Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỂN ĐÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỂN ĐÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

“Mỹ sẽ đảm bảo an ninh, ổn định ở Biển Đông”

Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Samuel Locklear vừa tuyên bố châu Á- Thái Bình Dương là trọng tâm chiến lược của chính quyền Mỹ trong 70 năm tới và Mỹ sẽ đảm bảo an ninh, ổn định cho khu vực Biển Đông.
Trả lời phỏng vấn trên Đài truyền hình NHK của Nhật Bản, Đô đốc Locklear nhận định, những căng thẳng leo thang trên Biển Đông không chỉ đe dọa đến tình hình an ninh khu vực mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống kinh tế toàn cầu.
Đô đốc Hải quân Mỹ cũng nhấn mạnh, Mỹ có những mục tiêu cốt lõi ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và cần đảm bảo lợi ích cho các nước đồng minh. Vì hiện Mỹ đang có hiệp ước quốc phòng với các nước trong khu vực như Philippines, Nhật Bản, Thái Lan, Australia và Hàn Quốc. 
Đô đốc Hải quân Mỹ Samuel Locklear III
tại Diễn đàn An ninh châu Á Shangri-La, tháng 6.2014

Theo Đô đốc Locklear, Mỹ đã có mặt tại khu vực này kể từ đầu những năm 1800 và sẽ tiếp tục duy trì hòa bình và thịnh vượng cho khu vực này trong 70 năm tới. Hòa bình và nền an ninh ổn định trong khu vực sẽ cho phép Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á và cả Trung Quốc phát triển.
                    >>Shangri-La 2014: Tiếng nói lạc lõng của Trung Quốc
Do đó, Đô đốc Mỹ nhấn mạnh, các quốc gia đang có những tranh chấp tại khu vực này, đặc biệt là Trung Quốc cần phải thận trọng, tránh những tuyên bố và hành động khiêu khích khi khẳng định, củng cố chủ quyền và quyền hàng hải. 
"Chúng tôi khuyến cáo tất cả các quốc gia trong khu vực tránh tất cả các hành động khiêu khích và tính toán sai lầm trên biển". Ông cho rằng, chính những va chạm trên khu vực Biển Đông đang đe dọa đến sự ổn định của an ninh thế giới.
Mới đây, Đô đốc Locklear đã cùng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tham dự Đối thoại Shangri-La. Tại đây, Bộ trưởng Quốc phòng Hagel đã công khai chỉ trích Trung Quốc về những hành động ngang ngược đe dọa an ninh khu vực của nước này.
Bình Nguyên (theo Philstar)

 ------------

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Đích nhắm nào của TQ sau giàn khoan 981?

Ngay tháng 6/2012, CNOOC gọi thầu phi pháp 9 lô dầu khí gần bờ biển miền Trung Việt Nam. Ý đồ Trung Quốc không thay đổi khi muốn độc tôn Biển Đông, tiến tới chia sẻ Thái Bình Dương với Mỹ. 
Đã có nhiều phân tích cho rằng hành động hạ đặt giàn khoan là sự đáp trả chuyến công du 4 nước châu Á của Tổng thống Obama 21-29/4/2014 và sự khát năng lượng của nền kinh tế thứ hai thế giới. 
Thực tế khả năng triển khai một giàn khoan đã được dự đoán trước từ 1992 khi TQ ký thỏa thuận hợp tác bất hợp pháp với Crestone (Mỹ) trên một vùng biển rộng 125.000 km2.
Đây là khu vực bãi Tư Chính thuộc thềm lục địa VN mà TQ khi đó đã viện cớ bãi Vạn An Bắc thuộc chủ quyền TQ nhưng nằm trên thềm lục địa nước khác. Khả năng này ngày càng trở nên hiện hữu khi giàn khoan Hải Dương 981 được đóng xong vào năm 2011 và khoan thử đầu tiên tháng 5/2012.
Ngay tháng 6/2012, CNOOC gọi thầu phi pháp 9 lô dầu khí gần bờ biển miền Trung VN. Ý đồ TQ không thay đổi khi muốn độc tôn Biên Đông, tiến tới chia sẻ Thái Bình Dương với Mỹ. 
Biển Đông với vị trí địa chiến lược nối hai đại dương, với tài nguyên dầu khí, băng cháy và cá không tránh khỏi là điểm nóng trong ván bài giữa hai siêu cường. 
Chỉ riêng số lượng tàu chở dầu quốc tế đi qua Biển Đông đã chiếm hơn một nửa của thế giới, gấp 3 lần số qua kênh đào Suyez, 5 lần qua kênh đào Panama TQ, thị trường tiêu thụ dầu khí thứ hai thế giới và dầu chủ yếu được vận chuyển qua Thái Bình Dương, qua tuyến hàng hải quan trọng ở Biển Đông, không thể để an ninh năng lượng của mình bị Mỹ và đồng minh khống chế. 
Chiến lược an ninh biển của TQ muốn thành công còn phải có sân sau là Biển Đông (lợi ích cốt lõi) để tránh khả năng cạnh tranh trực tiếp với Mỹ và các đồng minh Nhật Bản, Hàn Quốc ở Biển Hoa Đông. 
Chiến lược này mâu thuẫn giữa mục tiêu chiếm đoạt, tranh chấp chủ quyền với nhu cầu có môi trường “trỗi dậy hòa bình”. 
Để xoa dịu mâu thuẫn đó, TQ đưa ra sự kết hợp yêu sách đường lưỡi bò phi lý mà thế giới đều lên án với chủ thuyết ‘Chủ quyền thuộc TQ, Gác tranh chấp cùng khai thác” (GTCCKT). 
Các hoạt động trên biển của TQ những năm gần đây đều tuân thủ chiến lược cứng rắn không đối đầu với Mỹ, nhưng cứng rắn có chọn lọc với láng giềng, khiêu khích đủ để đạt mục đích ngắn hạn mà không vượt qua làn ranh đỏ chiến tranh. 
Duy trì đường lưỡi bò để có cơ sở đưa vấn đề GTCCKT. Các phương tiện hiện đại nhất của TQ đều thử nghiệm đầu tiên tại Biển Đông, từ tàu sân bay Liêu Ninh đến giàn khoan di động Hải Dương 981 hay tàu ngầm chạy năng lượng hạt nhân. 
Quyết định địa chính trị
Đích nhắm của Hải Dương 981 tiếp theo có thể sẽ là Tư Chính, là 9 lô dầu khí ven bờ miền Trung VN mà CNOOC gọi thầu bất hợp pháp, là Bãi Cỏ Rong, Bãi Cỏ Mây, bãi ngầm Tăng Mẫu, bất cứ nơi đâu trong phạm vi đường lưỡi bò nhưng ưu tiên các vùng biển ven bờ các nước nơi khả năng khai thác dầu khí thương mại đã được khẳng định. 
Việc triển khai giàn khoan ngay sau chuyến đi của Tổng thống Obama được cho là phản ứng gay gắt của TQ với chiến lược xoay trục châu Á của Mỹ nhưng để chuẩn bị triển khai giàn khoan và lực lượng tàu hộ tống hùng hậu không chỉ trong 2 ngày. 
Phản ứng của Mỹ đối với việc sát nhập Crưm của Nga càng củng cố thêm quyết tâm của TQ. Chuyến thăm châu Á của Tổng thống Obama chỉ là chất xúc tác, còn việc triển khai đã được quyết định, nằm trong lộ trình lâu dài thâu tóm Biển Đông và không thể tránh khỏi. 
Vấn đề chỉ còn là thời điểm thích hợp. Đây là một quyết định địa chính trị chứ không phải đơn thuần kinh tế khi đưa giàn khoan 1 tỷ USD đến vùng biển ít có khả năng thu lợi ích cao.
Hạ đặt giàn khoan cũng là để đe nẹt các nước trong khu vực không đi theo tấm gương của Philippinesđưa các tranh chấp ra Trọng tài quốc tế. 
Nhưng không may cho TQ, hồ sơ kiện của Philippines đã được trình đúng thời hạn 30/3/2014 và được Tòa trọng tài thụ lý. 
Hải Dương 981 bề ngoài là xung đột Việt - Trung nhưng thực chất là một bước thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa TQ và Mỹ để tìm các nước đồng minh, các vệ tinh trong Biển Đông, tiến tới kiểm soát Biển Đông. 
Việt Long/VnN
--------------------



Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

'VN đã sẵn sàng kiện TQ vụ giàn khoan'

