----------------
Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013
NHỚ LẠI CHUYỆN XƯA - Kỳ 1
* PGS.TS VŨ TRỌNG KHẢI
Vài lời phi lộ:
Tôi không có ýđịnh viết hồi ký, với một lẽ đơn giản là đời tôi giản đơn! Hơn nữa, việc viết hồi kýđòi hỏi phải biết chính xác ngày giờ, địa điểm, bối cảnh xảy ra sự kiện, có thể “truy xuất” nguồn gốc của chúng, mà điều đó vượt quá khả năng của tôi. Người già sống bằng hoài niệm, những ký ức xưa, vui có, buồn có. Nhưng nay, nhớ lại, nó trở thành niềm vui, sức sống của tuổi già. Do vậy, tôi cũng định khi bước sang tuổi 70, tức là sau ngày 15/04/2014, tôi mới khai bút. Nhưng ngày 27/10/2013, tôi có dịp trở lại HTX Mỹ Thọ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, nơi cách đây hơn 40 năm, chính xác là vào tháng 08/1973, tôi và các thành viên của tổ công tác chỉ đạo xây dựng môhình quản lý mới tại HTX này, đãđến đây và ở lại trong suốt 3 năm liền; Và sự tái ngộ không báo trước này với những người ở địa phương đãdậy lên trong tôi cảm xúc sâu đậm và bất ngờ. Do vậy, sợ để lâu sẽ mất cảm xúc, tôi đãkhai bút sớm. Những câu chuyện của tôi được kể ở đây không theo trật tự thời gian mà theo “qui luật” của cảm xúc.
Vậy thôi, mọi chuyện xảy ra đều ngẫu hứng và giản đơn như chính cuộc đời tôi.
* * *
Câu chuyện thứ nhất
HAI KILOGAM THÓC VÀ BỐN HÀO
Sáng 27/10/2013, tôi và 2 người bạn đồng môn của khoa Kinh tế Nông nghiệp, đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khóa V (1963 – 1967) – anh Khúc Đình Vạn (sinh 1941) quê ở xã Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, cựu Chuyên viên Kinh tế của Bộ Kế hoạch – Đầu tư và anh Phạm Huy Khảo (sinh 1945), quê ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, đại tá, cựu Phó tổng biên tập Báo QĐND, rời Hà Nội trên chiếc xe Laser 4 chỗ, mượn của Trường Cán Bộ Quản Lý NN và PTNT 1, qua đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Rẽ để đến HTX Mỹ Thọ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (trước đây là Nam Hà và Hà Nam Ninh).
Cảnh cũ không còn, người xưa chẳng hay ai còn, ai mất, tôi phải hỏi đường mới đến được ngôi chùa ở Làng Văn Phú, xã Mỹ Thọ, mặc dù nó ở ngay sát đường sắt chạy từ Phủ Lý đến Nam Định. Đến trước cổng chùa, tôi còn đang ngỡ ngàng vì ngôi chùa đã được xây lại khang trang, chưa gặp được ai để hỏi thăm, bổng có một người đàn ông trạc tuổi U60, đi xe đạp ngang qua, hỏi với giọng hơi “hách”: “các ông đi đâu?”. Tôi trả lời: “tôi đến Chùa Văn Phú, nơi cách đây 40 năm, tổ công tác của chúng tôi đã ở đây và làm việc”.
Người đàn ông có vẻ “hạ giọng”: “Bác Thảo?”. - Không! - tôi trả lời. “Bác Khải. Người đàn ông lại nói. “Đúng thế, lúc chúng tôi ở đây, anh bao nhiêu tuổi?" -Tôi hỏi.
- Tôi 17, 18 tuổi.
Tôi lại hỏi:
- Anh tên gì? và làm gì?.
- Tôi là Bằng, trưởng thôn Văn Phú.
"À, ra vậy nên anh ta mới có cái giọng hách dịch lúc ban đầu gặp gỡ - tôi thầm nghĩ.
Tôi hỏi tiếp:
-Anh có nhớ gì về tổ công tác chúng tôi không?.
- Hai cân thóc và bốn hào!
Câu trả lời tức thì, không cần suy nghĩ của người trường thôn 57 – 58 tuổi ấy khiến tôi hết sức ngỡ ngàng và xúc động. Hai người bạn của tôi cũng có phần nào hiểu và xúc động trước câu trả lời ấy. Người ngoài cuộc và các bạn trẻ hôm nay, dù là các chuyên gia giỏi về kinh tế NN và PTNT cũng không dễ gì hiểu được câu trả lời của người đàn ông này khiến tôi ngạc nhiên.
Vốn là thế này:
- Tôi 17, 18 tuổi.
Tôi lại hỏi:
- Anh tên gì? và làm gì?.
- Tôi là Bằng, trưởng thôn Văn Phú.
"À, ra vậy nên anh ta mới có cái giọng hách dịch lúc ban đầu gặp gỡ - tôi thầm nghĩ.
Tôi hỏi tiếp:
-Anh có nhớ gì về tổ công tác chúng tôi không?.
- Hai cân thóc và bốn hào!
Câu trả lời tức thì, không cần suy nghĩ của người trường thôn 57 – 58 tuổi ấy khiến tôi hết sức ngỡ ngàng và xúc động. Hai người bạn của tôi cũng có phần nào hiểu và xúc động trước câu trả lời ấy. Người ngoài cuộc và các bạn trẻ hôm nay, dù là các chuyên gia giỏi về kinh tế NN và PTNT cũng không dễ gì hiểu được câu trả lời của người đàn ông này khiến tôi ngạc nhiên.
Vốn là thế này:
Thời đó, hầu như nông dân ở miền Bắc đều là xã viên HTX, được xây dựng và hoạt động dựa trên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất và các tư liệu sản xuất cơ bản, như trâu bò cày kéo, với cái cày “51” và bừa chữ “Nhi”, cào cỏ 64A. Xã viên đi làm ruộng theo hiệu lệnh của đội sản xuất: Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn (thơ Tố Hữu). Xã viên HTX được trà thù lao bằng “công điểm”, cứ 10 điểm là 1 công, 1 ngày lao động 8 giờ, tùy theo công việc được trả từ 8 điểm đến 16 – 20 điểm. “Công điểm” như là một thứ “tiền nội bộ” của riêng mỗi HTX, cuối vụ, cuối năm, quyết toán ăn chia, phân phối, xã viên mới biết giá trị của 1 công (10 điểm) là bao nhiêu kg thóc và bao nhiêu tiền.
