Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

"Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng"

Năm 1972, trong lúc mà Hà Nội bị ném bom rải thảm, các học giả phương tây đã bình luận rằng: "Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng".The Time of India, tờ báo uy tín bậc nhất Ấn Độ khẳng định hành động của Trung Quốc ở Biển Đông cho thấy “Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc không ngừng gia tăng”. Bài báo cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ hiếu chiến của Trung Quốc đã trở thành một đặc điểm cố hữu trong chính sách đối ngoại và bành trướng của nước này”.
Vài năm trước, nhân chuyến thăm của Giám đốc Học viện quốc phòng Việt Nam sang Trung Quốc, trang bbc.co.uk/vietnamese/ bản tiếng Việt ngày 30/6/2011  đưa tin:
“Bản tin của Nhật báo Giải phóng quân (Trung Quốc) không nhắc tới vấn đề Biển Đông, nhưng dường như Tướng Mã (Mã Hiểu Thiên) đã đề cập tình hình căng thẳng sau các diễn biến tại đây trong cuộc gặp khi nhấn mạnh rằng ông hy vọng "phía Việt Nam sẽ xử lý các vấn đề tế nhị một cách thích đáng và hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn".
Theo cách nói của viên tướng Trung Quốc, Việt Nam phải hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn. 
Có hai khả năng lựa chọn: hoặc là từ ngữ mà chúng ta nói, cấp độ người nói phải theo chuẩn mực của Trung Quốc, hoặc là chúng ta nói theo quyền lợi của dân tộc và công pháp quốc tế.

Phương án 1: Chúng ta nói “theo chuẩn mực của Trung Quốc"
Để hiểu chuẩn mực của Trung Quốc là gì chúng ta cần biết Trung Quốc gần đây nói năng ra sao. BBC đưa tin: “Nhật báo Hoàn Cầu, do Đảng Cộng sản Trung Quốc xuất bản, hôm nay (11/6/2011) có bài xã luận cáo buộc Việt Nam áp dụng "chủ nghĩa dân tộc ở hình thức thấp kém nhất để tạo ra sự thù địch mới giữa hai nước".
Cần giới thiệu rằng Hoàn Cầu nhật báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới. Tờ này do Nhân Dân nhật báo - cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quản lý, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993.
Trang mạng Hoàn Cầu, con đẻ của nhật báo Hoàn cầu đã có hàng trăm bài viết về Việt Nam, xin trích dẫn một số bài viết cách đây năm năm.
- “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)
- “Trung quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)
- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)
- “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)
- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)
- “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)
Điểm lại ngôn từ mà những người từ lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc đã nói như “dạy cho Việt Nam một bài học” đến loại trung trung như các tướng lĩnh và loại “dân thường” như các bài nêu trên chúng ta đã thấy người Trung Quốc ăn nói ra sao. 
Theo lời khuyên của tướng Mã, nhà nước nên “hướng dẫn dư luận nói theo chuẩn mực của Trung Quốc”, không nhất thiết phải e dè. Người Việt hàng nghìn năm nay chưa bao giờ sợ chiến đấu vì chủ quyền quốc gia, chưa bao giờ sợ bọn xâm lược bất kể chúng là thứ nhất, thứ nhì hay thứ ba trên thế giới.
Ngày xưa An Dương Vương gả công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, lại còn cho ở rể trong kinh thành. Trọng Thủy ăn cắp bí mật quân sự rồi về nước cùng bố đem quân sang đánh chiếm nước Nam khiến cho An Dương Vương phải chém chết công chúa Mỵ Châu rồi tự vẫn.
Chúng ta không quên những sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực và một số đơn vị quân đội mà Trung Quốc đưa sang Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng chúng ta cũng không quên năm 1972 vì câu nói “Người không động đến ta thì ta không động đến người” của lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc mà Hà Nội bị bom B52 rải thảm. Các học giả phương tây khi đó đã nêu bình luận rằng: "Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. 

Những người ngây thơ nhất cũng hiểu rằng sự hy sinh của hàng triệu con dân đất Việt, sự sa lầy của Mỹ tại Việt Nam đã dành cho Trung Quốc khoảng thời gian quý giá để xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng. 
Vũ khí, lương thực, quân trang có thể so sánh với máu và sinh mạng con người không?
Nói theo cách nói của Trung Quốc thì Trung Quốc không chỉ là vô ơn mà còn bạc tình, bạc nghĩa.

Phương án 2: Hướng dẫn dư luận “theo cách của Việt Nam"
So với hàng trăm bài báo của Trung Quốc, chúng ta có rất ít bài viết về các chủ đề nhạy cảm này, cũng chưa hề có bài nào dùng ngôn từ như họ. Đã đến lúc truyền thông nhà nước cần cho nhân dân biết sự thật. Chúng ta cố gắng để không mất đi tình hữu nghị giữa hai dân tộc nhưng tại sao trong khi  “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (Hoàn cầu 5/7/2009) thì chúng ta lại không thể nói lên ý kiến của mình?
Người lãnh đạo giỏi không phải là người chiến thắng trong các cuộc chiến tranh mà là người tránh cho đất nước khỏi các cuộc chiến tranh. Quan điểm này là sáng suốt và đúng đắn. Nhưng người lãnh đạo giỏi cũng phải biết chuẩn bị cho đất nước đương đầu với các cuộc chiến không mong muốn nếu nó xảy ra. Lịch sử đã chỉ ra rằng rất nhiều cuộc chiến tranh xảy ra do ý muốn chủ quan của một phía. Cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm chỉ có thể thắng lợi nếu toàn dân một lòng hy sinh quyền lợi cá nhân vì độc lập tự do của dân tộc. Quyền lợi quốc gia, dân tộc phải đặt trên ý thức hệ. Xin nêu một vài ví dụ về hướng dẫn dư luận:
Nhật báo Hoàn cầu kết thúc bài báo ngày 11/6/2011 bằng câu đe dọa "Nếu Việt Nam cứ tiếp tục gây rối, tưởng rằng càng gây rối thì càng hưởng lợi, chúng tôi thành thật xin nhắc các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam là hãy đọc lại lịch sử". 
Quả đúng như vậy, chúng ta cần làm theo “lời khuyên” đó. Không chỉ thế hệ hôm nay mà muôn đời con cháu mai sau cần nhớ đến những cái tên như Liễu Thăng, Thoát Hoan, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Sầm Nghi Đống, Tôn Sĩ Nghị… Cần phải nhớ rằng năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm đông Hoàng Sa, năm 1974 đánh chiếm tây Hoàng Sa, năm 1979 đánh biên giới phía bắc, năm 1988 đánh chiếm bãi Gạc Ma ở Trường Sa…
Lịch sử đã chỉ ra rằng: "Vận nước có lúc thịnh, lúc suy nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.  
Người Trung Quốc nêu danh Hàn Tín chịu chui qua háng người khác, Câu Tiễn chịu nếm phân kẻ thù để tìm cách khôi phục nền độc lập của quốc gia. Người Việt không hạ mình như vậy, người Việt không sợ bất kỳ kẻ thù nào. Nói theo cách nói của chị Út Tịch  giặc đến nhà đàn bà “còn cái lai quần cũng đánh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1945 đã viết: "Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân  Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”
Thực dân pháp muốn cướp nước ta lần thứ hai, nhưng các triều đại Trung hoa từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến nay họ muốn cướp nước ta không chỉ hai lần. Như lời dạy của bác Hồ, chúng ta đã “phải nhân nhượng” Trung Quốc trên biên giới phía bắc. Nếu chúng ta “phải nhân nhượng” lần nữa trên biển Đông thì sẽ không còn đường ra biển bởi đường lưỡi bò ôm sát toàn bộ ven biển nước ta. Lời kêu gọi của bác Hồ đến nay chỉ cần thay một vài từ lại mang tính thời sự.
Để giữ tình hòa hiếu giữa hai nước, các phương tiện thông tin của Việt Nam chưa bao giờ dùng ngôn từ như Hoàn Cầu nhật báo đã dùng. Lãnh đạo Việt Nam cũng chưa bao giờ dùng các ngôn từ tương đương với lãnh đạo Trung Quốc. 