Thủ tướng Chính phủ Việt Nam nói nước này đã 'chuẩn bị' và 'sẵn sàng' có hành động pháp lý kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về vụ Giàn khoan Hải Dương 981 ở khu vực Hoàng Sa, theo tờ Bloomberg.
Hôm 30/5/2014, ông Nguyễn Tấn Dũng nói với tờ báo Mỹ Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng 'các bằng chứng' và đang cân nhắc thời điểm để đưa vụ kiện ra quốc tế.
"Việt Nam đã chuẩn bị bằng chứng cho một hành động pháp lý thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển ngoài khơi của Việt Nam và đang cân nhắc thời điểm tốt nhất để trình vụ kiện," tờ Bloomberg hôm 31/5 viết.
"Nếu xung đột nổ ra ở Biển Đông, sẽ không có người chiến thắng"
Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng:
"Chúng tôi đã chuẩn bị xong và sẵn sàng kiện," ông Dũng được trích thuật nói.
"Nếu xung đột nổ ra ở Biển Đông, sẽ không có người chiến thắng," ông Dũng đưa ra cảnh báo, và cho rằng hai phần ba tổng khối lượng thương mại hàng hải toàn cầu đi qua các tuyến đường ở gần khu vực, vốn rất gần với khu vực mà Trung Quốc hạ đặt và mới đây di chuyển giàn khoan.
Thủ tướng Việt Namcũng nói với tờ báo Mỹ về việc Việt Nam đang đối phó một số thiệt hại kinh tế mà do cuộc tranh cãi từ vụ giàn khoan của Trung Quốc gây ra.
"Tranh cãi trên biển với Trung Quốc đã tác động một số lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên chúng tôi đã tiến hành một số biện pháp thích hợp để đối phó," ông Dũng được trích lời nói thêm.
'Đang cân nhắc'
Hôm thứ Bảy, cổng thông tin điện tử của Chính phủ Việt Namtại địa chỉ Chinhphu.vn cũng đưa tin tức về phát ngôn của ông Nguyễn Tấn Dũng trả lời tờ Bloomberg.
"Liên quan đến vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: hành động của Trung Quốc vừa qua đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định ở khu vực.
"Việt Nam kiên quyết đấu tranh và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển chủ quyền của mình. Việt Nam cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam."
Trang mạng của Chính phủ Việt Nam cũng cho hay Việt Nam "đang cân nhắc" giải pháp hành động pháp lý chống Trung Quốc.
"Trả lời các câu hỏi liên quan đến quan điểm, cách thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Việt Nam đã và sẽ làm hết sức để bảo vệ chủ quyền vùng biển của mình bằng biện pháp hòa bình, vì độc lập, chủ quyền của tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đấu tranh pháp lý theo luật pháp quốc tế là một biện pháp hòa bình. Lãnh đạo Việt Nam đang cân nhắc giải pháp này", trang tin Chinhphu.vn viết.
Phát biểu của Thủ tướng Việt Nam với tờ Bloomberg được đưa ra chỉ bốn ngày sau khi một tàu cá của ngư dân Việt Nam bị một tàu Trung Quốc đâm chìm ở khu vực Hoàng Sa mà Trung Quốc đang hạ đặt và di chuyển giàn khoan Hải Dương 981.
Thông điệp của ông Dũng cũng được đưa ra vào thời điểm khai mạc diễn đàn Đối thoại về an ninh khu vực Shangri-La 13 diễn ra tại Singapore nơi mà Nhật Bản, Hoa Kỳ bên cạnh một số các quốc gia khác, đã có những phát biểu phê phán trực tiếp hoặc gián tiếp Trung Quốc 'vi phạm luật pháp' quốc tế và gây 'mất ổn định', 'căng thẳng' về an ninh trong khu vực.
Hai ngày trước đó, phái đoàn Đại diện Thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc hôm 28/5 gửi thư cho ông Tổng Thư ký Ban Ki-moon đề nghị lưu hành một Công hàm của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc, trong đó 'phản đối Trung Quốc không chịu chấm dứt các hoạt động vi phạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam' đối với 'vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam' theo quy định của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên.
'Bộ chính trị quyết'
Hôm 29/5, Thủ tướng Việt Namcũng nói tại một phiên họp thường kỳ của nội các Chính phủ do ông đứng đầu rằng thời điểm kiện Trung Quốc sẽ do Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Namquyết định.
"Thủ tướng cho biết, hiện Bộ Chính trị chỉ đạo phải tiếp tục đấu tranh bằng biện pháp hoà bình, đúng theo luật pháp quốc tế," ông Dũng được tờ VnEconomy dẫn lời hôm thứ Năm nói.
"Riêng về giải pháp đấu tranh pháp lý, Thủ tướng cho biết chúng ta đã chuẩn bị hàng chục năm nay, còn thời điểm nào hợp lý thì Bộ Chính trị sẽ quyết định."
Hôm thứ Bảy, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh, đã lên tiếng tại diễn đàn Shangri-La 13.
Ông Thanh đánh giá quan hệ giữa Việt Nam và 'nước bạn láng giềng' Trung Quốc vẫn 'tốt đẹp' nhưng kêu gọi Trung Quốc 'rút giàn khoan' 981 ra khỏi khu vực đang căng thẳng ở Hoàng Sa, đồng thời ngồi xuống 'cùng đối thoại' với Việt Nam để giải quyết tình hình.
"Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nên đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng như sự việc ngày 01/05/2014, Trung Quốc đã đơn phương hạ đặt giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đã gây bức xúc cho Nhân dân Việt Nam, gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế," ông Thanh nói trong bài phát biểu.
"Tôi cho rằng, quân đội hai nước phải hết sức kiềm chế, tăng cường hợp tác với nhau, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động không để có những hành động ngoài tầm kiểm soát. Quân đội hai nước phải thể hiện vai trò tham mưu với lãnh đạo Đảng, Nhà nước xử lý thỏa đáng vấn đề một cách bình tĩnh, kiên trì, để không xảy ra xung đột, càng không để xảy ra chiến tranh," Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói thêm.(BBC)
-----------------

Mỹ-Trung “chơi bài ngửa” tại Đối thoại Shangri-La

 
Diễn đàn an ninh diễn ra ở Singapore, nơi quy tụ giới chức quân sự cấp cao Mỹ-Trung, đã được chứng kiến màn đấu khẩu thẳng thừng về quan điểm chính sách của hai nước. 
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singaporengày 1/6.
Những hội thảo an ninh kiểu như Đối thoại Shangri-La có thể dễ bị xem là những diễn đàn ngôn luận xa xỉ, đạt được ít hiệu quả. Nhưng đôi khi, nói lại được chứng minh là “hiệu quả” hơn làm.
Có thể thấy điều này qua mối quan hệ quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ, mối quan hệ thường không suôn sẻ, thậm chí, đôi khi căng thẳng và thường xuyên có những hiểu lầm lẫn nhau.
            Trong những năm gần đây hai bên đều nỗ lực xây dựng mối quan hệ quân sự-với-quân sự, điều được xem là tối quan trọng trong tiến trình xây dựng lòng tin giữa hai nước. Nhưng hầu hết tiến trình này diễn ra sau những cánh cửa đóng kín.
Nhưng tại Đối thoại Shangri-La, người ta đã được chứng kiến mối quan hệ quân sự-với-quân sự giữa hai nước có lần hiếm hoi được phơi bày. Nó bắt đầu từ sáng sớm trong ngày 1/6, sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel vạch ra chi tiết về cái họ gọi là “tái cân bằng” sang châu Á-Thái Bình Dương, điều chuyển thêm nhiều tàu chiến, nhiều máy bay tiên tiến hơn tới khu vực
Trung Quốc “không tin”
Ông Hagel thuyết phục rằng ý định của Mỹ là nhằm bảo vệ cho các đồng minh, chứ không nhằm vào bất kỳ nước cụ thể nào.
Song, Thiếu tướng Yao Yunzhu, giám đốc Trung tâm quan hệ quốc phòng Trung-Mỹ, thuộc Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), Học viện khoa học quân sự Trung Quốc, đã phản pháo.
Trong bộ quân phục màu xanh lá, cùng tiếng Anh trôi chảy, bà lịch sự, nhưng cứng rắn, bác bỏ lời của ông Hagel, tuyên bố Bắc Kinh đơn giản không “được thuyết phục” bởi lời gải thích của ông và nhận thấy chiến lược mới của Washington là cách kiềm tỏa sức mạnh đang lên của Trung Quốc.
Ngay sau đó, vào buổi chiều, tướng Yao đã xuất hiện trong phái đoàn thảo luận về phòng thủ tên lửa đạn đạo với tướng không quân Mỹ Michael Keltz, giám đốc cơ quan Kế hoạch và chính sách chiến lược cho Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ.
Ông Keltz và tướng Yao rõ ràng đã biết nhau từ những lần “chạm trán” trước đây và cả hai đều “ngả bài” với khán giả.

Tham gia lịch sự
Trong cuộc họp, còn có 2 phái đoàn “cân bằng” khác: một bên là Nga và một bên là Hàn Quốc.
Giới chuyên gia cho rằng đây chỉ là sự tham gia lịch sự của hai vị tướng Mỹ và Trung Quốc tại cuộc họp. Nhưng họ lại rất thẳng thắn và đi đến cùng. Tướng Yao nói “toạc” rằng Trung Quốc phản đối kế hoạch phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ và đồng minh ở khu vực. Bà cho hay, “điều đó gây hại cho niềm tin chiến lược” giữa Washington và Bắc Kinh. Và một lần nữa Bắc Kinh coi đây là một dạng khác nhằm kiềm tỏa Trung Quốc của Mỹ.
Về phần mình, tướng Keltz phủ nhận quan điểm của tướng Yao và khẳng định tất cả mục đích chỉ là nhằm đối phó với đe dọa từ Triều Tiên và các kế hoạch phòng thủ này không định và không được thiết kế nhằm đối trọng với lực lượng phòng thủ chiến lược của Trung Quốc. Mỹ sẽ không thay đổi chính sách của mình và của đồng minh trong khu vực.
Song rõ ràng là ông Keltz đã hi vọng sẽ đối thoại thêm với quân đội Trung Quốc, nhằm giải thích cho ban lãnh đạo PLA rằng các kế hoạch phòng thủ không có gì đáng sợ. “Mối quan hệ quân sự-với-quân sự tốt đẹp hơn đồng nghĩa với việc chúng ta có cơ hội thảo luận về những vấn đề này”, ông Keltz cho hay. Ông cũng chỉ ra, “hôm nay có hai vị tướng, Trung Quốc và Mỹ, đang tranh luận về điều này công khai trong cùng một phòng”.
Ông nhấn mạnh thêm, “cách đâu không lâu, mối quan hệ quân sự giữa hai nước được dựa trên những quyết định theo kiểu liệu một đội bóng bàn Mỹ hay một đội quân nhạc có nên được cử tới Bắc Kinh!”.