Do “cha chung, không ai khóc”, HTX quản lý lỏng lẽo, nên tình trạng “phóng công, rong điểm” tương tự như lạm phát tiền tệ vậy, diễn ra phổ biến và nghiêm trọng. Do thế, ở phần lớn các HTX, với 1 ngày công (10 điểm), cuối năm, xã viên chỉ nhận được từ HTX vài ba lạng thóc. Thế mà sau 1 năm chỉ đạo, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và mô hình quản lý mới, xã viên HTX Mỹ Thọ không thể ngờ là mình nhận được “2kg thóc và 4 hào” cho 1 ngày công (10 điểm). Bốn hào ngày ấy lớn lắm, với giá 1 kg thóc mà HTX bán cho nhà nước trong mức nghĩa vụ là 3 hào, vượt nghĩa vụ là 9 hào ( 10 hào là 1 đồng); Lương của cử nhân kinh tế mới ra trường chỉ có 51 đồng, sau 24 tháng tập sự mới được nhận 60 đồng. Lương khởi điểm của người lao động phổ thông là 27 đồng/ tháng.
Ba chúng tôi và anh Bằng, trưởng thôn Văn Phú, cùng vui vẻ đứng chụp một kiểu ảnh trước cửa Chùa Văn Phù để "kỷ niệm 40 năm, gặp lại” (Người bấm máy là một ni cô trong Chùa Văn Phú).
Ba chúng tôi và anh Bằng, trưởng thôn Văn Phú, cùng vui vẻ đứng chụp một kiểu ảnh trước cửa Chùa Văn Phù để "kỷ niệm 40 năm, gặp lại” (Người bấm máy là một ni cô trong Chùa Văn Phú).
Từ trái qua phải: Ông Phạm Huy Khảo, Ông Khúc Đình Vạn,
Ông Bằng - Trưởng thôn, và tôi – Vũ Trọng Khải.
* * *
Câu chuyện thứ hai
CẤY GIĂNG DÂY, THẲNG HÀNG
Hồi ấy, một tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lúa nước do Tiến sĩ Nông học Lương Định Của khởi xướng và được Bộ Nông nghiệp chỉ đạo áp dụng rộng rãi là cấy lúa thẳng hàng để có thể sử dụng cào cỏ sục bùn 64A. Muốn vậy, các xã viên phải tập cấy trên sân trước và phải giăng dây thì mới đảm bảo cấy thẳng hàng. Kỹ sư nông học Lê Thảo, (1938 – 1976), tổ trưởng tổ công tác, người dày dạn kinh nghiệm trong việc chỉ đạo sản xuất nông nghiệp (tương tự như cán bộ khuyến nông 3 cùng của công ty Cổ phần Bảo vệ Thực vật An Giang bây giờ) đứng ra tập huấn.
Chị em xã viên là lực lượng cấy lúa (và 3 đảm đang nữa), tuổi đời phổ biến là trên dưới 40, đều có chồng, con, nhưng phần lớn “phòng không”, vì chồng họ đi bộ đội hoặc công tác ở xa quê nhà. Sau khi nghe và xem kỹ sư Lê Thảo hướng dẫn, cấy thị phạm, các chị xã viên thuộc loại “nạ dòng”, không chịu thực tập, cứ túm 5 tụm 3 cười rúc rích. Kỹ sư Lê Thảo kiên nhẫn nhắc nhở nhiều lần, nhưng chị em vẫn không nghe lời. Bổng có 1 chị tuổi xồn xồn, nói lớn: “Này ông kỹ sư ơi, chị em chúng tôi biết cấy lúa từ lúc lông l… còn lấm tấm cơ. Việc gì bây giờ chúng tôi phải tập cấy lúa trên sân cơ chứ?”.
Tất cả chị em đều cười ầm sau lời nói đó. Tôi thì đỏ mặt, vì lúc đó mới U30, chưa vợ. Chỉ có K.S Lê Thảo là lớn tuổi, có vợ con, với bề dày kinh nghiệm chỉ đạo, vẫn bình thản nói: HTX trả công 10 điểm cho buổi tập cấy, ai không nghe lời tôi, sẽ không được chấm công. Thế là các chị em nghe lời răm rắp. Âu cũng là cái sức mạnh của HTX kiểu cũ, của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã từng tổn tại khá dài trong lịch sử phát triển nông nghiệp nước ta. Vụ Đông Xuân 1973 – 1974 thắng lợi lớn, một phần cũng nhờ kỹ thuật cấy thẳng hàng và làm cỏ xục bùn bằng bàng cảo cỏ 64A. Vì thế, mỗi ngày công xã viên HTX Mỹ Thọ mới nhận được 2kg thóc và 4 hào.
12/2013
V.T.K (Chuyên gia độc lập về Kinh tế nông nghiệp và PTNT)
(còn nữa)
----------------
Quản lý Hoàng Sa và Trường Sa dưới thời Tây Sơn và nhà Nguyễn
| Ngày cuối năm 2013, nhìn về Chủ quyền Biển-Đảo Việt Nam ![]() |
| Bản đồ Việt Nam có QĐ Hoàng Sa thời Nhà Nguyễn |
BVB - Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên nắm quyền... và được tiếp tục trong thời Tây Sơn và nhà Nguyễn.
Tại tỉnh Quảng Ngãi từ lâu đời đã tồn tại Di tích miếu Hoàng Sa ở đình làng Lý Hải thuộc đảo Lý Sơn. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa, Bắc Hải đặc trách công việc khai thác và bảo vệ biển Đông từ tuyến ngoài.Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được... Các hình thức thực thi chủ quyền này được tiếp tục và phát triển trong thời Tây Sơn và triều Nguyễn.