Các phương tiện truyền thông và quan chức Trung Quốc đã và đang cố tình bóp méo sự thật, cố tình làm cho dư luận thế giới hiểu lầm rằng Việt Nam chủ động tạo ra căng thẳng, rằng Việt Nam đã đưa tàu cản trở hoạt động của Trung Quốc. Mặc dù thế giới ngày nay vẫn còn cảnh cá lớn nuốt cá bé nhưng nên nhớ có những loài cá nhỏ nuốt vào là chết.
Thế giới có thể mắc lừa về lời nói của Trung Quốc nhưng nhất định không thể mắc lừa về hành động của Trung Quốc. Chúng ta hy vọng những những người bạn ở bên kia biên giới nhận thức được một điều rằng người Việt Nam “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải giữ cho được Tự do – Độc lập”, đó là chân lý đã được chứng minh hàng ngàn năm nay.
Một số ảnh của BBC:
Trung Quốc cho đào cột mốc theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887-1895, trong hình là cột mang dòng chữ Đại Nam Quốc Giới tại Đông Hưng, Quảng Tây.
Được biết, một số cột cả ở Quảng Tây và Vân Nam đều được đào đem về.
Cột mốc thuộc tỉnh Vân Nam còn ghi hai bên là ‘Trung Hoa’ và ‘An Nam’.
Đây là cột mốc biên giới đã được người Trung Quốc đào đem về. Trên cột còn dòng chữ Đại Thanh Quốc, Khâm Châu Giới. (Hình do ban BBC Tiếng Trung cung cấp từ nguồn Tân Hoa Xã).
Xuân Dương
-----------------

'Nhiều người Mỹ hối tiếc vì Hoàng Sa 1974'


Trước những gì Trung Quốc đang thể hiện ở Biển Đông, Hoa Kỳ nay thấy 'hối tiếc' vì từng 'bật đèn xanh' để Trung Quốc chiếm thuận lợi các đảo ở Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa năm 1974, theo một nhà phân tích tình hình châu Á và Trung Quốc từ Mỹ.
Hoa Kỳ có vẻ đã đánh đổi một lợi ích ngắn hạn, để ngày nay nhận lấy việc để cho vị thế quân sự và chính trị chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương bị Trung Quốc thách thức, vẫn theo ý kiến này.
Trao đổi với BBC hôm 02/6/2014 từ Đại học Maine, Hoa Kỳ, Giáo sư Ngô Vĩnh Long nói:
"Theo tôi biết, trong nội bộ hai đảng ở Mỹ là đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, đúng là có nhiều người nuối tiếc."
"Lúc đó Mỹ đang chơi lá bài Trung Quốc và Mỹ kéo những chiến hạm của họ ra xa để họ không can dự, để cho Trung Quốc có thể đánh chiếm.
"Khi Trung Quốc lấy quần đảo Hoàng Sa, chiếm một số đảo ở Hoàng Sa và chiếm một số đảo ở Trường Sa, là cố tình để xây dựng cơ sở để chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông, gây mất an ninh và bắt chẹt thế giới."
Theo Giáo sư Long, xâu chuỗi các sự kiện qua nhiều năm, có thể thấy những động thái của Trung Quốc tại Biển Đông nay đã là một vấn đề an ninh ở cấp độ thế giới mà không chỉ còn riêng ở tầm khu vực.
Ông nói: "Đây là vấn đề an ninh của khu vực, vấn đề an ninh của toàn thế giới, chứ không chỉ là vấn đề Trung Quốc đặt một giàn khoan hay là vấn đề tranh cãi chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc về đảo Hoàng Sa."
Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng chính giới Mỹ đã nhận ra 'lỗi lầm' khi tính toán sai và để Trung Quốc nay có điều kiện thuận lợi 'thách thức' và 'lấn lướt' Mỹ ở khu vực, đe dọa an ninh quốc tế. Nhưng nhà phân tích cũng liên hệ trách nhiệm với quốc tế và ở khu vực của Việt Namtrong đối sách với các thách thức của Trung Quốc.
Ông Long nói: "Lúc đó, Mỹ vẫn còn chơi lá bài Trung Quốc, Mỹ ủng hộ Trung Quốc rất mạnh. Nhưng bây giờ là lúc khác, bây giờ mọi người thấy rõ ràng rằng năm 1974 và năm 1988, và sau đó Mỹ để cho Trung Quốc chiếm một số đảo của cả Philippines là những lỗi lầm. Bây giờ Mỹ và các nước trong khu vực thấy đây là lỗi lầm, mà bây giờ họ thấy đây là sự đe dọa cho cả khu vực và cho cả thế giới.
"Nếu bây giờ Việt Nam không cương quyết, tôi nghĩ đây đúng là lúc mà không phải chỉ có một, hai, ba hay bốn người trong lãnh đạo ở Việt Nam sẽ bị lịch sử lên án sau này, mà nhiều người trên thế giới sẵn sàng lên án Việt Nam là không giúp họ bảo vệ an ninh trong khu vực và cho thế giới mà lại ỡm ờ."
Hôm 30/5, Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng nói với hãng tin Mỹ Bloomberg rằng Việt Nam đã 'chuẩn bị xong' các bằng chứng và đã sẵn sàng để kiện Trung Quốc về vụ giàn khoan Hải Dương 981.
Trong khi đó, hôm 31/5, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh nói với diễn đàn Shangri-La rằng quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn 'tốt đẹp' và kêu gọi Trung Quốc 'cùng đàm phán' với Việt Nam về vụ hạ đặt giàn khoan.
Bình luận về những phát biểu này, Giáo sư Long nói: "Tôi hy vọng rằng Việt Nam nói nhún nhường như thế, nhưng lại có đi đêm phía sau, tất nhiên nói nhẹ nhàng như vậy để mua thời gian, nhưng đằng khác chuẩn bị để có những quan hệ tốt hơn với Nhật Bản, Philippines, Malaysia và qua đó với Mỹ...
"Bề ngoài nói như vậy là một chuyện khác, nhưng tôi mong rằng phía bên trong có những bước đi chắc chắn, chứ nếu một sự thoái lui... thì cái đó rất đáng tiếc cho đất nước."
'Nước cờ không thể thối lui'
Về khả năng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể có 'thỏa thuận ngầm' để Việt Nam không kiện, nhà phân tích bình luận: "Không biết là lãnh đạo Việt Nam có nghĩ là họ có thể đàm phán song phương với Trung Quốc hay không, nhưng nếu họ làm như thế thì Việt Nam sẽ cô lập mình đối với toàn thế giới và như vậy Việt Nam sẽ bị Trung Quốc càng ngày càng bắt chẹt.
"Đây là một cơ hội rất lớn cho Việt Nam để chứng minh cho thế giới biết rằng khi Trung Quốc lấy đảo Hoàng Sa và chiếm một số đảo ở Trường Sa là cố tình để xây dựng những cơ sở ở đó để chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông, gây mất an ninh và bắt chẹt thế giới."
Theo Giáo sư Long, đây là thời điểm quyết định để Việt Namxử lý dứt điểm vấn đề chủ quyền biển đảo với Trung Quốc.
Ông nói: "Đây là một cơ hội rất tốt để Việt Nam vận động sự ủng hộ của thế giới. Bây giờ thụt lùi, thì rõ ràng không những mất mặt cho Thủ tướng Dũng, mà còn cho các nước khác thấy là họ 'bị lừa' hay sao đấy."
Ông nói tiếp: "Tôi nghĩ rằng đã dũng cảm nói ra rồi, dân chúng ủng hộ rồi, thế giới họ cũng vỗ tay rồi, mà bây giờ rụt đi nữa, thì không những anh mất tiếng đối với thế giới, mà anh cũng để cho những đối thủ của anh ngay trong nước dùng cái đó để tấn công anh để hạ anh.
"Tôi nghĩ rằng những người ủng hộ đường lối của Thủ tướng nên thúc đẩy Thủ tướng. Nghĩa là đây là nước cờ cũng như là nước cờ cuối rồi mà anh đã đi một nước cờ như vậy, mà anh lại thối lùi nữa, anh sẽ không những thua mà lại có hại cho đất nước nữa," Giáo sư Long nói với BBC.
---------------


Rõ ràng XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN, sao lại uốn éo "HẠ ĐẶT GIÀN KHOAN"?


