cãi nhau vì việc gì mà ném đũa đập bát rất kinh. Anh hất cả chén rượu lên mái nhà, nói tao tuy bất tài nhưng hèn thì không, anh kêu tiên sư mấy thằng ngu  làm  chúng ông khổ, anh hét đuổi cổ mấy thằng ngu ra khỏi hội nhà văn đi, nhục lắm. Tóm lại chẳng ai hèn cũng chẳng ai ngu nhưng cuộc rượu thì tan. Chỉ mỗi mình ngồi lại trên chiếu và một anh nằm co quắp nửa trong chiếu nửa ngoài đất. Mình không biết đó là ai. Mãi khi có ai đó kêu to, nói đưa Trần Vũ Mai vào nhà đi, để nó nằm ngoài sương chết thẳng cẳng giờ. Hình như anh Thái Vượng ôm Trần Vũ Mai vào nhà. Mình biết Trần Vũ Mai từ đêm ấy.


Biết là biết vậy chứ hoàn toàn chưa đọc của anh một cái gì. Cứ nghĩ anh này nổi tiếng vậy thôi chứ chẳng có gì đáng kể. Ở  đời thường vậy, rất nhiều người nổi tiếng mà không biết họ nổi tiếng về cái gì, có cái gì để nổi tiếng. Hồi mình ở Huế có ông nhà thơ rất nổi tiếng, dân Huế không ai không biết, đăng đàn diễn thuyết rất hăng, giao du với các bậc đại ca văn chương, hạng nhà văn như mình anh không thèm đếm xỉa. Nghe nói anh vào Hội nhà văn trước 1975, danh tiếng nổi như cồn khắp miền Nam thời chống Mỹ. Ở Huế bốn năm mình chưa nghe anh đọc bài thơ nào, cũng không thấy anh in bài nào, hỏi anh có bài nào hay thì ai cũng đực ra rồi cười trừ, nói nhưng ông này ghê lắm đấy. Mình quyết tìm cho bằng được, hoá ra anh có hai tập thơ  ronéo những năm 69-70, chẳng phải thơ, thứ ca dao hò vè tuyên truyền cổ động.


Nhưng Trần Vũ Mai không vậy. Một tháng sau mình thấy trường ca Ở làng Phước Hậu của Trần Vũ Mai ở phòng Hữu Thỉnh, lập tức nhét bụng đem về ngay. Đọc một lèo hết cả cuốn, bây giờ mới biết Trần Vũ Mai không thuộc típ nổi tiếng suông.


Trường ca Ở làng Phước Hậu của Trần Vũ Mai đến nay lớp trẻ 10 đứa thì 9 đứa không biết, nhưng nó là trường ca bề thế nhất, đúng chất trường ca nhất, trước đó chỉ là những bài thơ dài, nhờ vậy đã mở ra tạm gọi một trào lưu trường ca ra đời sau 1975. Nói thật, mình đọc các trường ca nổi tiếng sau này, hầu hết đều ảnh hưởng trường ca Ở làng Phước hậu, ít nhất về cấu trúc.


Sau này mình còn đọc thêm trường ca Nàng Chim lạc, các bài thơ Cực Nam, Trở lại Cực Nam, Thành phố nghiêng mình.., những truyện ngắn Bậc biển, Dắt đèn, Tâm hồn người bạn... cũng thích. Sáng tác của anh người thích kẻ không, tiếng tăm cũng không nhiều, nhưng nếu ai đọc kĩ anh sẽ thấy  một tầm vóc đáng nể, một tâm hồn đáng yêu.


Sở dĩ phải nói dài dòng như vậy vì khi Trần Vũ Mai mất đi, mà ngay cả khi anh còn đang sống, rất ít người nhắc đến anh, kể cả những bạn bè của anh, suốt ngày bù khú rượu chè với anh cũng ít khi nhắc đến. Trong tất cả các tuyển tập hầu như vắng bóng anh, tuyển tập 45 năm văn học Khánh Hòa,  mảnh đất mà anh đã từng sống chiến đấu và viết nhiều năm trời, có thể nói nửa cuộc đời anh đã cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu với Khánh Hoà, cũng không có tên anh. Rất lạ.


Mình không thân anh, chơi bời với anh cũng ít nhưng quí anh, cả tài và tình mình đều quí. Năm 1985 mình mới nổi có dăm ba truyện ngắn in ở báo Văn nghệ, các anh lớp trước đa phần đều khen theo kiểu xoa đầu, nói cũng được đấy, khá đấy… thế thôi. Riêng Trần Vũ Mai viết cho mình một thư rất dài, khen chê đầy háo hức, nhắc đi nhắc lại kế hoạch in tập truyện ngắn của mình vô cùng phấn khích, nhớ mãi câu cuối: Anh đang ngồi rung đùi chờ bản thảo tập truyện ngắn của em đây, kha kha.


Hồi đó anh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới, nổi tiếng là một biên tập viên đỡ đầu cho nhiều cuốn sách hay ra đời. Vớ phải bản thảo hay anh mừng như cha chết sống lại, khoe khắp làng. Anh ra sức “chiến đấu” với các sếp, bảo vệ từng câu từng chữ của nhà văn. Nhiều đêm anh loay hoay nghĩ ngợi nát óc, tính toán mẹo mực làm sao để qua được mắt sếp câu này chữ kia, sao cho một tác phẩm ra đời không bị què cụt. Lắm khi anh đập bàn đập ghế, văng tục tùm lum chỉ vì một câu một chữ nào đó của nhà văn bị cắt bỏ bị bẻ queo. Làm biên tập như anh có thể nói chỉ đếm được trên đầu ngón tay, đa phần đều làm theo kiểu cơm vua ngày trời, in được thì cũng tốt, không in được cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mình, trăm sự do sếp gánh cả.