Triều Tây Sơn
Thành tựu vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau nhiều thế kỷ bị chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài. Đây cũng là lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay. Cũng là lần đầu tiên toàn bộ đường bờ biển chạy dài từ Vịnh Bắc Bộ đến Vịnh Thái Lan với hàng ngàn hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài biển Đông đã thuộc về quyền kiểm soát của Nhà nước Việt Nam.
Giống như các chúa Nguyễn trước đây, Triều đại Tây Sơn của Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông. Đội Hoàng Sa thời kỳ chúa Nguyễn được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vĩnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
![]() |
| Sách giáo khoa thời Nhà Nguyễn dạy về Chủ quyền QĐ Hoàng Sa, Trường Sa |
Hằng năm, cứ vào tháng 2 đội xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân.
Có lẽ vì đội Hoàng Sa không quản lý hết được vùng biển đảo rộng lớn nên chúa Nguyễn đã quyết định đặt thêm đội thuyền Bắc Hải. Đội này do đội Hoàng Sa kiêm quản và cũng có nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa nhưng chỉ hoạt động ở khu vực phía Nam , từ Bắc Hải, Côn Lôn cho đến các đảo ở vùng Hà Tiên. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh Bình Thuận và không cố định số suất thủy thủ như đội Hoàng Sa.
Phong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773, đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn.
Vào ngày 15 tháng giêng năm 1776, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ: "Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm”.
Tờ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (vua Thái Đức) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được Chỉ thị ngày 14/2 năm thứ 9 hiệu Thái Đức (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công "Sai Hội Đức hầu Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thắng tiến Hoàng Sa cùng các sứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội".
Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của dân xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê "chuẩn cho". Văn bản chép rõ: "Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)" và "niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801). Khi ấy John Barrow là phái viên của phái bộ Macartney đi từ Anh sang Trung Quốc có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (dưới triều vua Quang Toản), trong A Voyage to Cochinchina, in the year 1792-1793 (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793) mô tả: "Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa)".
Từ những tư liệu hiện có, đã xác định được chủ quyền trên các quần đảo ngoài biển Đông dưới thời Tây Sơn. Thời ấy tình hình nước Trung Hoa rất phức tạp, nhiều người chống đối chính quyền Mãn Thanh đã phải phiêu bạt trên biển đông, triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ: "Họ’’ (dân Tàu) ra vào nơi bể nước (biển Đông), tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm vậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy. Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người thậm chí chấp thuận cho cả "những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo". Quy thuận những người Trung Hoa phiêu bạt trên biển Đông và sử dụng họ tham gia vào công việc nhà nước là một chính sách quan trọng và có tính chiến lược của vương triều Tây Sơn lúc ấy.
Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) cho biết: Có nhiều người Trung Hoa làm nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải vương: "Triều đình đang bận việc dẹp phía Tây, chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796) vị tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, Tổng đốc lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo đã được An Nam cho làm Tổng binh và cấp cho ấn" (Tr.25b).
Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô tả "Di thuyền" (thuyền của quân Tây Sơn) cao, to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân nhà Thanh gặp thì cũng khó có thể địch được. Đây là một bằng chứng khẳng định lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa biển Đông.
Thời Nhà Nguyễn
Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan trọng của triều Nguyễn thế kỷ 19 vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông là sự tiếp nối chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy.
Nhà Nguyễn quan tâm đến hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế biển từ rất sớm. Các hoạt động vươn ra biển Đông của nhà Nguyễn thời ấy chính là nhằm khẳng định chủ quyền lãnh hải và khai thác biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được ghi chép tương đối đầy đủ, thống nhất trong các bộ sử ký của nhà Nguyễn, cũng như trong các tài liệu của người nước ngoài mà chúng ta thu thập được trong những năm đổi mới và mở cửa hội nhập...
![]() |
| Tờ lệnh Hoàng Sa |
Theo tư liệu lịch sử, Thích Đại Sán là một trong những vị cao tăng người Trung Hoa được chúa Nguyễn mời đến đất Thuận Hóa để truyền kinh Phật. Ông là người đã khai sáng chùa Thiền Lâm vào năm 1695, mở Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ (Huế), làm cố vấn chính trị cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Ông đến Thuận Hóa bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về cố quốc, ông đã viết cuốn Hải ngoại ký sự. Cuốn sách được xem là một cẩm nang đối với giới nghiên cứu. Đọc Hải ngoại ký sự có thể thấy từ thế kỷ 15-17, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các biện pháp: thu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài; thiết lập đội hải quân Hoàng Sa, hàng năm ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hóa từ những chiếc tàu bị đắm trên vùng biển này.
Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) có 2 đoạn viết về Hoàng Sa: "Ở ngoài núi Cù Lao Ré (tức huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) có đảo Đại Trường Sa (tức quần đảo Hoàng Sa). Ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều Hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày mới đến được đảo Đại Trường Sa ... Ở trong các hòn đảo có bãi cát vàng, dài chừng hơn 30 dặm, bằng phẳng và rộng lớn, nước trong nhìn suốt đáy. Ở trên các hòn đảo có vô số tổ yến, còn các thứ chim thì kể có hàng ngàn, hàng vạn con... Trên bãi có rất nhiều vật lạ như ốc hoa, có thứ mang tên là ốc tai voi, lớn như chiếc chiếu... Lại có thứ ốc được gọi là ốc xà cừ, thứ ốc này để trang sức các đồ dùng... Có thứ đại mạo là con đồi mồi rất lớn. Có con hải ba (ba ba biển) cũng giống như con đồi mồi nhưng nhỏ hơn, mai mỏng, người ta dùng trang sức các đồ dùng...".
Lê Quý Đôn cho biết, đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vinh (Quảng Ngãi) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển. Ra đi từ tháng giêng. Ra đảo tự bắt chim, cá làm thức ăn... Đến tháng 8 đội Hoàng Sa trở về cửa Eo (cửa Thuận An) rồi lên thành Phú Xuân trình nộp các sản vật đã khai thác được. Nghiệm thu hải vật xong đội Hoàng Sa được bán riêng những con ốc hoa, mai hải ba, hải sâm. Sau đó các thành viên của đội được trở về nhà. Ngoài đội Hoàng Sa, các chúa Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc hải. Đội Bắc hải không qui định bao nhiêu người. Đội này tàu thuyền nhỏ hơn, hoạt động ở vùng đảo Côn Lôn, ở xứ Cồn Tự thuộc vùng Hà Tiên. Họ chủ yếu khai thác hải sản, ít khi tìm được vàng bạc, đồ vật quý giá từ các tàu đắm như ở Hoàng Sa.