* TỐNG VĂN CÔNG
Điện đàm với Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhấn mạnh “Việc Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan HD 981 và một lượng lớn tàu các loại , kể cả tàu quân sự vào hoạt động tại khu vực lô dầu 143 thuộc thềm lục địa Việt Nam từ ngày 1-5-2014 đến nay là bất hợp pháp, đi ngược lại luật pháp và thông lệ quốc tế,vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”.
Ngày 5-5-2014 Tập đoàn dầu khí Việt Nam ra Thông báo cho biết “Trung Quốc đã đưa giàn khoan HD 981 vào định vị khoan tại vị trí cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý”. Cũng hôm đó, trao đổi với báo Tuổi Trẻ ông Đỗ văn Hậu Tổng giám đốc PVN cho biết “khu vực lô 143 mà Trung Quốc đặt giàn khoan xuống …hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”.
Hai ngày sau, chiều 7-5-2014 tại cuộc họp báo của Bộ ngoại giao, ông Trần Duy Hải phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia nói: “ Trung Quốc đã hạ đặt giàn khoan này để tiến hành  khoan thăm dò thềm lục địa của Việt Nam…” Sau hôm đó trên tất cả báo chí và các phương tiện truyền thông  nước ta đều gọi hành động của Trung Quốc “ hạ đặt giàn khoan trái pháp luật”. Vậy xin thử bàn về  một từ mới hạ đặt vừa gia nhập ngôn ngữ Việt Nam.
Có lẽ từ hạ  ( có nghĩa là ở dưới, rơi xuống, nhún nhường) là một từ gốc Hán được Việt hóa rất sớm. Từ hạ trong các từ  Hán Việt có chức năng làm định ngữ (bổ nghĩa cho danh từ)  như: hạ du (miền đất gần cửa sông), hạ điền ( lễ cúng Thần nông để bắt đầu làm nông nghiệp), hạ đẳng (bậc dưới) hạ quốc ( nước chư hầu) hạ vấn (chất vấn kẻ dưới)… Sau khi Việt hóa, từ hạ trở thành động từ làm chức năng vị ngữ (nêu hoạt động, tính chất, trạng thái của đối tượng được nêu ở chủ ngữ) như : Hôm nay siêu thị  hạ giá bán hàng;  Quân ta hạ đồn địch; Ông đội trưởng hạ lệnh, “Quyết tình nàng mới hạ tình” (Truyện Kiều), “Hạ từ van lạy suốt ngày”(Truyện Kiều); Anh ta hạ mình trước ông chủ; Buổi biểu diễn đã hạ màn… Các ví dụ trên đây đều cho thấy sau từ hạ là một danh từ có chức năng làm tân ngữ ( bổ nghĩa trực tiếp cho vị ngữ), chưa thấy sau động từ hạ là một động từ . Do đó hạ đặt là một từ tiếng Việt đầu tiên ghép hai động từ để chỉ hai động thái đi liền nhau là hạ và đặt.
Sau gần hai tuần xuất hiện,  từ hạ đặt đã được tất cả các  cá nhân, và các hội đoàn như Hội Luật gia Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam…   sử dụng khi lên tiếng phản đối Trung Quốc xâm lấn trái phép vùng đặc quyền kinh tế của nước ta . Không thấy người nào, hội đoàn nào dùng lại những cụm từ dùng hôm 5-5-2014 là đặt giàn khoan xuống. Tại sao người ta không theo cách dùng quen thuộc là đặt giàn khoan xuống? Tuy từ hạ đồng nghĩa với từ xuống, nhưng nếu dùng từ xuống thì nó nhất thiết phải đứng sau từ đặt . Trái lại từ hạ được đứng trước từ đặt, giống như cách tạo từ của ngữ pháp Trung Quốc.Phải chăng người tạo từ này cho rằng khi ghép  hai động từ hạ , đặt  liền nhau đã gây cảm giác ngữ điệu có vẻ mạnh lên? Hoặc chỉ là do tâm lý sính dùng từ gốc Hán cho  rằng  hạ đặt  có vẻ trí thức, biết “nói chữ” sang trọng, còn đặt xuống là cách nói  nôm na quê mùa của người ít học?
Nếu như từ hạ đặt được ra đời từ xa xưa khi  từ hạ còn là một từ Hán  chưa được Việt hóa với từ đặt  là từ thuần Việt thì đó là cách  kết cấu tạo từ  của ngữ pháp Trung Hoa, hoàn toàn  trái  với ngữ pháp Việt Nam. Có lẽ chúng ta hãy chờ xem qua thời gian có khi rất dài, để biết từ mới này có đủ sức sống để tồn tại và  lan tỏa được vào các lĩnh vực khác của cuộc sống hay không.   
       Ngày 15 -5-2014
TVC
 -----------------

“Mỹ sẽ đảm bảo an ninh, ổn định ở Biển Đông”

Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Samuel Locklear vừa tuyên bố châu Á- Thái Bình Dương là trọng tâm chiến lược của chính quyền Mỹ trong 70 năm tới và Mỹ sẽ đảm bảo an ninh, ổn định cho khu vực Biển Đông.
Trả lời phỏng vấn trên Đài truyền hình NHK của Nhật Bản, Đô đốc Locklear nhận định, những căng thẳng leo thang trên Biển Đông không chỉ đe dọa đến tình hình an ninh khu vực mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống kinh tế toàn cầu.
Đô đốc Hải quân Mỹ cũng nhấn mạnh, Mỹ có những mục tiêu cốt lõi ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và cần đảm bảo lợi ích cho các nước đồng minh. Vì hiện Mỹ đang có hiệp ước quốc phòng với các nước trong khu vực như Philippines, Nhật Bản, Thái Lan, Australia và Hàn Quốc. 
Đô đốc Hải quân Mỹ Samuel Locklear III
tại Diễn đàn An ninh châu Á Shangri-La, tháng 6.2014

Theo Đô đốc Locklear, Mỹ đã có mặt tại khu vực này kể từ đầu những năm 1800 và sẽ tiếp tục duy trì hòa bình và thịnh vượng cho khu vực này trong 70 năm tới. Hòa bình và nền an ninh ổn định trong khu vực sẽ cho phép Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á và cả Trung Quốc phát triển.
                    >>Shangri-La 2014: Tiếng nói lạc lõng của Trung Quốc
Do đó, Đô đốc Mỹ nhấn mạnh, các quốc gia đang có những tranh chấp tại khu vực này, đặc biệt là Trung Quốc cần phải thận trọng, tránh những tuyên bố và hành động khiêu khích khi khẳng định, củng cố chủ quyền và quyền hàng hải. 
"Chúng tôi khuyến cáo tất cả các quốc gia trong khu vực tránh tất cả các hành động khiêu khích và tính toán sai lầm trên biển". Ông cho rằng, chính những va chạm trên khu vực Biển Đông đang đe dọa đến sự ổn định của an ninh thế giới.
Mới đây, Đô đốc Locklear đã cùng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tham dự Đối thoại Shangri-La. Tại đây, Bộ trưởng Quốc phòng Hagel đã công khai chỉ trích Trung Quốc về những hành động ngang ngược đe dọa an ninh khu vực của nước này.
Bình Nguyên (theo Philstar)

 ------------

THẾ NÀO LÀ “QUAN HỆ CHIẾN LƯỢC”?