Năm 1988 mình ra Hà Nội dự Hội nghị nhà văn trẻ lần thứ 3, hội nghị này oách lắm, oách vì hội nghị lần 2 cách đó đã 15 năm và vì nó qui tụ hầu hết các cây bút nổi lên sau chiến tranh. Một cái hội nghị thôi mà báo chí ầm ầm, quan to quan nhỏ vào ra tới tấp, hầu hết các nhà văn danh tiếng đều có mặt. Mình vừa đến hội nghị đã có người nói này, Trần Vũ Mai tìm mày đấy. Đến trưa ăn cơm lại có người nói này, Trần Vũ Mai tìm mày đấy. Hồi đó chẳng có mobile, cả ngàn người nhốn nháo không sao tìm được anh. Mãi chiều tối tình cờ thấy anh ngồi quán rượu nhỏ ở đường Nguyễn Thái Học. Mình nói anh tìm em làm gì. Anh trợn mắt quát, nói trời ơi, mày quên rồi à,  bản thảo tập truyện ngắn đâu. Hoá ra từ 1985 đến đó anh rất hồi hộp chờ đợi tập bản thảo tập truyện ngắn của mình gửi ra trong khi mình đã quên biến. Mình cảm động quá, có lẽ suốt đời mình không có một biên tập viên nào nhiệt tình với mình đến như thế.


Chỉ tiếc Trần Vũ Mai nát rượu sớm qua, chỉ hơn 40 tuổi đã nát. Hình như anh chỉ ngửi phải mùi rượu đã say, lúc nào cũng thấy anh say sưa, lúc nào mình cũng gặp anh hoặc từ quán rượu bước ra hoặc từ ngoài đường bước vào quán rượu. Trong túi ít khi có được năm ngàn, bạn bè cho được đồng nào uống hết đồng đó, hết tiền thì kí nợ, nợ nhỏ thôi nhưng đầm đìa dầm dề năm này sang tháng khác, rất khổ.


Rượu làm anh ốm yếu oặt oẹo, rượu cũng làm cho bạn bè anh xa lánh dần. Anh không còn minh mẫn như xưa nữa, cứ rượu vào là lẫn lộn lung tung, đầu Ngô mình Sở. Hôm mình ở quê ra, anh vớ được mình lập tức kéo vào quán. Chén đầu anh còn nói Nguyễn Quang Lập  giỏi, mày tài đó em. Chén sau đã hỏi mày tên gì nhỉ. Chừng 4 chén anh đã đứng không vững, lè nhè nói mày viết đéo gì em, văn hay thơ? Chết cười.


Người ta nói Trần Vũ Mai vừa ngủ dậy chưa kịp uống chén nào đã say, thật không sai. Đêm nốc đầy bụng rượu, sáng ra uống nước vào, hơi rượu từ dạ dày bốc lên đã say rồi. Người ta say đâu thì say, họp chi bộ cũng phải đàng hoàng tí chút, anh không. Sáng sớm ra cửa nghĩ bụng dứt khoát mình không say để  họp chi bộ. Nhưng khốn nạn đến cửa Nhà xuất bản Tác phẩm mới còn sớm, thế là ghé vào quán nước chè, mua chén rượu trắng, chỉ một chén thôi là ngà ngà. Lại làm thêm chén nữa, chén nữa... đến khi vào họp anh vặt vẹo như thằng chết rồi, cứ tranh phần phát biểu, không cho ai nói.


Điên tiết người ta đòi khai trừ anh ra khỏi Đảng. Chị Xuân Quỳnh giãy nãy, nói này này, không cho Trần Vũ Mai xuống quần chúng đâu nhé. Chị Lê Minh Khuê nói đúng đúng, Trần Vũ Mai muốn đi đâu thì đi, không cho xuống quần chúng. Anh cười mếu máo, nói các bà không cho tôi xuống quần chúng thì tôi xuống âm phủ à.


Anh xuống âm phủ thật. Một đêm tháng tám năm 1991 anh ngất ngưởng về nhà, đi qua đầm sen, tưởng đất bằng, cứ thế bước xuống và chết chìm đến hai ngày sau người ta mới biết. Hôm trăm ngày của anh, mình có lên viếng mộ. Một nấm mồ nằm trong ruộng trũng, nước hãy còn lỏng bỏng, thật thương. Anh em mỗi người một chai rượu rưới lên nấm mộ của anh, đứng yên mấy phút rồi về, lòng ai nấy buồn tênh. Ôi cái kiếp người, kiếp văn thật chả ra làm sao.


 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

Trọc phú

Mình về quê, cô em họ nói tối nay nhà hát Thị xã có chương trình ca nhạc của nhạc sĩ Tinh Tuý, có giấy mời đây, anh có đi không. Chẳng biết Tinh Tuý là ai, hồi này các nhạc sĩ trẻ nổi lên cũng nhiều, sáng tác như điên, nghe không kịp, toàn những bài na ná nhau, hết nhại Phú Quang sang nhại Ngọc Đại, ca từ hoặc rỗng toếch hoặc nhẹ tênh, chán ốm, định bụng không đi.