Các công trình: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; bộ biên niên sử của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục (ĐNTL) chính biên và tiền biên; Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ; Đại Nam nhất thống chí... cũng đều có ghi chép về Hoàng Sa giống như Lê Quý Đôn đã miêu tả nhưng cụ thể hơn, tần suất nhiều hơn, nội dung rõ ràng và cụ thể hơn.
Quyển 10 ĐNTL tiền biên chép: "Tháng 7 năm Giáp Tuất (1754) dân đội Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc nhà Thanh. Tổng đốc nhà Thanh chu cấp cho lương đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư qua...". ĐNTL chính biên quyển 50, 52 cho biết: Năm 1815, 1816 vua (Gia Long) cho thủy quân và đội Hoàng Sa ra xem xét, đo đạc thủy trình. Quyển 104 chép: "Năm 1833, vua (Minh Mạng) bảo Bộ Công rằng: Dải Hoàng Sa trong hải phận Quảng Ngãi, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời vậy".
Quyển 154 chép: "Năm 1835 dựng ‘thần từ’ ở Hoàng Sa... Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh tốt, giữa cồn có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bia khắc 4 chữ Vạn Lý Ba Bình... Năm ngoái vua (Minh Mạng) định lập miếu ở chỗ ấy, vì gặp lúc sóng gió không làm được. Đến nay mới sai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên trái dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về".
Tác giả Sơn Hồng Đức, giảng viên địa lý học ĐH Văn khoa Sài Gòn, sau khi tham gia chương trình Điều nghiên bình địa hỗn hợp Việt Mỹ đã có bài viết Khảo sát về quần đảo Hoàng Sa. Tác giả cho biết: "Từ Đà Nẵng tàu khởi hành vào buổi chiều, sáng hôm sau là đến Hoàng Sa. Đảo Tri Tôn là điểm đến đầu tiên của hải trình". Ở đảo Hoàng Sa tác giả mục kích: Có vài ngôi mộ binh sĩ thời nhà Nguyễn đã hy sinh. Phía Đông có am thờ gọi là Đền Bà; có pho tượng Quan Âm đặt trên bệ đá chạm trổ tinh vi, có lẽ do các ngư phủ Việt Nam dựng lên. Phía Bắc có ngọn hải đăng. Gần đó trước kia có căn cứ quân sự, đài khí tượng. Đài khí tượng được chính phủ bảo hộ xây dựng và chính thức hoạt động vào năm 1938. Ngày 9-3-1945 quân Nhật cũng đảo chính ở đây, tước khí giới trung đội lê dương. Các công chức đài khí tượng tháo dỡ trần nhà lấy gỗ làm bè thả trôi về tận bờ biển Quy Nhơn. Quân Pháp, rồi quân Nhật đều có xây dựng cơ sở phòng thủ ở đây nên trong chiến tranh thế giới thứ 2 đảo bị không quân của đồng minh oanh tạc.
Các sử liệu và những dấu tích để lại trên quần đảo Hoàng Sa cho thấy tầm nhìn chiến lược cũng như ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm và khát vọng của cha ông chúng ta trong công cuộc khám phá, khai thác kinh tế biển và thực thi chủ quyền lãnh hải.
(Nguồn: Báo Đất Việt)
------------
Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013
Văn tế Vinashin
Phan Vĩnh Trị
Mười bảy năm chìm nổi, chưa ắt còn danh xấu nổi như phao;
Một trận bão cuốn bay, thân tuy mất tiếng chê vang như mõ.
Nhớ linh xưa:
Côi cút làm ăn;
Toan lo nghèo khó.
Chưa quen hiện đại, đâu biết cạnh tranh;
Chỉ biết cấp trên, sống quen bao cấp.
Canô, tàu kéo, tàu sông, tay vốn quen làm;
Tàu lớn, máy to, mắt chưa từng ngó.
Khá thương thay:
Vốn chẳng phải thương trường dày dạn, theo dòng hiện đại, cạnh tranh;
Chẳng qua là tàu nhỏ chạy sông, nay một bước lao ra biển lớn.
Mười tám ban công nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận know-how, đâu chờ bày bố.
Ngoài cật có dăm con tàu bé, nào đợi đeo kinh nghiệm, học hành;
Trong tay cầm một ngọn bút chì, chi nài sắm phần mềm, máy tính.
Hạ liệu trên sàn phóng, cũng cắt xong cả một đống tôn to;
Quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ tay, cũng tập đoàn lẫy lừng thiên hạ.
Chi nhọc học thầy, học bạn, đạp rào lướt tới coi tàu lớn cũng như không
Nào sợ lỗ nhỏ, lỗ to, cứ ký làm ào, cốt giao tàu xong đã.
Kẻ ăn ngang, người chém dọc, làm cho chi phí hồn kinh;
Bọn nịnh trước, lũ hót sau, trối kệ nợ nần đến cổ.Những lăm sự nghiệp lâu dùng;
Đâu biết nửa đường gãy đổ.
Một chắc thương trường rằng chữ lãi, nào hay lỗ đến đầm đìa;
Trăm năm nợ nần ấy chữ nguy, nào đợi chủ nợ đòi tận cửa.
Đoái trông khắp nước, dự án nghìn dặm sầu giăng;
Nhìn cảnh nhân viên, già trẻ hai hàng lệ nhỏ.
Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến công nhân khó nhọc, đội nắng, dầm mưa;
Vì ai xui nhà xưởng tan tành, xiêu mưa ngã gió.
Người người ngơ ngác, mong chờ một đấng cứu tinh
Ai ngờ phận rủi, vận đen, tái cơ cấu thêm bẽ bàng tủi hổ
Một lũ trẻ con ngơ ngẩn, cũng đòi trục vớt, cứu tàu
Chia bè kết phái tranh ăn, ai chết kệ thây cha chúng nó.