 Vũ Quý (Theo BBC)
----------------

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Hoa Kỳ kết liễu sự mập mờ của Trung quốc về đường chín đoạn

    * Jeffrey A. Bader
Lần đầu tiên Hoa Kỳ đã bày tỏ một cách rõ ràng rằng đường chín đoạn do Trung quốc và Đài loan vẽ ra trên Biển Đông là trái với luật pháp quốc tế. Trong buổi tường trình trước Uỷ Ban Đối Ngoại của Quốc hội Hoa Kỳ, trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương Danny Russel đã nói: “Theo luật pháp quốc tế, các đòi hỏi chủ quyền ở biển Biển Đông  phải dựa trên các yếu tố từ đất liền.
Tất cả những tuyên bố chủ quyền từ “đường chín đoạn” của Trung quốc mà không dựa trên các quyền chủ quyền trên đất liền đều trái với luật pháp quốc tế. Cộng đồng thế giới yều cầu Trung quốc phải giải thích, nếu không thì phải điều chỉnh những tuyên bố chủ quyền dựa trên đường chín đoạn, để tuân thủ theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.”
Với diện tích rộng hơn 1,4 triệu dặm vuông, Biển Đông có hàng trăm các đảo và quần đảo nhỏ, các rặng san hô, mà phần lớn là không có người ở hay không đủ điều kiện sinh sống. Trung quốc thừa hưởng ý tưởng về đường chín đoạn từ chính quyền quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, đó là một đường vẽ mập mờ bao quanh tất cả các hòn đảo ở Biển Đông, mà vùng nước trong đó Trung quốc đòi hỏi chủ quyền. Dựa theo Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (U.N. Convention on the Law of the Sea - UNCLOS), được thương thảo vào những năm 70 và  80, các quốc gia ven biển được yêu sách quyền độc quyền  khai thác các nguồn tài nguyên ngư nghiệp và khoáng sản trong “vùng đặc quyền kinh tế” (Exclusive Economic Zones -  EEZ), đó là vùng nước rộng 200 hải lý tính từ bờ biển hay xung quanh các hòn đảo có người ở. Không có điều luật nào trong công ước UNCLOS cho phép đòi hỏi quyền chủ quyền mà không dựa vào nguyên tắc tính từ đất liền này. Dựa trên nguyên tắc này của UNCLOS, Hoa Kỳ xem các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông mà không dựa trên các hòn đảo có người sinh sống là hoàn toàn vô giá trị.  Tuyên bố của trợ lý ngoại trưởng Russel đã làm rõ luận điểm này của Hoa Kỳ.
Có thể thấy rõ sự quan tâm của Hoa Kỳ dưới chính quyền của Tổng thống Obama đến tình hình Biển Đông. Chỉ dấu đầu tiên của sự quan tâm đó là tuyên bố được biết đến rộng rãi của Ngoại trưởng Clinton tại một hội nghị quốc tế tại Hà nội vào năm 2010, trong đó bà nêu ra các nguyên tắc trong chính sách của Hoa Kỳ ở Biển Đông: đó là tôn trọng tự do hàng hải, giải quyết các bất đồng một cách hoà bình, tự do thương mại, thương thuyết để tiến tới thành lập một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (Code of Conduct – COC) nhằm giải quyết các bất đồng, và vấn đề liên quan ở đây, là các đòi hỏi chủ quyền vùng ở các vùng biển phải dựa trên các chủ quyền hợp pháp trên đất liền. Tuyên bố của bà Clinton đã đụng chạm đến một chủ đề rất mập mờ mà trước đó ít được nhắc đến, nó làm cho Biển Đông trở thành một điểm nóng về ngoại giao, một chủ đề tranh luận giữa các nhà phân tích và các chuyên gia về an ninh quốc gia, và trong một vài trường hợp, nó làm cơ sở cho các tranh cãi của các bên đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Trong khi các nước Đông Nam Á như Việt Nam. Philippines, Malaysia, và Brunei nhiệt liệt ủng hộ, tuyên bố này làm Trung quốc rất tức giận.
Ngoại trưởng Clinton đã đưa ra tuyên bố này để phản hồi cho những bất an ngày một gia tăng giữa các nước láng giềng của Trung quốc về việc nước này đang ngày càng mạnh bạo hơn trong các đòi hỏi chủ quyền thông qua các phương cách chính trị và quân sự, trong một môi trường thiếu vắng các cơ chế ngoại giao để làm giảm thiểu các căng thẳng. Trong khoảng giữa năm 1994 và 1995, đã có một giai đoạn căng thẳng tương tự khi Trung quốc tiến hành xây dựng các công trình ở rặng san hô Mischief nằm trong quần đảo Trường Sa mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Những đổ vỡ  mang tính hệ quả trong mối quan hệ giữa Trung quốc và các nước Đông Nam Á đã làm cho các lãnh đạo Trung quốc khi ấy, mà dẫn đầu là ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham, phải thương thảo với các nước ASIAN một bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declaration of Conduct – DOC), và một cam kết rằng các bên sẽ không có những hành động làm thay đổi nguyên trạng. Mặc dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ tấn công tàu cá do một trong các bên, hoặc một trong những quốc gia liên quan, mà chủ yếu là Việt Nam, cho phép các công ty thăm dò dầu khí trong vùng tranh chấp, những biến cố này đã không châm ngòi cho các cảnh báo chiến tranh.
Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, đã có những lo ngại gia tăng trong vùng và ngay tại Hoa Kỳ là Trung quốc đã không còn thích thú với các giải pháp ngoại giao nữa, mà nay đang quay sang sử dụng các phương cách quân sự và luật pháp để thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Các tuyên bố nhắm vào giới ngoại giao Hoa Kỳ là Trung quốc xem Biển Đông như một “quyền lợi cốt lõi” mà liên quan nó Trung quốc sẽ không chấp nhận sự can thiệp làm tăng căng thẳng từ bên ngoài. Trong năm 2012, Trung quốc đã xua đuổi ngư dân Philippines ra khỏi ngư trường truyền thống của họ nằm xung quanh bãi cạn Scarborough, nằm cách các đảo lớn của Philippenes ít hơn 125 dặm, rồi từ đó cho cảnh sát biển liên tục kiểm soát. Cũng trong năm 2012, Trung quốc thiết lập một đơn vị hành chánh và quân sự bao gồm nhiều phần của quần đảo Hoàng sa. Ngay khi vừa thiết lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông vào cuối năm 2013, người phát ngôn bộ ngoại giao Trung quốc tuyên bố ý định thành lập một vùng nhận dạng phòng không tương tự ở Biển Đông, chắc chắn sẽ chồng lấn với ít nhất vài khu vực đã được thiết lập bởi các nước khác.
Biển Đông là một vấn đề phức tạp đối với Hoa kỳ. Chúng ta không có đòi hỏi nào trong vùng đó. Chúng ta đã không, và sẽ không nên ngả theo phe nào trong các tuyên bố chủ quyền. Cho dù bất kỳ nước nào thiết lập được khả năng phát huy sức mạnh từ các đảo ở Biển Đông cũng sẽ khó lòng mà đe doạ được tàu bè và quân đội Hoa kỳ hoạt động trong vùng. Mặc dù có những đánh giá về tiềm năng dầu hoả và khí đốt, khả năng khai thác thương mại là không thể trong tương lai gần.
Tuy nhiên, Hoa kỳ có các mối quan tâm trọng yếu ở biển  Biển Đông. Đó là:
•    Để bảo đảm tự do hàng hải, không phải vì quyền lợi của bất cứ nước cụ thể nào, mà đó là một quyền quốc tế quan trọng trong một khu vực mà 50% các tàu  chở dầu phải đi qua, một hải lộ lớn của kinh tế thế giới, và là nơi mà các tàu hải quân Hoa kỳ được gửi đến và hoạt động thường xuyên theo luật pháp quốc tế. 
•    Để ngăn chặn việc sử dụng sức mạnh hay áp bức để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay hàng hải
•    Để bảo vệ cho việc tuân thủ các nguyên tắc và luật pháp quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề như vậy
•    Để bảo đảm tất cả các quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ, được quyền khai thác các nguồn lợi ngư nghiệp và khoáng sản bên ngoài các vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp
•    Để ngăn chặn một đồng minh của Hoa Kỳ là Phillippenes khỏi bị bắt nạt hay bị tấn công bằng sức mạnh
•    Để đảm bảo rằng quyền lợi của tất cả các quốc gia, chứ không phải chỉ có nước lớn, phải được tôn trọng.
Có những áp lực giữa các yếu tố khác nhau trong quyền lợi của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không muốn thấy Trung quốc đạt được quyền kiểm soát trong khu vực thông qua việc áp bức. Nhưng cùng lúc, Hoa Kỳ không muốn Biển Đông trở thành nơi đối đầu hay xung đột giữa Mỹ và Trung quốc. Sự thách thức các đòi hỏi của Trung quốc, nếu không tuân theo các thông lệ quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc của Hoa Kỳ, có thể kích thích chủ nghĩa dân tộc Trung hoa và sự hoài nghi nhắm vào chủ đích của Hoa Kỳ, và thậm chí kích thích các hành xử hung bạo hơn của Trung quốc trong vùng nhắm vào các bên tranh chấp khác nếu như Hoa Kỳ không có những đáp trả hiệu quả. Mặt khác, một Hoa kỳ thụ động sẽ làm lu mờ các quan tâm kể trên, và sẽ làm cho các bên tranh chấp khác tin rằng Hoa Kỳ bỏ rơi họ và cả những nguyên tắc của mình, qua đó có thể làm cho chính sách “xoay trục” của chính quyền Obama về Châu Á trở thành trò hề, làm mất đi sự đón nhận của khu vực đối với sự hiện diện và ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
Qua việc công khai không chấp nhận đường chín đoạn, trợ lý ngoại trưởng Russel và chính quyền Obama đã vạch ra một sự giới hạn đúng chỗ. Họ đã làm rõ là những phản đối của chúng ta dựa trên nguyên tắc, dựa trên luật pháp quốc tế, chứ không phải chỉ để nhắm vào Trung quốc. Nếu cách tiếp cận của chúng ta với vấn đề Biển Đông vẫn tiếp tục dựa trên nền tảng của nguyên tắc và luật pháp quốc tế, Hoa Kỳ có thể đạt được những mục tiêu đề ra, bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp mà không phải đối đầu với Trung quốc trong vấn đề chủ quyền.
Những việc gì khác mà Hoa Kỳ nên làm? Rất nhiều thứ:
•    Hoa Kỳ nên đảm bảo rằng cách tiếp cận của mình không bị xem là đơn phương. Đôi khi các quốc gia khác ngoài mặt thì im lặng nhưng bên trong vẫn ủng hộ. Chính quyền Hoa Kỳ nên làm rõ với các bên tranh chấp khác, cũng như các nước ASIAN khác như Singapore và Thái Lan, là chúng ta kỳ vọng ở họ một sự phản đối công khai đối với đường chín đoạn theo luật pháp quốc tế.  
•    Hoa Kỳ nên thảo luận với Đài Loan để làm rõ quan đểm của họ về đường chín đoạn, làm rõ rằng những đòi hỏi của họ phải dựa theo UNCLOS.
•    Hoa Kỳ nên tiếp tục nỗ lực cho việc đàm phán để tạo ra một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (COC) giữa Trung quốc và các nước ASIAN, như chúng ta đã và đang làm từ lúc ngoại trưởng Clinton thông báo về mục tiêu đó ở Hà nội. Thực tế là, quyết định gần đây của Trung quốc và các nước ASIAN trong việc bắt đầu các cuộc đối thoại về COC là một thắng lợi từ tuyên bố của ngoại trưởng Clinton.
•    Hoa Kỳ nên khuyến cáo Trung quốc không thành lập bất cứ một vùng nhận dạng phòng không mới nào trên Biển Đông. Mặc dù việc làm rõ quan điểm về vấn đề này một cách công khai là cần thiết, các cuộc đối thoại ngoại giao kín dường như có tác dụng ảnh hưởng hơn với Bắc Kinh.
•    Hoa Kỳ nên thảo luận với tất cả các bên tranh chấp về những đồng thuận khả thi trong việc khai thác khoáng sản và ngư nghiệp mà không liên quan đến chủ quyền, bao gồm việc hợp tác đầu tư giữa các công ty.
•    Thượng nghị viện nên chuẩn thuận UNCLOS. Điều đó sẽ cho phép Hoa Kỳ có thêm tính chính danh khi tham gia một cách chủ động và hiệu quả vào các quyết định về tương lai Biển Đông. Tất cả các ngoại trưởng tiền nhiệm của Hoa Kỳ đều ủng hộ một quyết định như vậy. Hải quân Hoa Kỳ cũng như các nguyên soái hải quân và tư lệnh Thái Bình Dương, cũng như phần lớn các công ty Hoa Kỳ có liên quan, cũng đều ủng hộ. Thay vì nói, chúng ta hãy bắt tay vào làm thôi.
Liêm Nguyên dịch theo brookings.edu )
-----------------