Cô em họ nói nhạc sĩ Tinh Tuý nói ông quen anh đấy, hình như học với anh. Cái tên nghe lạ hoắc, quen thân hồi nào nhỉ? Ừ thôi thì đi.


            Tới nơi thấy đông nghịt, vé 180.000 đồng mà đông nghịt. Cô em họ nói giá vé đề cho oai, thực ra toàn giấy mời. Mình cười nói ừ thì mời mà người ta đi cho đông thế này cũng là tốt rồi.


            Cô em họ nói phải tổ chức mời, lôi kéo mọi người vào mới được như vậy, ai mời được một người đi thì được thưởng 10 ngàn, em mời được 6 chục người được 600 ngàn khoẻ re, ke ke ke. Mình ngạc nhiên nói có chuyện đó a? Nó bảo ông Tinh Tuý thiếu gì tiền.


            Hoá ra là thằng Tuỵ học lớp 7 với mình,  nó là Phạm Tuỵ, sao giờ nảy nòi đổi tên là Phạm Tinh Tuý không biết.


Thằng Tuỵ không dốt nhưng lười, học hết lớp 7 thì bỏ, lêu bêu ba bốn năm trời. Nó mê con Thủy lắm, rình con Thuỷ tắm suốt.


Một hôm thấy nó di chân trên cát đi một hình vẽ to đùng, mình hỏi vẽ chi rứa? Nó nói bướm con Thuỷ.  Vẽ xong nó ngồi lọt thỏm vào đấy, tay bó gối mắt nhìn đăm chiều, nói cho tao lấy con Thuỷ. thì sai tao ăn bát cứt tao cũng ăn. Mình hỏi cứt nác có ăn không, nó nói ăn.


            Hôm con Thuỷ. cưới chồng, nó uống rượu say cứ ép bên tường hồi nhà con Thuỷ, sát ngay phòng ngủ vợ chồng Thuỷ. dập liên tục, ở quê gọi là nắt gió.


 Con Thuỷ. đi đâu nó cũng đứng dạng háng chặn lại, chim võng trong quần nói chồng Thuỷ. có bằng con cu của tui không mà chê tui hử!


            Thấy phiền quá, chú nó xin cho một chân làm hậu đài đoàn văn công tỉnh, đuổi nó đi cho khuất mắt con Thuỷ. Thằng Tuỵ thích lắm, ai hỏi làm đâu, nó ra cái vẻ khiêm tốn nói làm ở đoàn văn công, phụ trách hậu đài.


            Ít ai biết việc của nó là kéo dây, mắc đèn, khuân vác bục bệ, nghe nói phụ trách hậu đài là oách rồi, lương tháng năm đồng ba cọc, bù lại gái gẩm có dùng, cũng phởn.


             Thằng Tuỵ to đen như con gấu, mỗi tối biểu diễn, nó cứ lởn vởn quanh khu hoá trang, các cô nhờ nó khi thì lấy cái này, khi thì lấy cái kia, rồi nhờ cột cái tóc, sửa cái giày.. nó vui vẻ làm hết thảy, thỉnh thoảng lại véo cái, vuốt cái... loanh quanh thế nào nó kiếm được ối cô.


            Hồi mình ở tỉnh, nó chuyên kể các nàng ế chồng, các em trẻ ngứa nghề, các bà nạ dòng chồng già, mất sức chiến đấu đều vào tay nó cả. Nó kể một hôm ông trưởng đoàn nghi nó tằng tịu với vợ ông, định đuổi đi, chưa kịp mở mồm vợ ông đã cho một vả rụng hai cái răng cửa. Từ đó nó được chiều chuộng nâng đỡ, uy quyền ra phết.


 Đến đoàn văn công hỏi gặp anh Tuỵ thế nào cũng có người vồn vã dạ đây dạ đây, anh chờ cho chút rồi hộc tốc đi tìm, y chang thằng Tụy là lãnh đạo.


 Nó bảo tao dưới một người trên muôn vạn người, khác gì phó đòan, thằng phó đoàn lơ mơ tao cách chức, khe khe khe .


            Năm 1985 đoàn văn công vào diễn cho xí nghiệp đông lạnh, ông giám đốc phấn khởi nói tặng anh em đoàn văn công tỉnh rẻo đất của xí nghiệp làm quà. Đó là rẻo đất thừa, bùn lầy, rác rưởi nằm ngoài khuôn viên xí nghiệp, ông cho ai trong xí nghiệp cũng chẳng lấy, nên cho đoàn văn công.


 Mọi người ra nhìn rẻo đất chừng vài ngàn mét đất ai cũng ngán ngẩm, bỉu môi không lấy. Thằng Tuỵ nói mọi người không lấy tui lấy, tui làm mấy ao cá nuôi cá chơi.


Thằng Tuỵ lấy xong bỏ đấy cả chục năm chẳng làm gì, đụng đến ngày qui hoạch Thị xã thay đổi, lên thành phố, giá đất lên ầm ầm, mấy ngàn mét đất của thằng Tuỵ thành tiền tỉ, nó lại khéo mua đi bán lại đất đai, chỉ vài năm sau nó thành tỉ phú, tiền nhiều như quân Nguyên, nó mặc nhiên thành ông lớn trong tỉnh, gặp nó ai ai cũng một anh, hai anh, tuyệt không ai dám gọi nó bằng thằng.


Nó thường nhậu nhẹt đàm đạo với các quan chức trong tỉnh, hễ nó nói câu gì cũng được khen giỏi, có đầu óc, tầm chiến lược gia, nghe ù tai.