Một chút xương tàn còn lại, bầy kền kền rỉa rói tứ tung.
Một nấm mồ hoang, là bệ phóng để đổi đời, lên chức.
Kẻ cơ hội vẫy đuôi ngoe nguẩy, chân chủ nào cũng liếm, những mong mưa móc ơn trên.
Người thất cơ nhịn nhục làm thinh, phận “lưu dụng” còn gì mà nói
Sống làm chi theo quân tà đạo, chém đồng đội, giết anh em, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi chịu phận tôi đòi, chia canh cặn, gặm cơm thừa, nghe càng thêm hổ.
Thà đi mà đặng câu danh dự, về theo phường phố cũng vinh;
Hơn ở mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
Ôi thôi thôi!
Chùa Bạch Đằng năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Hạ Long một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn bấy! Công nhân ngồi chờ việc, đồng lương còm lại chịu cảnh nợ nần;
Não nùng thay! Cán bộ tìm đường chuồn, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Ôi!
Một trận khói tan;
Nghìn năm tủi hổ.
Thác mà để nước non trả nợ, tiếng xấu đồn quốc tế, chúng đều kinh;
Thác mà nhiều số phận dở dang theo, tấm gương trải muôn đời ai cũng sợ.
Cay đắng nhẽ! Phải đâu mình mình xấu, cùng vòm trời cả lũ cũng như nhau;
Bẽ bàng thay! Phải chịu tiếng đi đầu, nêu gương xấu cho người đời chê trách.
Thôi thôi thôi
Chết là hết, còn gì nói nữa. Chỉ mong gương để lại cho đời
Sống không khôn thì chết hãy hiển linh. Phù hộ cháu con tránh đường xe đổ.
Sống đóng tàu, thác cũng đóng tàu, linh hồn theo giúp hậu nhân, muôn kiếp nguyện trả được nợ kia;
Đắm một lần, rồi sẽ nổi lên, nghị quyết dạy rành rành, một chữ nhẫn đủ đền công đó.
Nước mắt đau lòng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;
Cây hương tưởng nhớ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.
Hỡi ơi!
Có linh xin hưởng.
(Hậu bối xin phép cụ Đồ Chiểu)
P. V. T.
(Theo Tạp Bút / Quechoa )
---------------
Ngân sách vượt thu vào phút chót
Báo cáo Thủ tướng 2 ngày trước khi khép lại năm 2013, Bộ Tài chính cho biết đã vượt thu so với dự toán khoảng 0,33%. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu sử dụng nguồn tiền này để giảm bội chi.
Trước hội nghị tổng kết toàn ngành sáng 30/12, nhiều thông tin phát đi từ Bộ Tài chính cũng như Chính phủ đã dự báo về khả năng ngân sách 2013 có thể hoàn thành vào phút chót, thay vì hụt thu như báo cáo với Quốc hội hồi tháng 10. Kết quả này có được nhờ một số địa phương đã đẩy thu “mạnh tay” trong những tháng cuối năm, vượt dự toán đề ra hoặc giảm đáng kể số hụt thu theo dự kiến.
Tuy vậy, là đại diện địa phương đầu tiên phát biểu tại hội nghị, Phó chủ tịch Hà Nội – Nguyễn Văn Sửu cho biết ông “đứng đây báo cáo mà chân còn run”, vì chưa dám tin thành phố có thể hoàn thành mục tiêu ngân sách đề ra. Trước đó, Hà Nội mới hoàn thành hơn 54% dự toán sau 9 tháng, nhưng báo cáo cả năm, địa phương này cho biết có thể vượt khoảng 0,3% so với mục tiêu. Còn tại TP HCM, mức vượt thu có ước khoảng 1%.Tổng hợp trong báo cáo tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp cho biết tính đến cuối tháng 12, tổng thu ngân sách đã đạt 99% dự toán, tăng 16.000 tỷ đồng so với số liệu báo cáo Quốc hội sau 9 tháng đầu năm. Tại thời điểm đó, mức hụt thu dự kiến cả năm là 25.200 tỷ đồng, và các đại biểu đã phải đồng ý cho Chính phủ nâng giới hạn bội chi năm nay lên 5,3% GDP, thay vì 4,8% trước đó. “Với kết quả thực tế như vậy, trong 2 ngày còn lại của năm 2013, sẽ phần đấu hoàn thành dự toán”, Thứ trưởng Nguyễn Công Nghiệp cho biết.
Sau báo cáo của Bộ Tài chính và các địa phương, phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết theo kết quả mà ông nhận được, thu ngân sách đến ngày 30/12 đã vượt dự toán khoảng 0,33%. “Còn 2 ngày nữa, số thu có thể vượt khoảng 1%”, Thủ tướng dự báo.
Với số thu được khẳng định là hoàn thành mục tiêu, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu ngành tài chính phải dùng khoản tăng thu này để giảm bội chi ngân sách, xuống thấp hơn mức 5,3% được Quốc hội phê duyệt. Thủ tướng cho rằng việc làm này sẽ góp phần ổn định vĩ mô, giảm gánh nặng nợ công cho nền kinh tế.
Đánh giá chung về năm 2013, bên cạnh thành tích thu đủ ngân sách, Thủ tướng cũng đánh giá cao kết quả đảm bảo an toàn nợ của ngành tài chính. Theo đó, tính đến hết năm, nợ công dự kiến tương đương 56,2% GDP, nợ Chính phủ là 42,6% GDP trong khi nợ nước ngoài của quốc gia là 39,5%. Người đứng đầu Chính phủ cũng nhận định thị trường chứng khoán, bảo hiểm đã có nhiều khởi sắc, ngành tài chính cũng đóng góp lớn vào quá trình tái cơ cấu nền kinh tế…
Bước sang năm 2014, nhiệm vụ cân đối ngân sách tiếp tục được đặt ra nặng nề với ngành tài chính. Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết dự toán thu được Quốc hội phê duyệt là 782.700 tỷ đồng nhưng cơ quan này đã giao ngành thuế, hải quan phấn đấu tăng thu 3-5%. Dự toán chi cùng lúc ước đạt trên một triệu tỷ đồng, tăng 2,9% về số tuyệt đối nhưng lại giảm khoảng 25.000 tỷ trên thực tế (do phải dành khoảng 54.000 tỷ cho các khoản như trả nợ, tăng lương, quốc phòng…).