Chủ quyền không thể cưỡng chiếm bằng vũ lực

 
"Nói đến chủ quyền ở đây là phải nói đến chủ quyền quốc gia, tức là chủ quyền được xác lập và thực thi bằng Nhà nước, bởi Nhà nước trong điều kiện hòa bình, không có tranh chấp, chứ tuyệt nhiên không phải chủ quyền được cưỡng chiếm bằng vũ lực" - Chủ tịch Hội đồng thẩm định các hiện vật, chứng tích lịch sử, pháp lý về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa - GS.TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết.
Còn rất nhiều bằng chứng 
Chủ tịch Hội đồng thẩm định các hiện vật, chứng tích lịch sử, pháp lý về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Giáo sư, Tiến sỹ Sử học Nguyễn Quang Ngọc là một trong những người gắn bó từ đầu trong hội đồng thẩm định, trực tiếp tham gia hệ thống hóa, "giải mã" các hiện vật, chứng cứ lịch sử, pháp lý; sắp xếp, hệ thống các cứ liệu, hiện vật đó để làm cơ sở cho các cuộc triển lãm Hoàng Sa - Trường Sa sau này đã được Bộ Thông tin Truyền thông tổ chức.
Ông cho biết, còn rất nhiều chứng cứ khẳng định tính pháp lý của Việt Nam về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa; có rất nhiều chứng cứ quan trọng và sống động, rất đời thường, gần gũi do chính người dân cung cấp, trao tặng.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc kể: Triển lãm đầu tiên do T.P Đà Nẵng tổ chức có tên "Tài liệu Hoàng Sa - Trường Sa", chủ yếu là Hoàng Sa. Đây là đề tài nghiên cứu của Tiến sỹ Trần Đức Anh Sơn cùng một số anh em Việt Kiều nước ngoài, bao gồm một số bộ bản đồ phương Tây, các Atlat phương Tây về Trung Quốc... kết hợp với những tư liệu từ trước đến nay, chủ yếu tư liệu là về Hoàng Sa. Tôi thấy những tư liệu đó khá phong phú.
Khi Cục Thông tin Đối ngoại (Bộ Thông tin Truyền thông) đứng ra tổ chức triển lãm Quốc gia về tư liệu Hoàng Sa - Trường Sa, ông Ngọc được mời tham gia với tư cách Chủ tịch Hội đồng thẩm định. Hội đồng thẩm định đã họp nhiều lần, gồm các chuyên gia ở Ban Biên giới, Bộ KHCN; Trung tâm nghiên cứu biển và Hàng hải (ĐHQG); Cục Bản đồ; Cục Thông tin Đối ngoại...
Cuộc triển lãm đầu tiên của Đà Nẵng chủ yếu trưng bày các tư liệu về Hoàng Sa hoặc có liên quan đến Hoàng Sa; huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa nên ít được giới thiệu ở đây.
Hội đồng đã thảo luận về đề cương, dự kiến các bản đồ để trưng bày, bổ sung thêm tư liệu về Trường Sa. Tài liệu của Tiến sỹ Trần Đức Anh Sơn tập trung nhiều hơn vào các bộ bản đồ cổ phương Tây và các bộ Atlas mới sưu tầm được ở Mỹ, tuy đã khá phong phú, nhưng vẫn còn một số bản đồ và thư tịch cổ Việt Nam có giá trị minh chứng chủ quyền cao, nhưng chưa được đề cập đến, trong đó đặc biệt là tư liệu Châu Bản. Châu Bản là tài liệu đặc biệt quý giá có giá trị minh chứng cao nhất cho chủ quyền biển đảo của ta. Rất may, lúc đó Ban Biên giới đã xuất bản cuốn sách giới thiệu về Châu Bản - đó là tư liệu tốt được khai thác để giới thiệu trong cuộc triển lãm tại Hà Tĩnh.
Điều quan trọng khác, là hội đồng thẩm định đặt những tư liệu đó trong một không gian trưng bày cụ thể để những tư liệu này kiểm chứng lẫn nhau, làm tăng thêm giá trị của chính nó đồng thời cũng như tăng thêm giá trị của cuộc trưng bày. Cuộc trưng bày tại Hà Tĩnh là một trong những cuộc trưng bày rất thành công.
Sau mỗi một cuộc triển lãm, Ban tổ chức nhận được ý kiến của người dân, vừa góp ý, vừa cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ, trong đó có những tài liệu cực kỳ quý giá... làm dầy dặn thêm bộ tư liệu triển lãm.
"Chúng tôi cũng nhận được đóng góp của những người đến thăm, họ đóng góp ý kiến cụ thể từ việc tổ chức, thuyết minh cho đến cách trưng bày chú thích từng tấm bản đồ, từng bức ảnh, bức tranh... Càng ngày hệ thống tư liệu, dữ liệu của chúng ta càng phong phú và được bổ sung rất nhiều.
Khi đưa những tài liệu đó ra trước công chúng, nhận được những ý kiến đóng góp của người dân, chúng tôi chắt lọc được những thông tin quý để củng cố, hoàn thiện cho những lần giới thiệu trưng bày về sau, chúng tôi không trưng bày nhiều hơn những bản đồ hàng hải hay những bản đồ được vẽ ước lệ và bổ sung thêm những bản đồ được vẽ khách quan và chuẩn xác, nên trên thực tế số lượng bản đồ được trưng bày có bị rút bớt mà chất lượng trưng bày lại được tăng lên".
Tại cuộc trưng bày ở Thái Nguyên, chúng ta bổ sung thêm được một số bản đồ mới chụp ảnh được từ các tấm bản đồ gốc ở phương Tây, mà các đoàn đi nghiên cứu mới tập hợp được. VD: Bản đồ của anh em nhà Van Langren (bản đồ từ năm 1595) đó là bản đồ rất quý. Trước đây chúng tôi chỉ dùng bản chụp lại từ các cuốn sách nên trông mờ mờ ảo ảo.
Lần này Tiến sỹ Trần Đức Anh Sơn chụp ảnh bản đồ này trong một chuyến đi khảo sát ở Pháp. Đấy là một bản tốt để người xem hiểu được một tài liệu gần với nguyên gốc của nó hơn; Bản đồ Taberd vẽ  năm 1838, trước đây Tiến sỹ Nguyễn Nhã đã giới thiệu, nhưng thực ra bản này được in lại và hình như đã có gia công nên mực in màu xanh, trông có vẻ hiện đai... Bây giờ Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn cung cấp ảnh chụp màu từ bản gốc... đó là những bổ sung có giá trị. Nhiều tài liệu khác được bổ sung thêm, nhiều tài liệu được lược bớt đi...
Trưng  bày có chọn lọc
Chúng ta không cần trưng bày nhiều tranh ảnh, bản đồ, mà chọn lọc những chứng liệu xác thực có giá trị cao, đặc biệt cần có thuyết minh đầy đủ rõ ràng để người xem hiểu được một cách hệ thống. Chú thích cụ thể hơn, thuyết minh và nhấn mạnh những cứ liệu có giá trị cụ thể; thậm chí chúng tôi còn tập huấn cho những người sẽ có trách nhiệm thuyết minh... Đó là những chuẩn bị giúp nâng cao hiệu quả của cuộc triển lãm.
Theo GS, T.S Nguyễn Quang Ngọc: Số lượng các chứng tích, chứng cứ lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Namlà rất lớn. Chỉ riêng bản đồ của phương Tây đã có vài ba trăm tấm. Nhưng, theo ông, cùng một lúc trưng bày ngần đó là chưa cần thiết, và cũng không có chỗ... nên phải lược bớt. Ví dụ, có những bản đồ chỉ đánh dấu Paracel (Hoàng Sa), hoặc Costa de Paracel (bờ biển Hoàng Sa)... Ban đầu, chúng tôi cũng trưng bày hết nhưng sau đó chúng tôi đã chắt lọc lại, chỉ giới thiệu những tấm thật điển hình.
Có nhà nghiên cứu còn cho những tấm bản đồ này là minh chứng hùng hồn và tuyệt đối về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, thậm chí từ đầu thế kỷ XVI, nhưng theo nghiên cứu của chúng tôi thì những tấm bản đồ này chỉ nói lên mối quan hệ nào đó về chủ quyền giữa Paracel và khu vực ven biển miền Trung nước ta.
Vì thế, chúng tôi đã tập trung vào những bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Namrõ ràng và chính xác hơn. Ví dụ bản đồ của Taberd (An Nam đại quốc họa đồ - bản đồ của nước An Nam), trong đó có vẽ quần đảo Hoàng Sa với dòng chữ Paracel seu Cát Vàng (Paracel hay là Cát Vàng) ở vị trí tương đối chính xác.... Taberd từng xác nhận đây là chủ quyền đích thực và ông cũng không nghĩ rằng sau này lại có ai tranh dành với vua Gia Long về quần đảo này. Ngay cả những điều khẳng định đó của tác giả, hội đồng thẩm định chúng tôi cũng phải dày công nghiên cứu thêm, trước khi đưa nó vào hệ thống các tài liệu, chứng cứ pháp lý để trưng bày.
Tư liệu Châu Bản, các tài liệu khác phải được đặt trong mối tương quan với các nguồn tài liệu (tài liệu trong nước, tài liệu phương Tây và cả tài liệu của Trung Quốc), từ đó, chất lượng và giá trị minh chứng chủ quyền  đầy đủ và xác thực hơn".
Ông Ngọc nhấn mạnh: Nói đến chủ quyền ở đây là phải nói đến chủ quyền quốc gia, tức là chủ quyền được xác lập và thực thi bằng Nhà nước, bởi Nhà nước trong điều kiện hòa bình, không có tranh chấp, chứ tuyệt nhiên không phải chủ quyền được cưỡng chiếm bằng vũ lực, chủ quyền của phe nhóm hay của cá nhân nào. Vì thế, chúng tôi tập trung vào các tư liệu của nhà nước, đó là những tài liệu được đánh giá cao nhất về tính pháp lý.
Như tài liệu Châu bản (các báo cáo của các Bộ công báo cáo lên Vua - người trực tiếp phê duyệt, điều hành  những việc như có cho thuyền bè ra ngoài Hoàng Sa để đo đạc, vẽ bản đồ; để khai thác các hóa vật, hải vật ngoài đảo... dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Vua... Tài liệu Châu bản là tài liệu độc nhất vô nhị, chỉ có ở nước ta, đó là tài liệu vô giá. Những tài liệu đó cần được trưng ra để đông đảo người dân được biết. Người dân xem hết sức xúc động. Cuộc triển lãm tại T.P Hồ Chí Minh, theo tôi được biết, một ngày có hàng vạn người đến xem. Người dân đánh giá rất cao tính pháp lý của hệ thống tài liệu Châu bản….
Di Linh/VnN