 
          * TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
Hôm 21 tháng 5, 2014, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam, gọi điện thoại cho người đồng nhiệm Hoa Kỳ, John Kerry, thảo luận về cuộc khủng hoảng liên quan đến việc Trung Quốc đưa giàn khoan thăm dò dầu khí HD 981 vào quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp, vào luôn bên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Ðây là lần đầu tiên một ngoại trưởng của Việt Nam gọi điện thoại trực tiếp cho người đồng nhiệm Hoa Kỳ; và hệ quả là ông Kerry mời ông Minh sang thăm Washington để “tham vấn toàn diện các vấn đề song phương và khu vực trong khuôn khổ mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai quốc gia.”
Bên trong Việt Nam, người ta hy vọng chuyến viếng thăm của ông Minh có thể sẽ nâng cấp mối quan hệ song phương Việt-Mỹ từ “đối tác toàn diện” lên thành “đối tác chiến lược,” đồng thời củng cố vị trí Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp với Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là, một mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam giải quyết các quan ngại về an ninh ra sao?
Một mối quan hệ chiến lược có thể được xem là phương cách thúc đẩy tư thế của Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như chủ quyền quốc gia. Mối quan hệ chiến lược cũng có thể được xem là sự mở rộng chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ ngoại giao của ViệtNam ngõ hầu tránh né không để bị rơi vào cuộc tranh chấp giữa các cường quốc. Giới lãnh đạo Việt Nam mong muốn thiết lập được mối quan hệ chiến lược với tất cả năm thành viên thường trực Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Việt Nam đã ký thỏa thuận “quan hệ chiến lược” với Anh và Pháp, “quan hệ chiến lược toàn diện” với Trung Quốc và Nga, nhưng chỉ mới đạt được “quan hệ toàn diện” với Hoa Kỳ từ tháng 7, 2013.
Khái niệm “quan hệ chiến lược” của Việt Nam thiếu vắng những nội dung thực chất. Trên thực tế, quan hệ này bao gồm một số khái niệm hợp tác nhưng khi đi vào chi tiết thì lờ mờ. Tại buổi Hội Thảo Quốc Tế về Việt Nam Học tại Hà Nội hồi tháng 11, 2012, khái niệm quan hệ chiến lược được định nghĩa là bao gồm bốn nguyên tắc: Không gây hấn, không liên kết với một quốc gia để chống lại một quốc gia khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, và tin cậy nhau. Theo nghĩa này, quan hệ chiến lược chỉ là một chuỗi ràng buộc thụ động chứ không tích cực.
Vụ khủng hoảng giàn khoan bộc lộ nhược điểm của quan hệ chiến lược; nó không giúp thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau cũng như không giúp bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Trong vụ này, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị Trung Quốc, đối tác chiến lược toàn diện gần gũi nhất của Hà Nội, vi phạm. Ba thành viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam có quan hệ chiến lược, là Pháp, Anh và Nga, thì bày tỏ sự lãnh đạm. Cay đắng hơn nữa, một trong những hãng thông tấn lớn nhất của Nga, RIA-Novosti, còn đăng một bài báo so sánh Việt Nam với Ukraine, đồng thời chê trách các hành vi bạo động đối với công nhân Trung Quốc làm việc tại ViệtNam. Mỉa mai thay, sự ủng hộ mạnh mẽ nhất mà Việt Nam có được lại đến từ Hoa Kỳ, đối tác toàn diện chứ chưa phải chiến lược của Việt Nam.
Việt Nam đang mưu cầu sự hỗ trợ từ phía Hoa Kỳ. Nếu muốn dựa vào Hoa Kỳ để chống lại các đe dọa từ Trung Quốc, Việt Nam cần đạt được một mối quan hệ cao hơn là thứ quan hệ chiến lược được định nghĩa một cách mù mờ; hoặc là Việt Nam phải đưa thêm các nội dung thực chất vào trong mối quan hệ chiến lược ấy. Ðã đến lúc giới lãnh đạo Việt Nam phải nhìn nhận một thực tế là đồng hành ý thức hệ cùng với tình xã hội chủ nghĩa anh em chẳng ngăn được ý đồ của Trung Quốc muốn xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Giới lãnh đạo Việt Nam phải nhìn nhận rằng mâu thuẫn quyền lợi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, cũng như sự thất bại trong vai trò vùng đệm hiệu quả của khối ASEAN, đã và đang khiến cho cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Bắc Kinh và Washington tại Á Châu trở thành gần như không thể tránh khỏi.
Sau Chiến Tranh Lạnh, giới lãnh đạo Việt Nam chia ra làm hai khuynh hướng. Khuynh hướng của nhóm thiểu số bao gồm những người có đầu óc cải cách, nghiêng về phương Tây. Nhóm đa số bao gồm những nhân vật thủ cựu, ủng hộ liên minh xã hội chủ nghĩa với Trung Quốc để bảo tồn chế độ. 
Nhu cầu thay đổi và hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu cũng như sự xâm lấn của Trung Quốc khiến Hà Nội đẻ ra một chính sách có tính thỏa hiệp. ViệtNam đang áp dụng tính thỏa hiệp ấy trong chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại cũng như trên con đường mưu cầu một quan hệ chiến lược với nhiều quốc gia khác nhau.
Thái độ hung hăng của Trung Quốc tại Biển Ðông cùng với tinh thần chống Tàu ngày một lên cao của dân chúng và của giới đảng viên Ðảng Cộng Sản khiến cho khuynh hướng thân Trung Quốc mất thế đứng và tính chính danh. Vụ khủng hoảng giàn khoan khiến Hà Nội nhận thức được rằng chính sách dựa trên liên minh ý thức hệ và khúm núm đối với Trung Quốc, thay vì đứng thẳng lưng nhìn thẳng vào sự vi phạm của Trung Quốc, là không thể đứng vững. Trên báo chí cũng như trên Internet, đã và đang có một sự đồng thuận trong dư luận, kêu gọi chính sách Thoát Trung - ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc.
Ngày 22 tháng 5, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố một cách rõ ràng, Việt Nam không bao giờ đánh đổi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ để “lấy hữu nghị viển vông.” Lời tuyên bố của ông Dũng có thể cũng là lời nói thay cho toàn bộ giới lãnh đạo bắt đầu sáng mắt trước sự thảm bại của chính sách khúm núm trước Trung Quốc. Lời tuyên bố cũng có thể do áp lực của dư luận quần chúng và nhu cầu giải quyết trò chơi cân bằng cán cân quyền lực. Chuyến đi Mỹ sắp tới của ông Minh cần được hiểu trong bối cảnh như vậy.
Nếu ông Minh được cử đi sứ để chơi trò chơi nguy hiểm này, nếu muốn thành công, ông ta cần được sự ủng hộ trọn vẹn của một giới lãnh đạo đoàn kết chặt chẽ phía sau một mục đích và chiến lược rõ ràng. Ngoài điều này ra, chẳng còn gì có thể giúp vớt Việt Nam ra khỏi tình thế khó khăn hiện nay.
NMH
---------------


Sách giáo khoa Trung Quốc thừa nhận biên giới đến đảo Hải Nam

Theo tư liệu Viện nghiên cứu Hán Nôm công bố sáng 3/6, cuốn sách giáo khoa của Trung Quốc xuất bản năm 1912 thể hiện biên giới nước này chỉ tới đảo Hải Nam.
"Cuốn sách giáo khoa do Bộ Giáo dục của nước Trung Hoa dân quốc phát hành nên có thể coi đây là sự thừa nhận về mặt nhà nước, rằng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa không phải của họ", PGS Trịnh Khắc Mạnh, Viện nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nói và đánh giá đây là tư liệu rất quan trọng.
Ông Mạnh cho biết, tư liệu này nằm trong bộ bản thảo dày 3.000 trang của công trình nghiên cứu "Thư mục Hán Nôm về biển đảo Việt Nam", đã được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiệm thu.
Một phần của bộ tư liệu này lần đầu được công bố nằm trong cuốn sách có độ dày hơn 480 trang, có tên gọi "Những tư liệu về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông".
sgk11.jpg
PGS.TS Nguyễn Tá Nhí thuyết trình những giá trị của các tư liệu vừa được công bố. Ảnh: Chí Hiếu.
PGS Mạnh cho hay, cuốn sách gồm 46 tư liệu, đa số đã được công bố dưới các hình thức khác nhau, song đây là lần đầu tiên nguyên bản gốc được giới thiệu rộng rãi trong đó có 17 tư liệu là bộ sử, 18 bản đồ. “Các tư liệu thể hiện nhất quán việc quản lý của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và cả vùng biển của chúng ta ở Biển Đông”, PGS Mạnh khẳng định.
46 tư liệu lần này tập trung vào 3 luận điểm chính. Một là chứng minh hàng năm, Nhà nước Việt Nam, từ thời chúa Nguyễn đến nay đều cử người ra đo vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa để phục vụ việc quản lý. Thứ hai, các nhà nước phong kiến đã thành lập những đội quản lý, ra xây miếu lập bia, đưa người dân ra trồng rau sinh sống ổn định từ thế kỷ 17. Những điều này đã được đưa vào chương trình sách giáo khoa ở Việt Nam.
“Từ thời Vua Minh Mạng, việc quản lý có bước phát triển mới. Có nhà buôn Ma Cao, Trung Quốc khi bắt gặp bản đồ ghi Hoàng Sa là của Việt Nam đã dâng lên vua Gia Long chứ không phải là dâng vua nhà Thanh. Điều này cho thấy người Trung Quốc đã ý thức rất rõ chủ quyền của đất nước chúng ta với Hoàng Sa”, vị Phó giáo sư nhấn mạnh.
Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học xã hội Nguyễn Xuân Thắng cho hay, các tư liệu về việc thực thi chủ quyền của nhà nước phong kiến là những bằng chứng pháp lý vững chắc.
Ông Thắng cũng thông tin, trong bộ tư liệu này còn có cuốn sách Giao Châu dư địa chí của các tác giả Trung Quốc viết lại theo một cuốn sách thời nhà Minh, đã công nhận quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
Theo ông Thắng, cơ quan này sẽ gửi tặng sách đến thư viện các tỉnh trong cả nước và có kế hoạch dịch sách ra tiếng Anh để giới thiệu với bạn bè quốc tế. “Qua các hội thảo, các cuộc liên lạc với cơ quan nghiên cứu phía Trung Quốc, các học giả, tri thức Trung Quốc cũng sẽ đọc được những tư liệu này”, ông Thắng nói.
Chí Hiếu/VnE
-------------------