Phần chênh lệch giữa thu và chi nêu trên được dự kiến bù đắp bởi khoảng 400.000 tỷ đồng trái phiếu, nhiều hơn 100.000 tỷ so với năm 2013. Kế hoạch này được coi là rất thách thức đối với các mục tiêu ổn định vĩ mô, giữ mặt bằng lãi suất… Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh đây là việc nhất định phải làm để có vốn đầu tư. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng để làm được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ, “nghệ thuật” giữa ngành tài chính và ngân hàng để không gây mất ổn định vĩ mô.
Trước đó, hình ảnh phối hợp một cách “nghệ thuật” cũng được Thống đốc Nguyễn Văn Bình nhắc tới trong phần phát biểu của mình. Trong lần đầu tiên tham dự hội nghị của ngành tài chính, người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cho rằng sự hiện diện của ông minh chứng cho hợp tác chặt chẽ giữa 2 cơ quan trong năm qua, với kết quả là việc kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá, thúc đẩy thị trường chứng khoán...
Riêng với kế hoạch điều hành năm 2014, ông Bình cho rằng điều tiết lúc nào phát hành trái phiếu, lúc nào bù đắp bằng tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng. Còn về dài hạn, ông mong muốn tiếp tục cùng ngành tài chính thực hiện nhiệm vụ điều tiết giá cả theo thị trường, cải thiện kỷ cương trên thị trường tài chính, thành lập các đơn vị xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp ngân hàng…
Với sự phối hợp nêu trên, kết luận hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ mong muốn lạm phát năm 2014 sẽ được kiểm soát ở mức 6,5-7%, tỷ giá điều hành tương tự năm 2013 (đồng Việt Nam giảm giá 1,3%), bội chi ngân sách thấp hơn so với mức 5,3% được Quốc hội phê duyệt…
Nhật Minh / VnEx
---------------
Viễn cảnh nào cho kinh tế Việt Nam 2014?
Với nhiều dự đoán kinh tế Việt Nam tiếp tục sẽ “đi ngang” trong một vài năm sắp tới, liệu đâu là phao cứu sinh và liệu đâu tiếp tục là trở ngại khi nền kinh tế hiện đang được cho sẽ thoát đáy.
Thách thức của các ban ngành
Kinh tế Việt Nam năm 2013 khép lại với sự ổn định và ngày càng vững chắc hơn, nhưng để duy trì được những thành quả bước đầu đó cho năm 2014 thì còn nhiều chông gai, thách thức và cần rất nhiều những nỗ lực của tất cả các ban ngành… đây là tâm trạng chung của nhiều vị bộ trưởng bên lề Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế 2014.
Nhìn chung, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tổng cầu và phục hồi niềm tin trong kinh doanh là những mục tiêu cơ bản được Chính phủ cũng như giới chuyên gia đánh giá là những gì Việt Nam cần đạt được trong năm 2014.Trên lý thuyết, ổn định kinh tế vĩ mô bao trùm từ đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng GDP, kiềm chế lạm phát, cho tới phối hợp các chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt, nhằm có được tốc độ tăng trưởng 5,8% và CPI dao động trên dưới 7%. Trong khi đó, khôi phục tổng cầu được nhắm tới là hồi phục thị trường bất động sản, từ đó “tác động lan tỏa” của thị trường này sẽ là “cú hích” làm ấm lên các thị trường khác và một chính sách chi tiêu công hợp lý. Riêng lĩnh vực niềm tin kinh doanh, giới chuyên gia cho rằng trong ngắn hạn, giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế hấp thụ vốn, giải quyết hàng tồn kho của các doanh nghiệp, kích cầu tiêu dùng của người dân … và trong dài hạn, đề án tái cơ cấu nền kinh tế sẽ giải quyết được mọi nút thắt hiện có.
Để duy trì được những thành quả bước đầu đó cho năm 2014 thì còn nhiều chông gai, thách thức và cần rất nhiều những nỗ lực của tất cả các ban ngành… đây là tâm trạng chung của nhiều vị bộ trưởng
Rõ ràng với những chỉ tiêu đặt ra cho 2014, nhiệm vụ mà Chính phủ phải theo đuổi và duy trì không hề đơn giản. Trong bài phỏng vấn mới đây trên tờ Tuổi Trẻ, ông Trương Văn Phước, phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng năm 2014 cần phải có một cuộc chấn hưng nền kinh tế, coi đó là chiến dịch “ Điện Biên Phủ về kinh tế.”
Chiến dịch “ Điện Biên Phủ về kinh tế.”
Ông Phước cho rằng những khó khăn của nền kinh tế vẫn còn, nếu Việt Nam khởi động một chiến dịch tổng lực “Điện Biên Phủ về kinh tế” thì có thể tạo ra một cú hích cho đất nước vượt qua khó khăn này. Những điểm cơ bản ông Phước phân tích là cần một chính sách cho phép người nước ngoài mua bất động sản, phối hợp hài hòa giữa đầu tư công và tín dụng của ngân hàng để dòng vốn chảy ra thị trường nhanh nhất, đặc biệt, là những đột phá trong chính sách đầu tư của nhà nước sẽ góp phần tăng tổng cầu… quá trình này cần phải diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn để tạo ra một kỳ vọng cao hơn cho nền kinh tế.
Vậy đâu sẽ là điểm sáng cho năm 2014, có lẽ câu trả lời sẽ là tốc độ lạm phát đã được kiềm chế, và từ đó, dư địa cho các chỉ tiêu khác dễ dàng được thực hiện hơn. PGS, TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội phân tích về luận điểm này:
“Điểm sáng lớn nhất là kiểm soát được lạm phát. Trước kia là thành công trong ngắn hạn, trong trung và dài hạn chưa có khả năng kiềm chế và kiểm soát được, điều này được thể hiện là từ 2007 đến 2012 cứ hai năm tăng, một năm giảm, nhưng đến nay chúng ta thấy đã khắc phục được. Khi đã kiểm soát được lạm phát thì có một dư địa rất lớn cho các chính sách khác để có thể thực hiện được.”