 Bây giờ nó là nhạc sĩ Tinh Tuý, nổi tiếng khắp tỉnh, bài hát thì chẳng ai nhớ nhưng tên nó cứ nổi như cồn.


 Mình nghĩ mãi không ra làm sao một lúc nó có thể làm được món  nghệ thuật cao sang kia, trong khi một nốt nhạc bẻ đôi cũng không biết.


Hồi lớp 3, cô giáo tập bài Giải phóng miền Nam, hát đi hát lại cả trăm lần, ai cũng thuộc, cô giáo gọi nó đứng lên hát. Bài hát như mắc ngang họng, nó cố khạc ra: giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết quyết quyết... Mọi người cười, nó lườm đe mọi người, nói cười cu tao, rồi hát lại: giải phóng miền Nam chúng ta cùng bước bước bước...


Đêm ca nhạc tưng bừng, thằng Tuỵ khiêm tốn ra cúi chào, vẻ mệt mỏi trước hư danh, các cô gái chạy ào ra tranh nhau tặng hoa, trong đó cô em họ mình. Cô em họ nói phải tranh nhau tặng hoa thì mới được thưởng, nếu lên chậm, rời rạc thì một xu cũng không có.


Ti vi 4,5 cái máy quay, ông nào ông nấy mặt mày nghiêm trọng, lật đật ngược xuôi trong khán phòng.


Mình ngạc nhiên thấy mấy ông lớn nghệ thuật trong tỉnh, dù đã già nhưng danh tiếng vang lừng đều có mặt trên sấn khấu, người thì hát bài hát thằng Tuỵ, người thì phát biểu ca ngợi nó, Tinh Tuý một phát hiện mới, Tinh Tuý một tài năng tiềm ẩn vừa được khám phá...oách kinh.


Anh Hào Hoa nói tao nói Tinh Tuý một tài năng, thằng Tuỵ bỏ bì có 5 trăm, ông Xốc Tới  nói Tinh Tuý một tài năng lớn, nó bỏ bì cho hai triệu, được rồi  lần sau tao nói Tinh Tuý một thiên tài xem nó bỏ bì tao bao nhiêu.


Hết chương trình, mình tìm gặp nó bắt tay, nói chào thiên tài Tinh Tuý. Nó cười rỉ tai nói thiên cái đầu b., chơi ngông tốn tiền bỏ mẹ, khơ khơ khơ.


Một người đàn ông già thâm thấp đi đến, vẻ khóm róm nói dạ thưa anh mời anh lên xe. Thằng Tuỵ vỗ vai người này nói anh Khái. chồng cô Thuỷ, chánh văn phòng công ty tôi. Mình à và bắt tay, ông Khái khom người hai tay nắm tay mình, gập cái đầu thiệt lẹ, rồi lón thón chạy về chiếc Mezcerdez đang chờ, mở sẵn cửa.


Mình lên xe cùng thằng Tuỵ, ông lại khom người kính cẩn, gập cái đầu thiệt lẹ, nói dạ các anh đi. Mình hỏi thằng Tuỵ đi đâu? Nó bảo qua chỗ này nghe tụi nó nịnh tao chút rồi hai thằng mình ngồi với nhau.


Đến nhà hàng, cả trăm người đang chờ, đủ mặt cả: văn nghệ sĩ, quan chức trong tỉnh và các ca sĩ phục vụ đêm nhạc, nhiều nhất là các nhà thơ.


 Thằng Tuỵ bắt tay, nhận hoa, vỗ vai người này, cụng ly người kia, nói cười ha hả. Thằng Tuỵ đi đến đâu ti vi chạy rật rật theo đấy.


Ai cũng nói đêm nhạc thành công, bài này hay, bài kia sâu sắc, hiếm có ai đa tài như Tinh Tuý.


Nhà thơ Hoài Ân nói may trời có mắt, tỉnh mình có Tinh Tuý, không thì nỏ biết lấy chi mà tự hào.


Mấy người nói đúng đúng giả sử Tinh Tuý không sinh ra ở đây có phải tỉnh mình trơ mép không.


Mấy người lại nói đúng đúng không có Tinh Tuý tụi mình bốc cát  mà ăn.


Mấy người lại nói đúng đúng, đừng nói cát, cứt cũng không có mà ăn.


 Thằng Tuỵ nhận những lời khen có vẻ như miễn cưỡng, lấy lệ. Nụ cười khiêm tốn lấy lòng người khen, chắc là được rèn dũa nhiều, rất chuẩn.


Thằng Tuỵ nâng cốc nói giờ tôi có việc phải đi, không vui được với anh em, rất mong thông cảm. Mọi ngươì cứ nhậu thoải mái, nhậu đến sáng cho vui.


Chồng cô Thủy lón thón cầm xấp phông bì đưa từng người một, kèm theo một chai rượu xịn, ông gập lưng đưa phong bì, gập lưng đưa chai rượu, lại gập lưng chào rồi lón thón chạy sang ngươì khác, cứ thế cả trăm người. Nhìn ông cứ thương thương.


Thằng Tuỵ nói anh em mình biết nhau rồi, nói thiệt nhạc của tao đếch  đâu. Tao soạn lời, thằng Khái phổ nhạc, nó lấy tiền, tao lấy tên, rứa thôi.