Khóa chặt các họng súng gây hấn, đòi lại Hoàng Sa bằng pháp lý

             * TS. TRẦN ĐÌNH BÁ
“Đây là lúc VN phải tỉnh táo để khóa chặt tất cả các họng súng hiếu chiến của Trung Quốc để kéo họ ra tòa công lý quốc tế
Từng nghiên cứu Luật Biển từ 1977 để tham mưu cho Chính Phủ , tham gia phân giới cắm mốc  và trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biên giới 1979, TS Trần Đình Bá (Hội Khoa học kinh tế VN) có bài viết về đấu tranh pháp lý đòi lại chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Không thể để mất một tấc đất của cha ông!
Trong những ngày qua, theo dõi tình hình biển Đông, diễn biến quanh khu vực dàn khoan Hải Dương 981 đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước của người dân Việt, khơi dậy nổi hận suốt hơn 4 thập kỷ về trận Hài chiến Trường Sa 19/01/1974. Sự kiện hôm nay lật tung tất cả sự thật vốn bị dồn nén kìm hãm vì chữ “Nhẫn “ để “dĩ hòa vi quý, một nhịn chín lành”, đồng thời mở ra một chương mới trong quan hệ VN với Trung Quốc trên nguyên tắc phải tôn trọng chủ quyền của tuyên ngôn bất hủ “Nam Quốc Sơn Hà chi hữu chủ” của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt  1077, tuyên ngôn Độc lập 1945 và nay lại có  Hiến chương LHQ  và “ Hiến pháp “ quốc tế về Luật biển 1982 khẳng định bảo vệ.
Chưa bao giờ trong lịch sử 90 triệu dân VN cùng 5 triệu kiều bào ta ở nước ngoài có chung tiếng gọi tự hào Tổ quốc, một lá cờ đỏ sao vàng, một quốc ca, thống nhất ý chí hành động đến như thế bởi một nguyên tắc “ bất biến” đó là chủ quyền thiêng liêng đã thấm đẫm mồ hôi và máu của các thế hệ cha ông dày công khai phá mở cõi, chinh phục thiên nhiên  thú dữ , đấu tranh chống ngoại xâm để có hình hài Đất nước hôm nay.
Sự kiện không chỉ giữa hai nước mà là đánh thức, báo động toàn cầu về một trật tự thế giới đang bị thách thức bởi “Hiến pháp” đặc biệt quốc tế là Luật Biển 1982 bảo hộ đang bị chà đạp, bị vẩn đục bởi sự kiện Hoàng Sa 1974, “đường lưỡi bò” phi lý 2009, vụ bãi cạn Philippin 2013 và vụ đột nhập vùng đặc quyền kinh tế VN 01/5/2014. Chưa bao giờ trong lịch sử ngoại giao , toàn thế giới đang đồng tình ủng hộ bảo vệ VN theo Luật biển 1982.
Khởi kiện đòi lại Trường Sa là quốc sách là thời cơ  mang tính trọng trách!
“Quyền chủ quyền – quyền tài phán” về 2 quần đảo  Hoàng Sa và Trường Sa đã được các hội nghị quốc tế qan trọng nhất là San Francisco 1951  và văn bản Hiệp định Genève 1954 có các cường quốc là Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ  thừa nhận bằng chữ ký của các bên tham gia.
Kẻ cướp cầm vũ khí xộc vào nhà, ta kháng cự la ó lên tiếng ngăn chặn hay phản đối xua đuổi thì sẽ ngăn được tức thời nhưng chưa thể giải quyết dứt điểm bởi họ đã rắp tâm làm được một lần thì sẽ còn làm nhiều lần! Thế giới sinh ra Hiến chương LHQ, Luật Biển, Tòa án tội phạm chiến tranh để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền sống, quyền bình đẳng và nền hòa bình cho cả nhân loại, để giải quyết, xử lý những kẻ gây hành vi ngang ngược, uy hiếp sự sống bằng bạo hành vũ lực.
Nếu không làm tới nơi tới chốn thì tính mạng hàng chục triệu ngư dân VN hoạt động trên biển và trên các đảo còn bị đe dọa. Không có chuyện “mạnh được, yếu thua”, “ mềm nắn rắn buông” bất chấp chân lý, đạo lý của lãnh đạo Trung Quốc hành xử với Việt Nam trong suốt thời gian qua.
Nếu không đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế thì chẳng thể giải quyết dứt điểm việc nhà lãnh đạo Trung Quốc đang rắp tâm xâm lược lãnh thổ, vùng trời, vùng biển đất nước Việt Nam !
Trách nhiệm của những người VN hôm nay là không để mất một tấc đất của Cha Ông  , Độc lập dân tộc “bất biến” thì Chủ quyền quốc gia cũng đồng nghĩa với vĩnh cửu.
Chúng ta trân trọng tình hữu nghị lâu đời nhưng không để bị o ép bắt nạt. Chúng ta phải hành động ngay, khởi kiện ra cả Tòa án Công lý Quốc tế của LHQ và tòa án Luật Biển 1982 (ITLOS). Đây là giải pháp mạnh, hữu hiệu có giá trị pháp lý quốc tế cao nhất để đòi lại bằng được Hoàng Sa mà không tốn xương máu, giúp thế giới bảo vệ Hiến chương Liên hợp quốc. Thế giới đang ủng hộ và chân lý đang là của chúng ta!
Khóa chặt các họng súng gây hấn!
 Luật Biển đề cao tính khoa học, giá trị lịch sử nhân văn, tạo dựng mối liên kết quốc tế, quyền lợi của mọi quốc gia có biển và không có biển trên các huyết mạch hàng hải quốc tế … Kẻ gây hấn đang tìm mọi cách nhắm châm ngòi nổ chiến sự trên biển để lập lờ “đánh lận đỏ đen trên chiếu bạc” chủ quyền.
Việt Namphải tự tin vì có đủ bằng chứng cụ thể để đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Muốn có hòa bình và giải quyết tất cả những cuộc xung đột bằng biện pháp hòa bình nên đưa Trung Quốc ra tòa là hành động đúng đắn cần thiết nhất lúc này. Nếu như không đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế, không để cho cộng đồng quốc tế biết rõ sự vô nhân đạo, ngang ngược của Trung Quốc thì nhà cầm quyền đất nước này sẽ được nước làm tới?!
Khởi kiện ra hai tòa quốc tế ITLOS và ICJ là hành vi đối xử văn minh mà các quốc gia văn hiến khôn ngoan áp dụng để không cần dùng đến “cơ bắp”. Đây là lúc VN phải tỉnh táo để khóa chặt tất cả các họng súng hiếu chiến của TQ để kéo họ ra tòa công lý quốc tế mà không cần năn nỉ đàm phán thanh minh mà chấp nhận phán xử sòng phẳng bằng luật pháp quốc tế để bảo vệ một nguyên tắc trật tự quốc tế theo Luật Biển 1982 và nguyên tắc “bất biến” về chủ quyền VN đã được quốc tế nhiều lần thừa nhận. Ta minh bạch chủ quyền trước thế giới và họ cũng phải làm như ta vì thế giới !
“Ứng vạn biến “là nghệ thuật đấu tranh trong việc đồng loạt mở các mặt trận chính trị , ngoại giao nghị viện, ngoại giao nhân dân, mặt trận pháp lý đấu tranh kiên quyết để đòi chủ quyền Hoàng Sa khác hẳn với quan niệm “ Dĩ hòa Vi quý” trong quan hệ quốc tế !
TĐB
---------------