Những khó khăn của nền kinh tế vẫn còn, nếu VN khởi động một chiến dịch tổng lực “Điện Biên Phủ về kinh tế”thì có thể tạo ra một cú hích cho đất nước vượt qua khó khăn này....cần một chính sách cho phép người nước ngoài mua bất động sản, phối hợp hài hòa giữa đầu tư công và tín dụng của ngân hàng để dòng vốn chảy ra thị trường
Bên cạnh điểm sáng là tốc độ lạm phát được kiềm chế, nhiều chuyên gia cho rằng 2014, lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sẽ vẫn là “phao cứu sinh” cho nền kinh tế. Theo số liệu hiện có, đến hết 11 tháng đầu năm 2013, tổng vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm lên tới hơn 20 tỷ đô la, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái, các nhà đầu tư lớn vào Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc… đây sẽ vẫn là lĩnh vực đóng góp nhiều vào tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và là nguồn thu về ngoại tệ.
Viễn cảnh khác của nền kinh tế 2014, giới chuyên gia cho rằng nợ xấu sẽ tăng chứ không giảm, mặc dù công ty quản lý tài sản quốc gia VAMC đã được thành lập, nhưng hoạt động vẫn chỉ dừng ở mức tạm thời là nơi nắm giữ nợ xấu thay cho các ngân hàng, chứ cơ chế xử lý triệt để thì vẫn chưa được định hình rõ ràng.
Đồng thời, lĩnh vực bất động sản 2014 vẫn được xem là tiếp tục bị đóng băng, khi nguồn cung vẫn dôi dư trong khi đầu ra thì vẫn còn yếu. Nhiều người cho rằng, có khả năng đến cuối năm 2014, thị trường sẽ khả quan hơn nhờ hoạt động M&A (sát nhập và cạnh tranh) khởi sắc sẽ đưa thị trường bất động sản khỏi bế tắc.
Gộp chung 2 lĩnh vực nợ xấu và bất động sản, TS Ngô Trí Long tiếp tục phân tích:
“Những thách thức lớn vẫn còn đặt ra phía trước, thí dụ vấn đề nợ xấu, tuy thành lập công ty VAMC nhưng nói chung mới chỉ là mặt chuyển đổi. Nhìn vào bảng cân đối, tạm thời không còn xấu như trước, nhưng thực chất giải quyết nợ xấu cũng là bài toán nan giải vì thực ra đó chỉ là từ tổ chức tín dụng chuyển lên ngân hàng Nhà nước, chuyển từ túi này bỏ sang túi khác. Còn việc giải quyết mua bán nợ xấu như thế nào thì thực sự chưa giải quyết và chưa có lối thoát.
Những thách thức lớn vẫn còn đặt ra phía trước, thí dụ vấn đề nợ xấu, tuy thành lập công ty VAMC nhưng nói chung mới chỉ là mặt chuyển đổi. Nhìn vào bảng cân đối, tạm thời không còn xấu như trước, nhưng thực chất giải quyết nợ xấu...đó chỉ ...chuyển từ túi này bỏ sang túi khác
Đặc biệt, thị trường bất động sản, mặc dù Nhà nước đưa ra giải pháp thực hiện Nghị quyết 02 của Chính phủ, với gói hỗ trợ 30 ngàn tỉ đồng, phải nói rằng cái đó hoàn toàn chưa thành công, mà giải ngân thì còn ở mức độ rất thấp, thị trường bất động sản chưa có lối thoát, chưa có lối ra. Nói một cách khác, niềm tin vào thị trường vẫn chưa rõ, sức mua còn hạn chế. Năm 2014, nền kinh tế vẫn theo hướng đi ngang, chứ chưa có khả năng vực dậy một cách mạnh mẽ.”
Trong một bài viết gần đây của TS Nguyễn Đức Thành, Giám đốc TT Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, thuộc đại học Kinh tế - Đại học QG Hà Nội có đưa ra 4 thách thức chính mà Việt Nam phải đối mặt trong năm 2014, ngoài 3 vấn đề cơ bản như nợ xấu, bất động sản và tỉ giá, TS Nguyễn Đức Thành còn chỉ ra thâm hụt ngân sách của Chính phủ sẽ trở thành vấn đề quan trọng cho năm sau, lý do cơ bản là nguồn thu giảm vì doanh nghiệp suy yếu trong khi chi tiêu của CP lại không hề thuyên giảm, từ đó, đòi hỏi chính phủ sẽ vay nợ nhiều hơn để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách, từ đó, trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường vốn và gây ra những rủi ro tiềm tàng.
Dù có thể sẽ có cả những điểm sáng lẫn những thách thức tồn tại song song trong năm 2014, nhưng lĩnh vực bao trùm cần giải quyết nhất sẽ vẫn là đề án tái cơ cấu, một bài toán “nợ” và một nút thắt đã kéo dài từ nhiều năm nay. Nhận xét về tiêu chí này, TS Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện quản lý kinh tế phân tích:
“Cho đến nay đã có đề án tái cấu trúc nhưng chưa thực hiện được bao nhiêu, đề án tái cấu trúc đầu tư công thì chưa được trình ra đầy đủ. Kế hoạch 5 năm 2010-2015 cũng đề ra ba khâu đột phá quan trọng. Một là đột phá, một nỗ lực vượt bậc trên lĩnh vực thiết lập thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai là xây dựng kết cấu hạ tầng và thứ ba là nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. Cả ba khâu đột phá đó cho đến nay mới làm được rất khiêm tốn và thể chế kinh tế thị trường thì gần đây nhiều người thấy là Nhà nước đã can thiệp quá nhiều vào thị trường”.
Năm cũ sắp qua, năm mới chạm ngõ, hi vọng rằng những gì năm 2013 đạt được sẽ là những tiền đề quan trọng để 2014 có đà phát huy, hi vọng một chiến dịch tổng thể “Điện Biên Phủ” sẽ đưa Việt Nam vào một vận hội mới.