 --------------

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

Bàn về sự hung hăng của Trung Quốc

                    * LÊ MAI
Một đặc điểm nổi bật trong vụ HD-981 là sự hung hăng của TQ. Người ta kinh ngạc tự hỏi: Vì sao TQ lại tỏ ra hung hăng đến thế ? Kỳ lạ hơn nữa, TQ lại nhắm vào VN – một đồng minh chiến lược, cùng chung ý thức hệ ? Điều gì đã làm cho TQ chọn chiến thuật hung hăng đó ? Và sự hung hăng của TQ sẽ dẫn tới cái gì – phải chăng là một cuộc xung đột quân sự ? Chẳng lẽ, VN và thế giới khoanh tay chịu thua trước sự hung hăng của TQ ?
Sự hung hăng của TQ phản ánh tâm lý “nổi loạn” trong chính sách đối ngoại của TQ. Điều rất rõ ràng, hung hăng chẳng qua là vì lợi ích của TQ. TQ muốn chứng tỏ với thế giới, giờ đây, TQ là một người khổng lồ, cả về kinh tế lẫn chính trị, quân sự. TQ hung hăng vì nghĩ mình là vô địch – “thiên triều”. Hung hăng sẽ dễ dàng đè bẹp sự nhún nhường, mềm mỏng – càng dễ dàng hơn với sự nhu nhược. Còn nữa, TQ sợ thế giới chê cười họ, tỷ như trong lịch sử, TQ đã từng bị người nước ngoài nhiều lần bắt nạt đó sao ? Chỉ cần 100 lính Nhật là đủ để áp giải 50 ngàn tù binh TQ đi xử bắn ? Năm chục ngàn người, chưa nói đến chống lại, ngay chuyện bỏ chạy mà cũng không dám nữa kia. Trong trường hợp tương tự, không và sẽ không bao giờ có chuyện đó xảy ra đối với người VN.
Nhưng, hung hăng vẫn là một “thuộc tính” khó thay đổi của giới cầm quyền TQ. Vừa mới lập nước, TQ đã lao ngay vào cuộc chiến tranh Triều Tiên. TQ hung hăng đến mức, Bắc Triều Tiên chưa yêu cầu, họ đã chuẩn bị xuất quân rồi. TQ muốn thử sức với người Mỹ. Họ muốn tạo ra một vùng đệm an toàn ở phía Bắc. TQ đã đưa sang chiến trường Triều Tiên 1,34 triệu quân gồm: 27 quân đoàn bộ binh, 15 sư đoàn pháo binh, 12 sư đoàn không quân, 3 sư đoàn xe tăng, 14 sư đoàn công binh, 10 sư đoàn đường sắt, 2 sư đoàn công an.
Sự hung hăng của TQ đã phải trả giá rất đắt: Phía Trung – Triều thương vong 1,03 triệu người, riêng TQ thương vong trên 30 vạn người (có 11,5 vạn chết trận), thương vong phi chiến đấu trên 41 vạn người.
Thế nhưng, ngay sau khi cuộc chiến Triều Tiên vừa kết thúc, Quân uỷ Trung ương TQ họp ở Hàng Châu. Người ta thấy Mao vừa say sưa hút thuốc vừa chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ gật đầu, đôi khi lại cười nhạt.
Báo cáo vừa xong, Mao đột nhiên nói:
- Triều Tiên đình chiến, gánh nặng trên vai chúng ta nhẹ đi rất nhiều, nhưng e rằng chưa thể lơ là, phải chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng ngọn lửa chiến tranh lại bùng lên, phòng trước thì sau không mắc họa. Chúng ta hiện nay đã có thể rảnh tay, tôi thấy cần tập trung lực lượng giải quyết vấn đề Đài Loan. Ngay từ bây giờ phải bắt tay vào chuẩn bị, muốn được yên ổn lâu dài, không giải phóng Đài Loan không xong.
- Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của Chủ tịch. Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, như thường lệ đi đầu ủng hộ ý kiến của Mao.
ChuĐức:
- Ý kiến của Chủ tịch và Tổng tư lệnh Bành, tôi đều tán thành. Tôi cho rằng có thể chia làm hai bước, bước thứ nhất “dọn sạch cửa ngõ”, tức là giải phóng những đảo ven biển còn bị Quốc dân Đảng chiếm, quét dọn cửa ngõ ta cho sạch sẽ. Như vậy, vừa loại bỏ được mối đe doạ đối với vùng duyên hải Đông Namcủa ta, đánh thông được đường hàng hải Nam – Bắc, mà cũng chặt đứt được tay chân của Đài Loan, không còn mối lo sau lưng khi chúng ta đi bước thứ hai giải phóng Đài Loan.
- “Dọn sạch cửa ngõ”, nói rất hay – Mao thích thú. Tôi tán thành cả hai tay.
Trần Nghị:
- Tôi cho rằng “dọn sạch cửa ngõ” có thể bắt đầu từ đảo Đại Trần, nó là trung tâm chỉ huy và trọng tâm phòng ngự của quân Quốc dân Đảng đóng ở các đảo ven biển Đông Nam tỉnh Chiết Giang. Chiếm được Đại Trần tức đánh trúng chỗ hiểm của địch, tất cả những đảo khác ở ven biển Đông Namtỉnh Chiết Giang có thể không đánh mà tan. Như vậy quân ta có thể bằng một giá tương đối rẻ đổi được một thắng lợi tương đối lớn.
- Đảo Đại Trần giao cho đồng chí Trần Nghị. Mao ra lệnh. Quân khu Hoa Đông các vị trước hết vạch kế hoạch tác chiến, sau khi được Quân ủy phê chuẩn, sẽ thực hiện.
Dưới sự chỉ đạo của Mao, TQ hung hăng lao vào chuẩn bị trận đánh. Trong khi đó, Mỹ và Đài Loan gấp rút ký kết Hiệp ước phòng thủ chung. TQ được tin càng hung hăng hơn, lập tức lệnh cho quân đội mặt trận Phúc Kiến, “hãy dùng bom đạn tỏ rõ thái độ và lập trường của chúng ta”. Chỉ trong hai tháng, TQ đã pháo kích 47 lần vào các đảo Kim Môn lớn, Kim Môn nhỏ và Đại Trần.
Nhưng sự hung hăng của TQ đã vấp phải bức tường thép Hoa Kỳ, đành phải dừng lại.
Không phải TQ cứ hung hăng là thành công. Nhớ lại tháng 11.1949, TQ hung hăng mở hai cuộc tấn công lên đảo ven biển Triết Giang và đảo Kim Môn, ven biển Phúc Kiến bị thảm bại – tổn thất trên 9 ngàn người. Mao đã nhận được một bài học xương máu.
Sự hung hăng của TQ lại chuyển sang Liên Xô, sau khi Xtalin qua đời. Mao coi thường Khơrútsốp, muốn làm lãnh tụ cộng sản thế giới mà hung hăng gây sự với Liên Xô.
Ngày 31.7.1958, Khơrútsốp thăm TQ. Mao bất chấp mọi lễ nghi ngoại giao tối thiểu, bố trí hội đàm với Khơrútsốp ngay cạnh bể bơi riêng trong Trung Nam Hải. Khi được mời vào, Khơrútsốp thấy Mao mặc quần tắm, khoác khăn tắm, nhàn nhã hút thuốc lá, giống như Quốc vương Roma gặp sứ thần thuộc quốc. Rõ ràng, đây là sự cố ý chọc tức nhằm buộc Liên Xô trở mặt trước – sự hung hăng cộng với sự thâm hiểm kiểu Tàu.