Sự uốn lưỡi ngu ngốc, đồi bại và có chủ đích

Kể từ thời nhà Lý có chuyện Lý Thường Kiệt đem quân đánh úp chau Ung và châu Khiêm thì Đai Việt ta đã bị Hán tăc xâm lăng cưỡng chiếm một phần lớn lãnh thổ và Hán hóa một phấn lớn dân tộc.
Rõ nhất là hai tỉnh bây giờ Trung Quốc gọi là tỉnh Quang Đông và Quang Tây trước đây là của Đại Việt. Bà Trưng bình định 55 thành trì của Tô Định phần nhiều là ở hai tính này. Thực tế đến nay đền thờ Bà Trưng ở hai tỉnh đang thuộc về Tầu Cộng này đến thờ hai Bà có thể còn nhiều hơn đến thờ ơ nước Việt Nam bây giờ.
Kể từ khi Việt Nam còn lại một theo đất nho nhỏ chạy dài theo chân dãy Trường Sơn và bị ép lại bởi biển Đông, Đại Việt luôn phải tồn tại trong điều kiện vừa mềm và cứng với thiên triều.
Mền là từ triều đại nhà Đinh cho đến nhà Hậu Lê đều phảii cống nạp lễ vật và cúi đầu nhận sắc phong Nam Vương của thiên triều.
Cứng là hễ thiên triều nhân cơ hội nước ta có rối ren liền đưa quân sang xâm lược với bất cứ chiều bài gì như thời Tống là để phù Đinh, thời Lý là để phù Tiền Lê, thời Trần là để phù Lý, thời Hồ Quý Ly là để phù Trần, thời Quang Trung là để phù Hậu Lê thì liền bị quân và dân Đại Việt kiên quyết đánh đuổi và bao giờ cũng giành được thắng lợi. Vì thế mà mới còn một nước Việt Namnho nhoi như ngày nay.
Mềm là một sách lược của cha ông ta qua các vương triều.
Cứng là một ý chí, một quyết tâm sắt đá phải bảo vệ đất nước bằng mọi giá.
Mềm là để kiềm chế máu xâm lăng của thiên triều để thiên triều tưởng rằng Đại Việt ta đã thần phục họ.
Cứng là luôn luôn đánh đuổi chúng ra khỏi đất nước.
Mềm chỉ là sách lược ngoại giao.
Trong khi phải ngọt nhạt thậm chí chịu nhục với thiên triều thì bên trong các triều đại của Đại Việt ta vừa công khai vừa ngấm ngầm giáo dưỡng cho mọi tầng lớp người trong xã hội biết Hán tặc luôn là kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm và truyền kiếp của dân tộc Việt. Người dân Việt muốn còn dân tộc, muốn còn đất nước thì phải luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu chống lại thiên triều. Nếu các triều đại nước ta không thực hiện sách lược giữ nước cương nhu như vậy, lại ém nhẹm thông tin, lại bắt toàn dân phải cũng phải cúi đầu nhận về cái nhục của của vương, hầu, khánh, tướng trong sách lược ngoại giao thì tôi tin dân tộc Việt đã bị thiên triều nuốt chửng từ ngàn xưa rồi.
Cho nên bên những hình ảnh vương, hầu, khanh, tướng thay mặt con dân giả vờ thần phục, chấp nhận nín nhịn, chịu nhục, các vương, hầu, khánh, tướng không bao giờ để cho dân Việt học theo cách chịu nhục của vương, hầu, khanh, tướng với thiên triều mà ngược lại luôn cổ súy, giáo dưỡng, chăm chỉ luyện gươm, mài kiến sẵn sàng chống lại sự xâm lăng của thiên triều bất kỳ lúc nào. Bởi vậy trong dân Việt mới mấy ai không biết về bài thơ thần của nước Việt:
Sông núi nước Namvua Nam
Sách trời đã chép rành rành
Bạn giặc (Hán tặc) cớ sao sang xâm lược
Chúng bay chỉ chuốc lấy bại vọng”.
Mới mấy ai không biết Cáo Bình Ngô của Lê Lợi và Nguyễn Trãi khi ngẩng cao đầu tự tin mắng vào mặt vua Minh của thiên triều là “Thằng nhãi con Tuyên Đức lại động binh không ngừng”
Mới mấy ai không biết hào khí Quang Trung: “Đánh cho chúng để đen răng, đánh cho chúng phải dài tóc. Đánh cho chúng phải mở mắt ra rằng Việt Namlà đất nước anh hùng có chủ”.
Mới mấy ai không biết ý chí nhà Trần “Một tấc đất ở biên cương mà bị mất vào tay giặc thì tướng có trách nhiệm và cả dòng họ phải chịu tôi chém đầu”.
Vì thế mà mới có kế tiếp các triều đại của Ngô Quyền của Lê Hoàn của Trần đóng cọc trên sông Bạch Đằng.
Mơí có nhà Trần ba lần lừng lẫy đánh thắng quân Nguyên Mông hùng mạnh.
Mới có nhà Hậu Lê với chiến công oanh liệt trước quân thiên triều “Thây chết đầy sông, tanh hôi vạn dặm, Thôi tụ lê gối dâng tờ tạ tội, Thương thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng, Ải chi Lăng Liễu Thăng bị phay đầu”; mới có Thái tử Thót Hoan chui vào ống đồng chạy trốn, Mới có Gò Đông Đa mồ chôn 20 vạn quân Thanh xâm lược”.
Vân vân.
Đó là mạch ngầm sức mạnh của dân tộc mà các triều đại chưa bao giờ quên, chưa bào giờ ngừng bồi đắp, rèn luyện, tích tụ, dù vua chúa tỏ ra khúm núm như thế nào với thiên triều đi nữa.
Đó là bản lĩnh của các vương triều Đại Việt trải qua cả ngìn năm giữ nước và xây dựng đất nước.
Như vậy sự cúi đầu nhận sắc phong của thiên triều, cống nạp cho thiên triều hay sự ngoan với thiên triều chỉ là sách lược, bản chất chỉ là sự cung kính giả vờ nhằm giữ được hòa hiếu với thiên triều càng lâu càng tốt, nó là cái vỏ ngoài che một sự thật rằng, dân tộc Việt muốn tồn tại thì lúc nào cũng phải sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước trước thiên triều.
Chính quyền Cộng sản ngày nay cũng vin vào sự “thần phục” sách lược của cha ông ta để cho rằng thời nào nước ta cũng phải mền với thiên triều (Bây giờ thiên triều có tên là Tầu Cộng). Vì vậy mà chúng mới “môi hở răng lạnh, mới tình đồng chí mặn nồng, mới 4 tốt, 16 chữ vàng, mới hai dân tộc tương đồng, mới hai nước cùng là cộng sản cùng thờ cha Mác- Le nin”. Họ kiên trì truyên truyền bắt dân ta cũng phải tin tình hữu nghị, tình đồng chí, tình láng giềng, tình cùng tồn tại cùng phát triển của Tầu Cộng đối với nước ta là có thật.
Và để chứng minh cái tình hữu nghị cùng tồn tại cùng phát triển “có thật” đó, họ đã âm thầm dâng cho thiên triều đất ở Ải Bắc, ở Vịnh Bắc Bộ, ở Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa và ém nhẹm những trang sử hào hùng chống Hán tặc của dân tộc, ém nhẹm máu xương của lớp lớp con em dân tộc mình vì đất nước đã chống Tầu Cộng mà hy sinh; đồng thời bắt bớ, đánh đập, cầm tù thậm chí là thủ tiêu những ai phê phán, chống lại cái tình hữu nghị đó.
Vin vào sách lược “thần phục” của cha ông ta là chúng cố tình muốn thủ tiêu bản chất tích tụ kháng Hán tặc ngàn năm của dân Việt, bắt dân Việt phải thần phục Tầu và đồng lòng dâng đất nước, dâng dân tộc cho Tầu Cộng cùng chúng nó.
Thực chất là chúng muốn lấp liếm cái đường lối kiên trì hòa đồng hai nước thành một nước của thiên triều. Thực chất là chúng muốn bán nước Việt kỳ được cho Tầu Cộng.
Đó là chiêu trò đường lối ngu ngốc, đồi bại, phản bội tiền nhân, phản bội dân tộc của họ.
Nó hoàn toàn không đúng với sách lược ở các vương triều của nước ta trước đây.
Một sự uốn lưỡi ngu ngốc, đồi bại và có chủ đích.