Mình nói ông không làm nhạc thì người ta giết ông à? Nó cười nói bây giờ phải nhà nọ nhà kia chút làm ăn mới dễ, tiến sĩ thạc sĩ bây giờ mất giá, thèm vào. Tao vốn ở văn công, chọn cái món nhạc là dễ nhất, tiếng tăm mau nổi, gái gú cũng dễ kiếm, cứ véo von mấy điệu dân ca quen tai  là nức nở hết lượt.


Mình nói ông đúng là thiên tài. Nó cười ha hả nói tao không thiên tài thì thằng nào thiên tài đây. Mình nói thế mà tôi tưởng ông trọc phú, nó cười khe khe khe nói trọc phú hết lượt, mình tao à.


Mình lại theo thằng Tuỵ lên xe đi ra bờ biển với nó. Mình nói ông mời cả trăm người nhậu đến sáng cả đống tiền, không tiếc à? Nó bảo  lo chi, nhận xong phong bì, chai rượu chúng nó cút cả đó mà.


Xe ra bờ biển, thằng Tụy. vừa xuống xe, bà chủ quán lật đật chạy ra kêu một tiếng ôi anh ngọt lịm, rồi chạy lui mời anh ra đây! Mời anh ra đây.


Nhìn cái dáng chạy lui của bà, mắt sớn sác, miệng cười gượng, vú sệ rung bần bật, thấy tức cười.


Một cái chòi vắng, nằm nghiêng bờ cát, ở giữa những cây phi lao mắc đèn xanh đỏ mờ ảo dưới trăng rất đẹp.


Mình vừa bước vào đã thấy Thuỷ. Cô bận bộ đồ nền nả, sang trọng, chìa bàn tay thon dài đeo hai nhẫn mặt ngọc nói chào Lập, lâu ngày quá hè. Thằng Tuỵ ôm vai Thuỷ, nói đây là vợ thằng Khái nhưng là bồ của tôi.


Nó rỉ tai nói tao chơi gái nhiều, chưa thấy bướm con nào hay như con này, lông  nó rẽ ngôi, hai xoáy, giống y chang đầu bố vợ tao, khơ khơ khơ .


Hôm sau mình ra Hà Nội, chỉ con Thuỷ đến, nó đưa gói quà thằng Tuỵ cho mình, nói anh Tinh Tuý bận tiếp khách sở không ra được.  Mình nói họp gì họp khiếp thế. Thuỷ nói họp chi mô, thấy anh Tinh Tuý có chút tiền chúng đeo anh suốt ngày, tệ lắm.


Mình nói không ngờ cuối cùng hai bạn lại yêu nhau. Thuỷ nói Lập đừng nghĩ mình lăng nhăng, anh Tinh Tuý tâm hồn như rứa ai mà không yêu.


 

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Vàng Ảnh Vàng Anh

Mình quen Vàng Anh ( Phan Thị Vàng Anh) từ năm 1996, khi tổ chức  phi chính phủ CARE ( Úc) kết hợp với Đài truyền hình VN sản xuất  phim truyền hình Gió qua miền sáng tối. Đây là phim truyền hình dài tập đầu tiên ở nước ta, vì thế phim chỉ có 23 tập thôi, mỗi tập chỉ 30 phút, mà người ta điều động gần chục anh tài tham gia viết kịch bản: Lê Phương, Lê Hoàng, Mường Mán, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Quang Thiều, Đoàn Minh Tuấn, Thuỳ Linh và mình, tất cả mình đều quen biết từ trước trừ Vàng Anh.


Mình không hề biết mặt Vàng Anh, nó cũng vừa mới nổi sau cuốn Khi người ta trẻ, nghĩ bụng nó còn con nít lại nghe nói không xinh lắm nên chả quan tâm, hi hi. Hôm đầu tiên gặp mặt nhóm biên kịch mình đến hơi muộn, đang lơ ngơ đi dọc hành lang tầng hai kiếm phòng để vào thì va phải Vàng Anh cũng đang lơ ngơ kiếm phòng. Nó cười rất tươi, nói anh Lập hả. Mình cũng biết ngay đó là Phan Thị Vàng Anh, nhìn nó cười cười, nói tưởng không xinh hoá ra kháu phết. Nó kéo mình vào phòng họp, nói thong thả đã rồi tán, gì mà vội thế. Từ đó anh em thân nhau, suốt mấy tháng trời ở CARE ngồi đâu cũng kè kè bên nhau như là bồ bịch.


Nhà văn là vậy, người ta nói văn kì thanh quả không sai. Biết tiếng nghe tên nhau, đọc nhau mãi rồi đến khi gặp nhau cứ như quen nhau từ vạn kiếp, nói chuyện với nhau bỗ bã như người nhà. Mấy tháng làm ở CARE anh em chọc ghẹo nhau đủ thứ chuyện trên đời, rất vui. Có ba nhà văn nữ mà người ta rất sợ phải đốp chát với họ, cũng không dám chọc ghẹo gì, đó là Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài và Phan Thị Vàng Anh. Ba mẹ Đốp văn chương Việt này thông minh trời sợ, đàn ông râu coặp chẳng ai dám ho he. Nhưng mình không sợ, vẫn đốp chát chạnh choẹ với cả ba.