(From: RFA)
(From: RFA)
------------
Kinh tế 2014, nhận diện những rủi ro
Nhận định về triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2014, các định chế tài chính, tổ chức tín dụng nước ngoài khá dè dặt.
Tăng trưởng 5,8%, mục tiêu khó khăn?
Đánh giá về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2014 đã được Quốc hội thông qua (tăng trưởng GDP 5,8%, lạm phát 7%), ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, các chỉ tiêu này có thể thực hiện được nếu trong năm tới, Chính phủ tạo được những chuyển biến thực sự trong vấn đề xử lý nợ xấu.
Bởi chỉ xử lý hiệu quả được nợ xấu thì tăng trưởng tín dụng mới được đẩy mạnh, dòng tín dụng chất lượng mới được bơm vào các DN, giúp DN đầu tư mở rộng sản xuất - kinh doanh. Đồng thời, đầu tư tăng lên ở khu vực sản xuất - kinh doanh sẽ góp phần vào tăng trưởng và tác động tốt đến đời sống kinh tế - xã hội.“Trong báo cáo cập nhật triển vọng phát triển châu Á 2013 (ADOU 2013) của ADB phát hành hồi tháng 10, chúng tôi đã dự báo mức tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2014 là 5,5% và lạm phát ở mức 7,2%. Như vậy, chỉ tiêu của Chính phủ và mức dự báo của ADB khác biệt không đáng kể”, ông Tomoyuki nói.
Đồng quan điểm trên, ông Tareq Muhmood, Tổng giám đốc Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ (Việt Nam ) cho rằng, chỉ tiêu tăng trưởng và lạm phát được Chính phủ đề ra trong năm tới khá thực tế. Mặc dù có một số khó khăn, nhưng có rất nhiều ngành vẫn đang tăng trưởng tốt, đặc biệt là các ngành nông nghiệp, xuất nhập khẩu.
“Nếu bạn đến Đồng Nai hay Bình Dương, ở các khu vực này, DN vẫn hoạt động tốt và có khả năng bù lại cho các khu vực tăng trưởng chậm khác”, ông Tareq nói.
Kém lạc quan hơn, chia sẻ với ĐTCK, ông Sanjay Kalra, đại diện thường trú Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam nhận định, trong 2 năm 2012 - 2013, Việt Nam đã ổn định được kinh tế vĩ mô, nhưng tăng trưởng đã chậm lại và điều này sẽ tiếp diễn trong năm 2014.
“Sức cầu yếu sẽ tiếp tục làm giảm áp lực lạm phát và lạm phát trong năm 2014 tiếp tục duy trì ở mức một con số. Nhưng những yếu kém về cơ cấu trong khu vực ngân hàng và các DNNN sẽ cản trở tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam ”, ông Sanjay nói. Báo cáo của IMF về triển vọng kinh tế khu vực châu Á -Thái Bình Dương công bố hồi tháng 10 đã dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức 5,4% trong năm 2014.
Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam thì cho rằng, về cơ bản, triển vọng kinh tế trung hạn của Việt Nam dù tích cực hơn, nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ. Theo cập nhật kinh tế mới nhất của WB cho Việt Nam, tăng trưởng GDP dự kiến sẽ tăng nhẹ lên 5,4%, lạm phát được kiềm chế ở một con số năm tới.
“Mục tiêu tăng trưởng 5,8% hết sức khó khăn trong bối cảnh nguồn lực đầu tư của Chính phủ không còn dồi dào như trước đây và kinh tế thế giới vẫn chưa thực sự quay trở về thời kỳ tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, Việt Nam có khả năng đạt được mục tiêu này, nếu kiên quyết thực hiện cải cách và tận dụng được nguồn lực trong nước và quốc tế.
Các nhà đầu tư quốc tế chắn chắn mong muốn đưa vốn vào thị trường Việt Nam khi được minh chứng thực tế về tiến trình cải cách của Chính phủ”, ông Sumit Dutta, Tổng giám đốc Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam ) nhận định.
Còn nhiều rủi ro
Theo ông Sumit Dutta, Việt Nam đang đứng trước rủi ro bên trong lẫn ngoài nước. Kinh tế quốc gia láng giềng Trung Quốc đang đứng trước nhiều nguy cơ khi nợ xấu của hệ thống tín dụng tăng vọt, khủng hoảng nợ của các chính quyền địa phương.
Nếu Trung Quốc “hạ cánh đột ngột”, sẽ có khả năng có một cuộc khủng hoảng kinh tế từ khu vực châu Á trước khi lan ra toàn cầu. Ngoài ra, khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện cắt giảm gói kích thích kinh tế quá nhanh, trước khi kinh tế Mỹ thực sự hồi phục bền vững sẽ tạo hiệu ứng dòng vốn nóng tháo chạy khỏi các thị trường đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Về tình hình trong nước, rủi ro lớn nhất là việc chậm thực hiện các chương trình cải cách do lo ngại về đổ vỡ hoặc chi phí cải cách quá lớn. Việc chậm trễ thực hiện cải cách sẽ tạo thất vọng cho người dân và giới đầu tư, dẫn đến sức cầu tiếp tục giảm sút.
“Trước hết, rủi ro do tiến trình xử lý nợ xấu tiếp tục chuyển biến chậm chạp sẽ làm ảnh hưởng đến niềm tin của các nhà đầu tư. Rủi ro thứ hai là tăng trưởng thấp sẽ tạo áp lực phải nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ nhưng rủi ro lạm phát tăng lên, trong khi đó mang lại rất ít những tác động hỗ trợ tăng trưởng”, ông Tomo nói.
Đồng quan điểm trên, ông Tareq nhận định: “Lạm phát là rủi ro lớn nhất. Nếu lạm phát quay trở lại sẽ mang đến sự không ổn định, lãi suất tăng và sẽ khiến DN khó có thể tiếp cận vốn. Chính phủ nên có những bước đi thận trọng trong việc kiểm soát lạm phát”.
(Nguồn Tinnhanhchungkhoan.vn)
------------------------------------------
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
