(Theo blog Bà đầm xòe)
--------------

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Chiến thuật 'chuột vờn mèo'

Nhìn lại vụ giàn khoan Hải Dương 981 không thể không lưu ý riêng đến lựa chọn chiến thuật và vị trí hạ đặt giàn khoan đầy toan tính, thâm hiểm của TQ

Lựa chọn chiến thuật
Trong vụ Hải Dương 981 có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, TQ sử dụng nhuần nhuyễn các lực lượng dân sự hoặc khoác áo dân sự, tiến hành các biện pháp mang tính dân sự, kinh tế, tránh các hành động quân sự gây phản cảm với cộng đồng quốc tế. Chiến thuật này có thể được gọi là thay “tàu xám” (hải quân) bằng “tàu trắng” (dân sự) đối phó với các lực lượng chấp pháp biển của các nước láng giềng. Chiến thuật này đã thành công trong vụ đuổi tàu cá Philippines ở bãi ngầm Scarborough. 
Thứ hai, sử dụng giàn khoan di động thay cố định. Tính di động cho phép nhanh chóng đưa giàn khoan vào vị trí mong muốn trong thời gian ngắn đủ để đối phương bất ngờ không phản ứng kịp và bên ngoài nếu muốn cũng không kịp can thiệp khi thành sự đã rồi. 
Philippines, Scarborough, TQ, giàn khoan, Hải Dương 981, Biển Đông, ASEAN, chủ quyền, Hoàng Sa, Gạc Ma, CNOOC, kiểm ngư, cảnh sát biển, dầu khí
Tàu hải cảnh TQ áp sát, phun vòi rồng vào tàu kiểm ngư VN
Đối phương cũng không đủ thời gian để triển khai các biện pháp dài hạn như pháp lý. Khoảng thời gian để khởi kiện một vụ án quốc tế thường khá dài. Từ lúc Philippines đưa đơn khởi kiện TQ sau sự cố Scarborough tháng 2/2013, một năm sau các thủ tục thành lập Tòa và chuẩn bị Bản ghi nhớ mới hoàn tất và ít nhất đến tháng 9/2014 Tòa mới có thể thụ lý. 
Trong thời gian đó CNOOC đã có thể chủ động kéo giàn khoan ra vị trí khác để Tòa không có thẩm quyền do đối tượng vi phạm đã rút. TQ có thể huy động lực lượng tàu cá hùng hậu để ngăn cản, thậm chí tấn công khiêu khích các lực lượng chấp pháp biển láng giềng, tạo cớ gây ra các xung đột cục bộ cho tàu xám tấn công. 
Lịch sử đã chứng minh tàu cá TQ luôn là lực lượng đi đầu gây hấn ở Đà Nẵng năm 1962, Hoàng Sa 1974 và Scarborough năm 2012. Triển khai dàn khoan ở phía Bắc, TQ không quên mở rộng căn cứ Gạc Ma ở phía Nam theo đúng cách giương Đông kích Tây, phân tán sự chú ý của đối phương cũng như của cộng đồng thế giới. 
`
Toan tính vị trí chiến lược
Vị trí giàn khoan cách đá Tri Tôn 17 hải lý nhằm khẳng định quan điểm của TQ về đường cơ sở 1996 của họ và đá này cũng như các địa hình nổi khác thuộc quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa - VN) có quyền có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa. Vị trí này cũng củng cố quan điểm của TQ là quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa - VN) hoàn toàn thuộc TQ không có tranh chấp. 
Nếu vị trí hạ đặt nằm trong vòng cung 12 hải lý sẽ dễ bị hiểu lầm là TQ chỉ đòi quy chế lãnh hải cho các đảo đá mà họ chiếm đóng trái phép bằng vũ lực từ năm 1974. Vị trí này cũng thích hợp gần Hải Nam để có thể huy động lực lượng chấp pháp biển và hải quân hùng hậu cũng như tàu cá để bảo vệ giàn khoan. 
Trong trường hợp có dầu thương mại thì hệ thống đường ống dẫn dầu vào Tây Sa hay Hải Nam cũng ngắn hơn, dễ lắp đặt và bảo vệ hơn là đi sâu vào vùng biển VN. Vị trí này nằm gần lô 119 mà Exxon Mỹ đã khoan thăm dò, đủ để gây áp lực với các công ty Mỹ nhưng không đi đến đối đầu với Mỹ. 
Khu vực chỉ liên quan đến VN và TQ nên Bắc Kinh hy vọng ASEAN với truyền thống trung lập, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, sẽ không có cớ gì để đồng thuận phản bác. 
Vị trí này cũng không ảnh hưởng lớn đến đường hàng hải quốc tế nhộn nhịp trong Biển Đông để dễ bác bỏ sự quan ngại quốc tế về an ninh hàng hải. Ngày 27/5, phía TQ đã di chuyển giàn khoan về vị trí mới (tọa độ 15033’38” vĩ Bắc; 111034’62” kinh Đông) cách đảo Tri Tôn về hướng Đông-Đông Nam 25 hải lý, cách vị trí cũ 23 hải lý theo hướng Đông-Đông Bắc, cách đảo Lý Sơn khoảng 150 hải lý. Tuy nhiên vị trí này vẫn tiếp tục nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ bờ VN . 
Tuy nhiên toan tính không phải bao giờ cũng đúng với thực tế.

Giải pháp cho xung đột
Các cuộc xung đột quốc tế thường có một kết thúc dựa trên tương quan lực lượng và kết quả tổng hợp trong 5 lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế và truyền thông. 
Xét quy mô kinh tế, lực lượng quân sự, bộ máy truyền thông, VN khó có thể so sánh với TQ - quốc gia đông dân nhất thế giới. 
Nhưng quan điểm kiềm chế, không sử dụng lực lượng quân sự, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình được các nước trong khu vực và quốc tế đánh giá cao, ủng hộ. 
Sự kiềm chế của Cảnh sát biển và Kiểm ngư VN trước các cú đâm va, vòi rồng của phía TQ không phải chỉ cho mình mà cho cả hòa bình ổn định khu vực và thế giới.
Trên bàn cờ chính trị quốc tế, trong một thế giới đang ngày càng phẳng, các nước ngày càng cần đến nhau, đến một tình hữu nghị bền vững. 
Quan điểm VN thể hiện rõ trong tuyên bố của các lãnh đạo cấp cao: “VN sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Đồng thời, VN luôn thể hiện thiện chí, kiên trì giải quyết thỏa đáng bất đồng thông qua đàm phán, đối thoại và các biện pháp hòa bình khác theo đúng nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, phù hợp với các quy định và thực tiễn Luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật biển 1982, không để vấn đề này tổn hại đến sự tin cậy chính trị và hợp tác giữa hai bên”. 

Theo điều 33 Hiến chương LHQ, các biện pháp hòa bình bao gồm từ đàm phán, trung gian hòa giải, các tổ chức quốc tế cho đến các hành động pháp lý. 
VN đang và sẽ kiên trì đề nghị đàm phán, thông báo tình hình căng thẳng ở Biển Đông cho LHQ, ASEAN, tổ chức các nước không liên kết, và các nước khác. Indonesia và Nga đều đã tỏ ý sẵn sàng có vai trò trung gian hòa giải. 
Vai trò trung gian hòa giải của Indonesia cũng phù hợp với chính sách của ASEAN giải quyết các bất đồng trong khu vực không có sự can thiệp từ bên ngoài. Một ủy ban điều tra hòa giải cũng có thể được thành lập trên cơ sở yêu cầu LHQ. Tuy ủy ban không có những quyết định bắt buộc nhưng các khuyến nghị của ủy ban và dư luận quốc tế sẽ định hướng cho một giải pháp.
VN cũng có thể lựa chọn giải pháp pháp lý vào thời điểm cần thiết khi các biện pháp khác không giải quyết được vấn đề. Mọi giải pháp chỉ có thể thực hiện trên thiện chí của các bên. 
Trên thực địa, chiến thuật “chuột vờn mèo” của Cảnh sát biển và Kiểm ngư VN đã làm phía TQ tiêu tốn hàng triệu đô la mỗi ngày cho việc duy trì giàn khoan và hơn 130 tàu hộ tống. 
Công tác tuyên truyền trong và ngoài nước và những phản ứng ngoại giao mạnh mẽ, hiệu quả sẽ giúp dư luận trong và ngoài nước hiểu rõ hơn các quyền lợi chính đáng của một nước ven biển và những hành động không thể chấp nhận trong quan hệ quốc tế. 
Sức mạnh tổng hợp thực địa, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, truyền thông và tương quan chính trị sẽ buộc Hải Dương 981 phải dịch chuyển. Sau Hải Dương 981, cuộc đấu tranh trên Biển Đông vẫn trường kỳ. 
Việt Long/VnN
**********