Chị Hương thì hình như còn sợ mình nữa, hi hi. Bao nhiêu người độp chị một chị độp lại mười, chị còn xoa đầu mấy ông lớn tuổi gọi em ơi con ơi. Nhưng mình thì không, hễ mình độp là chị cười rất hiền không nói gì. Phạm Thị Hoài cũng vậy, có hôm mình thấy nó mắng cái ông bồ nửa nắng của nó như tát nước, mình chọc ghẹo nó hoài nó chẳng nói gì, chỉ nguýt cái rồi thôi chứ chẳng nói gì. Riêng Vàng Anh là khác, mình độp một nó độp một, chơi tay bo luôn chẳng ngán gì cái ông trời sợ, đến Nguyễn Khải còn ngán nhưng nó chẳng ngán.


Có cảm giác người ta vừa mở mồm là nó đã hiểu người ta định nói gì rồi. Ngồi thảo luận đề cương với bà biên kịch người Úc tên gì quên mất rồi, chỉ nhớ bà biên kịch phim Trở lại Eđen  rất nổi tiếng, nó đề xuất một ý được bà khen nức nở. Tưởng mũi nó phồng lên như hai quả cà, ai dè đương khi bà nói thì nó rỉ tai mình, nói anh Lập chờ nhé, bà sắp but ( nhưng) rồi đấy. Quả nhiên sau đó bà chê, bác bỏ hoàn toàn đề xuất của nó. Nó cười hi hi lại rỉ tai mình, nói đó, thấy chưa thấy chưa.


 Một hôm mình nheo mắt nhìn nó rồi đọc bài Mèo con đi học nó viết từ thời bé con, vừa đọc vừa sờ mép Hôm nay trời nắng chang chang./  Mèo con đi học chẳng mang thứ gì/ Chỉ mang một chiếc bút chì/ Và mang một mẩu bánh mì con con. Nó cười hì, nói anh định nói sự nghiệp thơ ca của Phan Thị Vàng Anh chỉ mỗi bài đó, đúng hông. Em ngang với Ngô Văn Phú nhé, Ngô Văn Phú chỉ mỗi bài này thôi: Trên trời mây trắng như bông/ ở dưới cánh đồng bông trắng như mây/ mấy cô má đỏ hây hây/ đội bông như thể đội mây về làng, thế mà thành nhà thơ đấy, biết chưa!


Mình ngồi biên tập kịch bản với nó hai ba tháng, chưa một lần nó nhìn mình âu yếm, chỉ chực mình đề xuất cái gì để cãi lại. Nó cãi cái gì mình thua cái đó, sao nó lắm lý thế không biết, chuyện có lý hẳn hoi, nó nói loanh quanh một hồi mình trở thành thất lý, tức kinh. Mình chọc nó, nói yêu là ngộ nhận, nhờ lừa nhau mà thành, em ranh như cáo thế đàn ông có thằng nào lừa nổi em. Nó cười cái hậc, thì em lừa chúng nó. Lừa quách cho xong, nghe chúng lừa chán chết, vừa sến vừa quê bực cả mình.


  Hi hi hèn gì Lê Hoàng nói năm bốn lăm thế kỉ trước Mỹ ném một quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Nửa thế kỷ sau tổng thống Mỹ hối hận, ông tuyên bố đáng ra không cần ném bom mà chỉ ném Phan Thị Vàng Anh xuống cũng đủ làm cho Nhật đầu hàng. Mình hỏi nó, nói nếu ném Phan Thị Vàng Anh lên giường Lê Hoàng thì tình hình thế nào nhẩy. Nó cười hơ hơ hơ, nói thì Lê Hoàng kéo cờ trắng đầu hàng khẩn trương, còn thế nào nữa.


 Đàn ông trêu chọc nó chỉ bằng thừa, đố ai làm được nó đỏ mặt. Ngồi với đám mày râu văn chương, tục tĩu phun tràn cung mây mặt nó cứ tỉnh bơ không xí hổ cũng chẳng giả đò ngượng ngùng e lệ như mấy mự nạ dòng tiểu thị dân. Một hôm mình với thằng Tiến (Phạm Ngọc Tiến) tắm ở phòng tắm gác hai Trung tâm nghe nhìn, ngó xuống thấy nó với Thuỳ Linh đi dưới sân, hai thằng chõ mồm qua cửa sổ hét vang vang, nói Vàng Ảnh Vàng Anh.. có phải vợ anh… chui vào buồng tắm. Nó dơ nắm đấm  lên đe, nói này này, đừng có ba hoa, em chui vào phát là mấy ông teo cơ hết lượt đó nghe chưa.


 Những năm chín mươi phong trào bia ôm phát triển rầm rộ, đàn ông ít ai không một lần chui vào quán bia ôm. Thời này thịnh hành bài hát nhại theo bài Đâu có giặc là ta cứ đi của Đỗ Nhuận, ngồi đâu cũng nghe đám đàn ông gào thét: Thời bia ôm có rất nhiều mới lạ/ không phải bồ không phải vợ mà ôm/ mấy năm trước sống cơ cực rượu bia không có uống/ Đời chúng ta không quán nào là không có ôm. Hồi đó tụi mình còn trẻ khoẻ, hễ kiếm được chút tiền là rủ nhau đi bia ôm.  Hôm CARE thanh toán cho một mớ tiền, mình rủ cả hội đi bia ôm, Vàng Anh chạy theo kêu ơi ới, nói anh Lập anh Lập.. cho em đi theo với.