Còn nhớ, năm ngoái – 1957, các nhà lãnh đạo ĐCS và công nhân 64 nước ùn ùn kéo nhau về Mátxcơva họp, Mao được Khơrútsốp đón tiếp cực kỳ trọng thị, bố trí cả phòng ngủ của Sa hoàng cho Mao. Trên diễn đàn, Mao hung hăng tuyên bố chủ nghĩa đế quốc là “con hổ giấy”, song Tổng bí thư ĐCS Ba Lan không đồng ý, cho rằng nhận định như vậy là đánh giá không đầy đủ về sức mạnh của chủ nghĩa đế quốc. Khi nghe Mao đáp, “đối với chủ nghĩa đế quốc, không phải là tôi đánh giá không đầy đủ mà cơ bản là phải đạp đổ nó dưới chân”, ông này sửng sốt, thần người ra.
Rồi Mao ca ngợi Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo, ông ta hung hăng mỉa mai Hoa Kỳ:
- Nước Mỹ khoe khoang tài giỏi, vì sao đến giờ vẫn chưa ném được một hòn đá lên trời ?
Cơn say máu chiến tranh, sự hung hăng của Mao đã lên đến tột đỉnh:
- Tôi đã bàn luận với Nêru, nếu xảy ra chiến tranh nguyên tử, toàn bộ nhân loại sẽ bị tiêu diệt. Tôi nói, nếu một nửa loài người chết thì vẫn còn một nửa loài người sống, các nước đế quốc sẽ bị san thành bình địa, toàn thế giới sẽ thành XHCN, chỉ trong ít năm lại có 1,7 tỷ người hoặc nhiều hơn nữa…
Mao hung hăng nói với Khơrútsốp:
- Các đồng chí cần 10 năm để vượt nước Mỹ, chúng tôi cần 15 năm để vượt nước Anh. Năm nay chúng tôi sẽ có 5,2 triệu tấn gang, sau 5 năm có thể đạt 10 –  15 triệu tấn, tiếp 5 năm sau có thể đạt 35 – 40 triệu tấn.
Để biến sự hung hăng đó thành hiện thực, cả nước TQ rộ lên phong trào “đại nhảy vọt”, lấy luyện gang thép làm trọng tâm. Các đại khu rầm rộ mở hội nghị quy hoạch gang thép, đề xuất chỉ tiêu gang thép năm sau: Hoa Đông 8 triệu tấn, Hoa Bắc 6 triệu tấn, Tây Nam 3,1 triệu tấn, Đông Bắc 11 triệu tấn, Tây Bắc 1,5 triệu tấn. Dự định đến năm 1962 đạt từ 80 – 90 triệu tấn. Chỉ tiêu gang thép năm 1958 vọt lên 10,7 triệu tấn.
Song, đến cuối tháng 8, sản lượng mới chỉ đạt 4,5 triệu tấn làm Mao không vui. Ông ta thường ngâm thơ cổ để biểu đạt tâm sự của mình: “Tịch dương vô hấn hảo. Chỉ thị cận hoàng hôn” (Mặt trời không rực rỡ. Báo hiệu sắp hoàng hôn) !?
Bộ chính trị quyết định, phải lập tức hành động, hoàn thành nhiệm vụ trọng đại: tăng gấp đôi sản lượng gang. Từ đó, hàng trăm triệu dân chúng TQ tham gia vào phong trào làm gang thép. Các lò cao lớn nhỏ như hoa nở rộ khắp mặt đất. Đầu tháng 7, có 30 ngàn chiếc. Đầu tháng 8 tăng lên 170 ngàn chiếc, cuối tháng 9 lên 350 ngàn chiếc và cuối tháng 10 đạt vài triệu chiếc. Qua 4 tháng phấn đấu, đến cuối năm, sản lượng gang toàn quốc đạt 11,08 triệu tấn – tất nhiên là phế phẩm quá nửa !
Sự hung hăng từ công nghiệp lan sang nông nghiệp – cũng “đại nhảy vọt”. Quyết định nâng sản lượng bình quân theo đầu người hàng năm lên: 1.100 kg vào năm 1958; 2.000 kg vào năm 1960 và 3.000 kg vào năm 1962. Thực hiện cày sâu lật đất, cấy dày mật độ cao. Báo chí hung hăng: “Người có gan bao nhiêu, đất cho sản lượng bấy nhiêu”, “chưa đủ vạn cân, coi như chưa thu hoạch”, “sản phẩm của đất là do gan người quyết định”. Trong văn nghệ xuất hiện những ca khúc hò vè kỳ quặc: hạt kê to bằng hạt đậu tương, quả đậu tương đương quả dưa chuột, hạt vừng sánh với hạt ngô, bắp ngô lại to bằng người, củ lạc giống như củ mài, củ mài to như quả bí…
Năm nay là năm được mùa
Lương thực chất cao như núi
Không biết bao nhiêu là lương thực
Đem rải vòng quanh khắp địa cầu
Lương thực đem “rải vòng quanh khắp địa cầu” hay để gần 40 triệu người chết đói ? Sự hung hăng trong chính sách của các nhà lãnh đạo TQ đã dẫn đến kết quả thê thảm đó.
Đón Khơrútsốp, Lưu Thiếu Kỳ còn nói:
- Hiện nay, điều chúng tôi lo không phải vì lương thực không đủ ăn mà lương thực quá nhiều, chưa biết làm thế nào.
Khơrútsốp mỉm cười khó hiểu:
- Dễ thôi, lương thực nhiều, các đồng chí chưa biết làm thế nào thì có thể cho chúng tôi !?
Sau màn chọc tức của Mao, quả nhiên quan hệ Trung – Xô xấu hẳn đi. Liên Xô cắt viện trợ, rút chuyên gia về nước. Hai nước Trung – Xô bùng nổ cuộc đại luận chiến. “Nhóm Tú tài” do Khang Sinh lãnh đạo, có cả Trần Bá Đạt tham gia, làm việc không ngừng, đèn sáng thâu đêm ở Điếu Ngư Đài – Nhà khách Chính phủ TQ, viết bài, triển khai cuộc đại luận chiến với LX. Có thể nói, “cửu bình” – tức 9 bài luận chiến hung hăng nhất, làm mối quan hệ giữa hai đảng, hai nước Trung – Xô giảm đến mức thấp nhất.
Từ hung hăng trong lĩnh vực hình thái ý thức chuyển sang chiến tranh, sự hung hăng của TQ còn tăng gấp bội. Các cuộc chiến tranh biên giới Trung – Ấn, Trung – Xô và nhất là Trung – Việt đã chứng minh điều đó. Hung hăng đòi “dạy cho VN một bài học”, TQ đã nhận được kết quả ngược lại.
Giờ đây, sự hung hăng trên biển của TQ ngày càng quá thể, ngày càng ngổ ngáo, ngày càng coi thường VN. Trên mặt trận truyền thông, TQ hết chỉ trích Hoa Kỳ, đến chỉ trích Tổng thư ký ASEAN, lại hung hăng quay sang chỉ trích Nhật Bản. TQ hung hăng đòi gây sự với toàn thế giới.
Sự chịu đựng của VN thật không tưởng tượng nổi. Trong lịch sử, bọn sứ giặc từng hung hăng “nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình” đó sao ? Nhưng, những cái tát của lịch sử đã giáng vào mặt những kẻ đó cũng như ông chủ của nó. Lịch sử và tương lai thuộc về chúng ta.
Dù ai có diều hâu đến đâu chăng nữa, cũng phải nhận ra rằng, tính chất hung hăng trong chiến thuật của TQ chắc chắn không giải quyết được vấn đề trên Biển Đông. Thay vì hung hăng, TQ hãy tỏ ra là một nước lớn có trách nhiệm bằng việc tuân thủ luật pháp quốc tế, hòa hiếu với láng giềng. Và chỉ có như vậy, TQ mới giành được sự tôn trọng của thế giới.