Không tin dân thì mất nước

* NGUYỄN MINH NHỊ 
Dân gian có câu: “Cạn đìa mới biết Lóc, Trê/ Bày lưng mới biết Rô hay Sặc”.
Biển Đông tuy đang dậy sóng, nhưng đã “bày lưng” đủ “các loại cá”.
Hữu  nghị viễn vông ?
Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 làm cả thế giới thấy rõ TQ có “trỗi dậy hòa bình” như họ nói hay không?
Riêng Việt Nam qua vụ này, một lần nữa thấy rõ thêm những “lời vàng ngọc” là gì. Thấy rõ thêm những kẻ cơ hội thực dụng mà gần đây thôi ta lại… cả tin và có người, ta nghi ngờ thì họ lại tỏ ra sốt sắng hoặc kín đáo giúp. Đặc biệt đây là cơ hội để VN nhìn lại chính mình. Nhưng nhất là dịp để chính quyền thấy hết tấm lòng sắt son với đất nước của nhân dân từ Bắc đến Nam, từ khắp năm châu -bốn biển dội về! Đó chính là sự “bội thu”- là hai chữ DÂN TIN và TIN DÂN được phục sinh mạnh mẽ!
Kể từ ngày TQ hạ đặt giàn khoan đã ba tuần lễ, lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát biển Việt Nam (CSB) đã kịp thời có mặt chấp pháp, ngăn cản và yêu cầu phía TQ rút giàn khoan hạ đặt trái phép trong lãnh hải Việt Nam. Ngư dân ta không ngại bị tàu TQ quấy phá, thậm chí hành hung, cướp bóc, đánh đập…đã liên tục bám ngư trường. Chính quyền, các tòa báo kịp thời đưa phóng viên báo chí ngoài nước, trong nước ra đến nơi, chứng kiến tại chổ hành vi khiêu khích của TQ.
Đặc biệt, phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị ASEAN – Naypitau (Myanma) và tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về Đông – Á (Philippine), thể hiện lập trường hòa hiếu nhưng rất kiên quyết của VN, nhất là trả lời phỏng vấn của Hãng AP và Reuter: “VN luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.
Và Thủ tướng cho hay, đang “cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”. Phát biểu tại hội nghị cán bộ khoa học – kỹ thuật, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng đã minh bạch: “Vàng là quý (16 chữ), nhưng kim cương quý hơn vàng, song không có gì quý hơn Độc lập – Tự do!”. Chúng ta đã gởi văn bản chánh thức đến Đại hội đồng LHQ và các Tổ chức quốc tế khác để thông báo tình hình, bày tỏ lập trường, ý chí và kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ.
Dân ta trong nước, nước ngoài sôi sục xuống đường bày tỏ thái độ phản đối hành động xâm lăng của TQ và ủng hộ Chính phủ trong đối sách với TQ. Tuy trong nước, một số cuộc xuống đường tự phát có những kẻ xấu lợi dụng cướp phá, phá phách một số cơ sở sản xuất kinh doanh ở khu công nghiệp Bình Dương, Vũng Áng – Hà Tĩnh…nhưng cũng được chính quyền sở tại kịp thời chấn chỉnh. Tất cả nói lên một hình ảnh, một ý chí VN quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo như ngàn năm trước đây, cha ông ta đã từng sinh tử sống mái ở cửa sông Bạch Đằng, thu hồi nền độc lập từ trong tay người Hán.
Hồ Cẩm Đào có lần nói với Tổng Bí thư Đảng CSVN: “VN và TQ có chung một dòng chảy văn hóa”. Một câu nhiều ngụ ý sâu xa. Tôi thử giải mã: VN và TQ không chỉ chung một đại lục Á- Âu mà còn là láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”. Trải qua lịch sử bốn ngàn năm, nhưng tính theo văn tự ghi chép từ đầu Công nguyên, thì TQ đô hộ VN trên 1.100 năm, còn 1.000 năm độc lập, nhưng cũng phải chiến đấu chống TQ xâm lược hàng chục lần khác nhau.
Đặc biệt từ 1974 đến 2014, trong 40 năm gần đây nhất, đồng chí và hữu nghị nhất, nhưng TQ cũng 03 lần trực tiếp đánh qua biên giới đất liền VN, chiếm đảo Hoàng Sa, đảo Gạc-Ma và nay dùng giàn khoan dầu cắm sâu vào lãnh hải Việt Nam 40 hải lý….Với các nước láng giềng có chung biên giới đất liền và lãnh hải với TQ như: Triều Tiên, Nhật bản, Philippine, Nga, Mông Cổ, Ấn độ, Nê-Pan, Myanma. Lào…, TQ đều có lối hành xử tham lam lãnh thổ và biển đảo như vậy, nhất là Nga và Ấn độ bị mất đất về tay TQ không ít.
Song, có lẽ hiếm có quốc gia nào như VN được láng giềng TQ có những động thái kỳ lạ triền miên, liên tục và… toàn diện. Ngay cả trong giao thương, thương lái TQ mua của VN những thứ lá, rễ, củ, quả và những mặt hàng “kỳ quái” mà không ai biết mua để làm gì, khi mua khi không, tạo ra sự “thăng giáng- chấn động”, luôn bất ổn với nền nông nghiệp VN.
Rõ ràng dòng chảy văn hóa đó phải chăng là văn hóa có nguồn gốc hàng ngàn năm của các dân tộc nông dân và các quốc gia nông nghiệp Á-Đông nặng về cảm tính? Xác định điều này rất quan trọng, vì nó sẽ là cơ sở để ta xem xét lại ta, kể cả những thứ mà ta hay gọi là “văn hóa truyền thống” có thật sự là văn minh, có lợi cho dân tộc tân tiến hay không? Hay là thứ văn hóa của bùa mê dùng để trói buộc, ru ngủ các “phiên thần”, kiểu xúi dại, phá hoại đạo lý luân thường.
“Giấc mộng Trung hoa” của TQ sẽ hiện thực và điều đó cũng sẽ trùng với giấc mơ “khôi phục đế chế” của nước Nga đang hãnh tiến thì nhân loại sẽ ra sao? Ucraina và VN hiện đang vừa tỉnh thức sau cơn ác mộng cùng một lúc ở hai bờ Đông Âu và Đông Á về thân phận bị xem là “phiên thuộc” thuở nào! Văn hóa cảm tính, nền quản trị quốc gia đầy lỏng lẻo, rất có thể là đất màu mỡ cho những kẻ gian hùng múa võ.
Văn hóa đó ứng vào “đường lưỡi bò”, vào Hoàng Sa 1974, Gạc-ma 1988 và giàn khoan 981 hiện nay là “dòng chảy văn hóa” bắt đầu từ đâu, mà đã bị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho là “hữu nghị viển vông, lệ thuộc” không thể đổi bằng chủ quyền dân tộc?
Trung Quốc khó lòng “chặt đôi trôi ghe”
Dù TQ rất thèm thuồng và có nhiều mưu kế khiêu khích để VN nổi nóng, rơi vào “bẫy” và TQ có cớ ra tay. Nhưng tôi vẫn tin, người VN chúng ta không hề run sợ. Trong hoàn cảnh quan hệ đan xen lợi ích các nước lớn và giữa TQ với VN, TQ sẽ khó lòng “chặt đôi trôi ghe”.
Nhưng tôi chỉ sợ như lời của nhạc sĩ tài ba họ Trịnh: “Đi loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Chừng nào sợi dây “chung dòng chảy văn hóa” ấy vẫn còn đủ sức để VN… loanh quanh bên ông bạn vàng như con gà bị cột chân bên đống trấu. Nước Anh, Pháp, Đức…, từng trải qua là trung tâm của thực dân đế quốc ở mấy thế kỷ trước, nhưng nay các nước láng giềng của họ có ai trong tình cảnh như các nước láng giềng của hai ông “Đại Nga” và “Đại Hán” không?
Nếu có thì làm sao có Khối thị trường chung Châu Âu và Liên hiệp Châu Âu? Ngay như Phần Lan là thuộc địa Sa hoàng, sau 1917 được Lê-Nin trả độc lập và họ đã như thế nào so phần còn lại của Liên bang Xô-Viết? Bởi vậy mà sau khi LX- Đông Âu sụp đổ, khác hơn phần còn lại trong khối Liên Xô- Đông Âu, Phần Lan lại dựng tượng Lê-Nin hoành tráng để tri ơn! Châu Âu được vậy là vì họ là các quốc gia đã công nghiệp hóa và cũng là các dân tộc công nhân, “hậu sanh” của văn minh lúa nước nên rất “khả quí”!
Biển Đông dậy sóng đã ba tuần nay. Vòi rồng tàu TQ hút không cạn nước Hoàng sa, nhưng cái “ao làng” của “đồng chí” đã cạn và cá đã bày lưng! VN cũng nên nhanh chân bước từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nhiệp như Nghị quyết của Đại hội lần thứ XI đề ra: “Đến năm 2020 nước ta cơ bản sẽ là nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Và tiền đề công nghiệp hóa là phải dựa vào nội lực chính mình.
Một Đảng lãnh đạo mà không thực sự biết dựa vào dân, không tin dân, mọi sự lãnh đạo quyết đoán chỉ theo ý chủ quan của một cá nhân hoặc một nhóm người quyền lực cao nhất, thì tất nhiên nhân dân sẽ khong tin đảng. Muốn dựa vào nội lực, phải TIN DÂN và mới được và cần được DÂN TIN. Không tin dân thì mất nước. Khi mất dân, mất nước, đảng tồn tại ở đâu?

NMN