  Mình trợn mắt quát, nói  việc của đàn ông đàn ang em theo làm cái gì, thích ôm à. Nó xuống giọng năn nỉ, nói thì em viết văn không lẽ không biết bia ôm là gì, đụng may phải viết mấy thứ đó thì viết làm sao. Nghe nó nói bùi tai mình cho nó theo. Đến nơi nó ngồi một mình nhấp ly bia vếch mảy nhìn mấy ông anh vừa uống vừa vọc gái, mặt mày nó cứ tỉnh  như không, như đang ngồi xem phim vậy. Tan cuộc, mình nói em thấy thế nào, nó bĩu môi hất mặt lên, nói chời chời, bây giờ mới biết đàn ông các anh quê mùa đến thế nào, nhạt như nước ốc thế mà đổ cả đống tiền mua vui, ngu quá là ngu.


Gần gũi Vàng Anh, nghe nó nói đủ thứ trừ văn chương và Chế Lan Viên. Khác với nhiều người con cái nhà văn lớn, nghệ sĩ lớn hễ mở mồm là ông cụ tôi thế này bà cụ tôi nói thế kia, nó tuyệt nhiên không. Cũng chưa bao giờ nghe nó nói về văn nó. Còn như hỏi nó sắp tới viết gì thì bị nó coi như câu hỏi ngu nhất mọi thời đại.


Nó thuộc diện cả thèm chóng chán, đang khi người ta đang bàn tán xôn xao hai tập truyện ngắn Khi người ta trẻHội  chợ của nó thì nó bỏ đi làm báo. Nó viết cho  báo TT&VH, mục Tôi xem nghe đọc thấy  với cái tên Thảo Hảo, tập hợp lại thành cuốn sách Nhân trường hợp chị thỏ bông. Đang khi người ta đang nức nở cuốn sách này, coi như một tập tản văn đặc sắc thì nó bỏ đi làm thơ. Tập thơ Gửi VB của nó được giải HNV, người khen kẻ chê rầm trời, nó kệ, lại bỏ đi làm phim. Nó tự quay và dựng bộ phim tài liệu Trong phường Thành Công, có làng Thành Công, kể chuyện làm loa phường rất độc đáo. Mình nhớ hình ảnh cuối cùng cái loa phường nằm trơ trọi giữa chợ đời, một hình ảnh độc không chê vào đâu được.


Hiếm có nhà văn nữ nào lại biết mình là ai, đang ở đâu, phải làm gì như nó. Nó tự làm tự biết, thiên hạ tha hồ bàn tán, thích là nó làm chẳng sợ gì sất. Đại hội nhà văn lần thứ VII nó trúng Ban chấp hành, mình gặp nó cười toe toét, nói chời chời, Vàng Anh cũng vào BCH hà bay. Nó cười hì hì, nói thì cũng giống bia ôm vậy, không vào sao biết nó là cái gì. Viết đến đây mình gọi điện cho nó, nói sắp đại hội nhà văn rồi, đã chán BCH chưa. Nó lại cười hì hì, nói chán lằm òi, đợt này có các vàng em cũng chẳng vào nữa, thà đi bia ôm với anh còn có lý hơn. Hi hi.

Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010

NHÌN TỪ GẦN… ĐẠI HỘI NHÀ VĂN

NGUYỄN DUY


Bài này Nguyễn Duy viết năm 1989, tại đại hội nhà văn lần thứ IV. Đại hội kéo dài 11 ngày, đến ngày thứ tư anh Duy đã đọc cho nhiều người nghe sơ khảo của bài này, ai cũng ôm bụng cười, thích lắm. Đến ngày thứ 11 thì Nguyễn Duy đã hoàn chỉnh, anh đọc nhiều người tranh nhau chép. Vừa rồi bọ thấy blog bác Ngô Minh và website bác Trần Nhương có đưa bài này lên nhưng sai và sót nhiều quá.


Bọ đã trực tiếp nhờ bác Nguyễn Duy chỉnh sửa lại cho thật chính xác. Bác Nguyễn Duy làm ngay, còn viết thư: "Rất tiếc chưa có thì giờ để làm rất nhiều các chú giải, điển cố, điển tích và khảo dị… Sinh động lắm, vui lắm, thí dụ: “đổi mới, dân chủ, lại thêm kết đòan” là tiêu chí đại hội IV: “Đổi mới – Dân chủ - Đòan kết”.. Hoặc “Oan khiên này biết giãi cùng ai”: Hội trường Ba Đình hồi đó đang cho thuê diễn chèo, khi đại hội Hội Nhà văn VN khai mạc, vẫn còn cái băng-rôn giăng ngòai cửa “CHIẾC BÓNG OAN KHIÊNĐạo diễn Dõan Hòang Giang”... Nhiều nhiều lắm… Xin hẹn lúc thong thả sẽ làm."


Vậy bọ post bài ni lên cho bà con coi để nhớ một kì đại hội nhà văn có tiếng vang cho đến tận bây giờ. Đây là kì đại hội đặc sắc nhất kể từ khi có Hội nhà văn, nó biểu hiện rõ nhất tâm trạng xã hôị đương thời. Kể từ đại hội này người ta mới biết hai tiếng dân chủ ngọt ngào và cay đắng như thế nào.