L.M
-------------------

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Trung Quốc đang bộc lộ tham vọng thống trị biển Đông

Trung Quốc ngày càng bộc lộ tham vọng thống trị biển Đông bất chấp luật lệ quốc tế, lẩn tránh trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Thậm chí vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam mà rõ ràng nhất là việc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Căng thẳng gia tăng tại biển Đông và những áp lực tới an ninh khu vực là chủ đề của cuộc tọa đàm khai mạc sáng nay, 28/5, tại Singapore. Tham dự hội thảo có các học giả đến từ các nước ASEAN và các nước đối tác như Mỹ, Ấn Độ, Australia
Đây là sự kiện do trung tâm nghiên cứu chiến lược Châu Á của Ấn Độ tổ chức trước thềm diễn đàn Shangri-La 2014. 
Tại hội thảo các học giả đã thể hiện tầm quan trọng của biển Đông đối với khu vực và quốc tế. Do đó việc duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông là mục tiêu và lợi ích không chỉ của ASEAN mà của các nước như Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia.
Các học giả cho rằng Trung Quốc ngày càng bộc lộ tham vọng thống trị biển Đông bất chấp luật lệ quốc tế, lẩn tránh trách nhiệm với cộng đồng quốc tế và thậm chí vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của các nước khác mà rõ ràng nhất việc triển khai trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Tiến sĩ Richard Bitzinger – Trưởng Nghiên cứu Quốc tế S.Rajaratnam Singapore cho rằng, Chúng tôi thấy Trung Quốc vi phạm trực tiếp tinh thần của một số sáng kiến hiện có như là tuyên bố về ứng xử hiện có của các bên về biển Đông (DOC) hay Công ước LHQ về Luật biển UNCLOSS trong đó các bên không được làm tình hình tồi tệ đi, không hành động đơn phương.
Trên thực tế chúng ta thấy những hành động mà mới nhất là việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan là một trong hành động đơn phương của Trung Quốc.
Việc hạ đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam chỉ là một phần trong mưu đồ lớn hơn và đòi chủ quyền trên toàn bộ biển Đông dựa trên yêu sách đường 9 đoạn mà Trung Quốc không thể có cơ sở pháp lí đặc biệt với luật pháp Quốc tế.
'Vấn đề là yêu sách chủ quyền với toàn bộ biển Đông dựa trên đường 9 đọan hầu như không có giá trị pháp lí nào, họ nói về chủ quyền không thể tranh cãi, họ nói về quyền trong lịch sử cổ đại với biển Đông, họ chưa bao giờ giải thích nó là cái gì. Tôi có trao đổi với một vài học giả Trung Quốc thì họ nói Trung Quốc sẽ lấy lại biển Đông, nhưng mà trước đây họ đã có nó đâu mà đòi lấy lại. Trung Quốc nói đó là chủ quyền từ thời xa xưa nhưng hầu như không có bằng chứng lịch sử nào', Tiến sĩ Leszek Buszynski – Đại học An ninh Quốc gia Australianói trong buổi tọa đàm.
Trên thực tế Trung Quốc không được thay đổi thực trạng trên thực địa vi phạm tuyên bố của các bên tại biển Đông. Các học giả cho rằng các quốc gia ASEAN cần thấy giảm căng thẳng và gìn giữ chủ quyền không chỉ dựa trên quan hệ song phương với Trung Quốc mà cần có cách tiếp cận mới.
GS. K.S Nathan – Đại học Quốc gia Malaysia cho rằng, giải pháp cho vấn đề này không chỉ là thông qua ngoại giao của ASEAN, thậm chí nếu ngoại giao ASEAN không thành công, ngoại giao của các nước lớn sẽ thành công bởi vì các nước này có cùng lợi ích an ninh ở Đông Nam Á. 
'Cộng đồng quốc tế đến nay đều ủng hộ và chấp nhận giá trị thương thuyết và vai trò của công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 trong việc giải quyết các tranh chấp trên biển Đông. Do đó, Trung Quốc và các bên liên quan, những nước mà kí kết công ước Luật biển có trách nhiệm phải tuân thủ và giải quyết tranh chấp theo hướng hòa bình', Tiến sĩ A.B Mahapatra – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược châu Á (Ấn Độ) phát biểu tại tọa đàm.
(Lược ghi theo VTV/TPO)
--------------

Vì sao Trung Quốc lo lắng khi Nhật sát cánh cùng Việt Nam, Philippines tại biển Đông?