Thuở trời đất lên cơn đại hội
dân làng văn lắm nỗi truân chuyên
xanh kia thăm thẳm tầng trên
vì ai xa cách cho nên nỗi này


Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt
sương Ba Đình mờ mịt thức mây
mấy lần nghị quyết trao tay
đêm đêm bàn bạc định ngày khai trương


Phút khởi sự hội trường ngơ ngác
bác Đông Hoài giảng Mác-Lê Nin


nhà văn phải có niềm tin
đổi mới dân chủ lại thêm kết đoàn


Hội bảo thọ tràng giang hùng biện
tới Bắc Kinh bàn chuyện Xô Nga
chập trùng tư tưởng gần xa
đứt thôi lại nối thấp đà lại cao


Tao ngộ chiến ào ào sấm nổ
tưởng cơ đồ sụp đổ tới nơi


ối giời ơi bác Sáu ơi
nhà ta nó phá tan rồi còn đâu


Trang giấy trắng một màu quan ải
oan khiên này biết giãi cùng ai
chỉ vì mấy đứa đơn sai
văn đàn bỗng hoá văn đài phải chăng ?


Nguyễn Khải lặn mất tăm đâu đó
Chính Hữu chờ sóng gió qua mau
Bùi Bình Thi rút ván cầu
PhạmTiến Duật lủi đi đâu mất rồi


Chàng Hữu Thỉnh dở cười dở khóc
Ngọc Tú nàng bứt tóc vò tai
Đỗ Chu tế ngựa vòng ngoài
gặp ai cũng hỏi rằng ai nhớ mình


Mặt Anh Đức vênh vênh vẹo vẹo
mắt đăm đăm liếc xéo hội trường
Phạm Tường Hạnh vứt văn chương
vọt lên đánh hụt một đường đại đao


Trần Độ biến nơi nào chẳng thấy
thấy phất phơ có mấy tờ thư
phấp pha phấp phới ngôn từ
đoàn chủ tịch cứ ậm ừ mần thinh


Lương Qui Nhân ngồi im thin thít
ghế cao cao nóng đít Tiến Lê
Chu Văn thủ thỉ Ý Nhi
lâu lâu lại lé mắt về Lê Minh


Nguyễn Văn Hạnh một mình một ngựa
phá trùng vây ở giữa sa tràng
quyết lòng mở ruột phơi gan
đã vì đồng đội gian nan sá gì


Biết cứu nạn lắm khi mắc nạn
tâm huyết nhiều mất mạng như không
Thuỳ Mai nước mắt lưng tròng
cõng Bùì Minh Quốc qua vòng hiểm nguy


 Tô Nhuận Vĩ tức thì gượng dậy


Sông  Hương vừa bị gãy xương hông


Ngọc Tường đối trọng khỏang không


Khoa Điềm tấm tức tấc lòng băn khoăn


Mai Ngữ sử dao găm súng lục
Mắt Liên Nam đùng đục điên điên
quay cuồng một trận Quốc Liên
Thu Bồn nộ khí xung thiên tung hoành


Trần Mạnh Hảo ành ành hỏa pháo
Diệp Minh Tuyền Vũ Bão xuất chiêu
Võ Huy Tâm tuổi về chiều
chấn hưng phong hoá cũng liều tấm thân


Phong Lê nổi rần rần lửa giận
đốt túp lều lý luận con buôn
thình lình hiện một Thu Hương
phăm phăm thân gái dặm trường xông pha


Câu thơ luống đắn đo chẳng viết
viết cho ai, ai biết mình đây ?
Nguyễn Duy líu lưỡi chau mày
một phen sống sót là may lắm rồi


Ngoảnh cổ lại ngùi ngùi nhỏ lệ
thảm thương thay huynh đệ tương tàn
chỉ vì mấy mống bút gian
mà nên tao tác cả làng văn ta


Quần hùng bỗng chia ra hai phái
phái vui tươi và phái hằm hằm


phái hằm hằm mặt nhăn nhăn


chỉ thêm khốn khổ nhọc nhằn mà thôi


Phái vui tươi nói cười hể hả
mặc bia hơi đóng giả bia chai
rằng chai thì thật là chai
rót ra ấm ấm khai khai cũng tình


Mẹ và em đều xinh đẹp cả
Mây mỡ gà, Mỹ Dạ thướt tha
Khánh Linh đỏ tựa ráng pha
Anh Thơ áo trắng như là tuyết in


Xuân Cang cứ im lìm gang thép


Nguyên Ngọc cười toe tóet rất tươi


Hồ Phương tới tới lui lui


đầu đội mũ cối mình ngồi Pơ-giô


 Bằng Việt khéo ngơ ngơ ngác ngác


Lê lựu nhìn nhớn nhác không yên


Hữu Mai thắc thỏm đứng tim


khấn Ông Cố Vấn ở trên lưng trời


  Sân khấu chuyển sang hồi bầu cử
vận động ngầm , ấm ứ nhỏ to
nhà văn thì cứ tự do
thằng nào xứng đáng ta cho vào hòm


Hòm phiếu đỏ niêm son đã mở
có Hữu Tòng đả hổ trưởng ban
dáo gươm xếp lại hai hàng
phiếu bầu cao nhất về Quang Sáng rồi


 Phút ngờ nghệch bồi hồi cởi mở


thở đánh phào hớn hở tin yêu


dẹp đi cái cuộc liêu xiêu


tiếng gươm khua tiếng thơ kêu xé lòng


Đại hội đã thành công tốt đẹp
ban chấp hành đứng xếp hàng ra
Tổng thư ký của hội ta
tướng công vốn có hiệu là Văn Ngan


Lời chia biệt hàng hàng châu ngọc
tiếng cười chen tiếng khóc lâm li
nghẹn ngào kẻ ở người đi
lặng nghe bác Nguyễn Đình Thi tiễn mình…


(Đại hội IV Hội Nhà văn VN, tại hội trường Ba Đình, Hà Nội, ngày?tháng ?.1989)