TNO - Trung Quốc đã tỏ ra lo lắng và phản ứng kịch liệt khi Nhật Bản muốn cùng Việt Nam, Philippines chống lại các hành động hung hăng của Bắc Kinh ở biển Đông vì lo sợ bị cộng đồng quốc tế trừng phạt về kinh tế, trang tin quân sự Strategy Page (Mỹ) bình luận.
Cùng với Philippines, Việt Nam hiện đang cân nhắc khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nếu Bắc Kinh vẫn một mực không chịu rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam
Trả lời báo giới quốc tế ngày 22.5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam đang “cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”.
Hồi tháng 3, Philippines đã đem vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc tại biển Đông ra Tòa án Trọng tài Quốc tế Thường trực tại The Hague (Hà Lan).
Kết quả phân xử sẽ được công bố vào năm 2015, nhưng Bắc Kinh tuyên bố thẳng thừng rằng sẽ không tuân theo bất kỳ phán quyết nào của phiên tòa này.
Tuy nhiên, Bắc Kinh đã phản ứng rất gay gắt trước việc chính phủ Nhật Bản mới đây bày tỏ mong muốn tham gia cùng Philippines và Việt Nam để đưa tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra tòa án quốc tế.  
Vào hôm 23.5, Trung Quốc đã lên tiếng cảnh cáo Nhật Bản tránh xa tranh chấp chủ quyền của Bắc Kinh với các nước láng giềng ở biển Đông
“Các phát biểu của phía Nhật phớt lờ hiện thực và làm rối các chân lý, đồng thời có động cơ chính trị nhằm can thiệp vào tình hình biển Đông với một mục đích bí mật”, Reuters dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi.
Trước đó 1 ngày, hãng tin Kyodo (Nhật Bản) dẫn lời nguồn tin chính phủ Nhật Bản cho biết Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida sẽ có chuyến thăm Việt Namtừ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7.
Nguồn tin trên nói chuyến thăm lần này của ngoại trưởng Nhật Bản cũng sẽ nhằm "đẩy nhanh tiến trình tham vấn về việc Nhật Bản cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam nhằm đối phó với những hành động ngang ngược của Trung Quốc trên biển Đông".
Tờ Minh Báo (Hồng Kông) hồi 12.5 nhận định rằng Nhật Bản có thể đang hướng tới việc thành lập khối đồng minh với Việt Nam và Philippines nhằm phản đối những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ phi lý của Trung Quốc.
Strategy Page bình luận, đối với Bắc Kinh, Tokyolà mối đe dọa lớn hơn rất nhiều so với Manila và Hà Nội vì với tư cách một cường quốc công nghiệp và thương mại, Nhật có khả năng kêu gọi quốc tế trừng trị hành vi hiếu chiến của Trung Quốc.
Viễn cảnh bị cấm vận kinh tế là điều mà Trung Quốc ít có chuẩn bị để đối phó nhất và giới lãnh đạo ở Bắc Kinh dĩ nhiên muốn tránh điều này, trang tin Mỹ nhận định.
Tuy nhiên, Strategy Page cũng chỉ ra rằng cấm vận nền kinh tế lớn như Trung Quốc cũng sẽ gây ảnh hưởng cực kỳ xấu đến kinh tế thế giới.
“Nó sẽ giống như là một cuộc chiến tranh hạt nhân không tiếng nổ. Giống như đợt suy thoái kinh tế toàn cầu hồi năm 2008 nhưng còn tệ hơn. Giống như chấp nhận rủi ro là sẽ phải tái kiến thiết kinh tế của các cường quốc quyền lực nhất thế giới sau khi Trung Quốc tạm thời bị loại khỏi hệ thống kinh tế toàn cầu”, trang tin quân sự Mỹ nhận định.
Strategy Page còn nói thêm rằng quân đội Mỹ đang chuẩn bị một kế hoạch tuyệt mật kéo dài 4 năm để mở rộng và huấn luyện quân đội Philippines, nhằm giúp lực lượng đồng minh đối phó với những hành động ngày càng hung hăng ngay ngoài khơi Phlippines của Bắc Kinh.
“Phần lớn kế hoạch này là bí mật, có lẽ là do nó có liên quan đến các mối quan hệ đồng minh quân sự đang hiện hữu hoặc đang được gầy dựng giữa các nước trong khu vực và Mỹ”, trang tin Mỹ cho biết.
Hoàng Uy
--------------

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Mỹ yêu cầu Đài Bắc làm rõ ý nghĩa 'đường lưỡi bò'

                
              * DUY ÁI 
Các học giả Đài Loan mới đây cho biết Hoa Kỳ đã yêu cầu chính phủ ở Đài Bắc làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn mà Đài Loan vẽ ra năm 1947 và được Trung Quốc dùng để làm cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông.
Các học giả này nói rằng yêu cầu mà Washington đưa ra 2 lần trong 3 tháng vừa qua vẫn chưa được thỏa mãn vì chính phủ của Tổng thống Mã Anh Cửu e rằng việc đó sẽ làm bùng ra một cuộc khủng hoảng chính trị trong nước.
Giữa lúc cuộc đối đầu kịch liệt giữa Việt Nam và Trung Quốc vì vụ giàn khoan đang tiếp diễn ở Biển Đông, các học giả Đài Loan cho biết Hoa Kỳ hồi gần đây đã yêu cầu chính phủ của đảo quốc tự trị này làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn, thường được gọi là đường lưỡi bò, mà họ vẽ ra năm 1947 và đang được Trung Quốc sử dụng để khẳng định yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.
Theo tường thuật của thông tín viên Hải Nhan của ban Hoa Ngữ đài VOA tại Hồng Kông, việc này được giáo sư Trần Nhất Tân của Đại học Đạm Giang tiết lộ tại một cuộc hội thảo ở Hồng Kông về vấn đề Biển Đông hôm 19 tháng 5 vừa qua.
Ông Trần Nhất Tân cho rằng yêu cầu của Washington đối với Đài Bắc có mục đích làm suy yếu lập trường của Bắc Kinh đối với đường 9 đoạn mà họ dùng từ năm 1949 để cho rằng hầu như toàn bộ Biển Đông là lãnh hải của mình.
Chính phủ Tổng thống Mã Anh Cửu e rằng việc 'làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn' sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị trong nước.
Chính phủ Tổng thống Mã Anh Cửu e rằng việc 'làm rõ ý nghĩa của đường 11 đoạn' sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị trong nước.
Giáo sư Trần Nhất Tân nói rằng Đài Loan không thể thỏa mãn yêu cầu của Mỹ vì họ e rằng làm như thế sẽ gây phương hại cho mối quan hệ hài hòa giữa hai bờ eo biển Đài Loan và tạo ra rất nhiều vấn đề chính trị vì Đài Loan sẽ phải tu chính hiến pháp.
Ông Tôn Dương Minh, Phó Chủ tịch Quỹ Viễn cảnh Giao Lưu Đài Loan-Trung Quốc, cũng tán đồng nhận định đó. Ông nói rằng việc thỏa mãn đòi hỏi mà Hoa Kỳ đã 2 lần đưa ra trong 3 tháng vừa qua là rất nguy hiểm, vì Đài Loan sẽ phải tu chính hiến pháp, xác định lại đường biên giới của Trung hoa Dân quốc; và như thế có thể bị diễn giải là một hành động tuyên bố Đài Loan độc lập trên pháp lý, làm phát sinh rất nhiều vấn đề chính trị phức tạp.
Vào cuối năm năm 1947, Trung Quốc, với quốc hiệu lúc đó là Trung Hoa Dân Quốc và do chính phủ Quốc Dân Đảng lãnh đạo, đã vẽ đường 11 đoạn trên biển Đông, gọi đó là quốc giới. Tháng 2 năm 1948, bản đồ lưỡi bò xuất hiện công khai lần đầu tiên với bốn nhóm đảo mà Trung Quốc gọi là Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa. Trong 4 quần đảo này, quần đảo vốn có tên Nam Sa được đổi thành Trung Sa và quần đảo Đoàn Sa được đổi thành Nam Sa.
Việt Nam gọi Tây Sa là Hoàng Sa và Nam Sa là Trường Sa và cũng dựa trên các yếu tố lịch sử và pháp lý để tuyên bố là thuộc chủ quyền của mình.
Việt Nam gọi Tây Sa là Hoàng Sa và Nam Sa là Trường Sa và cũng dựa trên các yếu tố lịch sử và pháp lý để tuyên bố thuộc chủ quyền của mình.
Trong khi đó, các nước khác ở Đông Nam Á, trong đó có Philippines, Malaysia, Brunei và mới đây là Indonesia, cũng có yêu sách chủ quyền đối với các quần đảo mà Trung Quốc gọi là Đông Sa và Nam Sa.
Từ khi công bố đường lưỡi bò tới nay, Đài Loan và Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ ý nghĩa của ranh giới đó là gì, dù hai chính phủ ở Đài Bắc và Bắc Kinh đã có nhiều hành động trên thực tế trong ranh giới này. Theo Bách Khoa Mở Trung Quốc, có 4 cách giải thích về ý nghĩa pháp lý của đường 9 đoạn: (1) đó là đường ranh giới quốc gia hay quốc giới: có nghĩa là các đảo và vùng biển bên trong lằn ranh là lãnh thổ của Trung Quốc và khu vực bên ngoài lằn ranh là thuộc về các nước khác hoặc là hải phận quốc tế; (2) đó là vùng biển lịch sử: Trung Quốc có quyền lợi lịch sử đối với tất cả các đảo và vùng biển bên trong lằn ranh; (3) đó lằn ranh trên biển, với các đảo trong lằn ranh thuộc chủ quyền Trung Quốc và Trung Quốc có quyền chủ quyền đối với vùng biển và tài nguyên dưới đáy biển không thuộc vùng nội thủy bên trong lằn ranh; và (4) đó là đường ranh phạm vi các đảo, với các đảo bên trong lằn ranh và vùng biển lân cận là một phần lãnh thổ Trung Quốc, do Trung Quốc quản hạt và kiểm soát.
Chẳng những các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc và Đài Loan phản đối và bác bỏ đường 9 đoạn, nhiều nước khác trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ, cũng không ngớt Trung Quốc yêu cầu làm rõ ý nghĩa của đường ranh mà chính các chuyên gia công pháp quốc tế của Bắc Kinh và Đài Bắc cũng không thống nhất ý kiến với nhau.
Tại một cuộc họp hôm 17 tháng 5 ở Đài Bắc, cựu dân biểu Lâm Trọc Thủy của Đảng Dân Tiến cho biết ngay cả các học giả về công pháp quốc tế của Quốc Dân Đảng cũng cho rằng các qui định của luật pháp quốc tế và luật biển hiện nay đều vô cùng bất lợi cho yêu sách về “vùng biển lịch sử”. Một học giả khác của Trung Quốc, ông Lý Lệnh Hoa, cũng cho rằng đường chín đoạn không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý.
Bắc Kinh cho rằng hầu như toàn bộ Biển Đông là lãnh hải của mình.
Ông Lâm Trọc Thủy, lý thuyết gia nòng cốt của phong trào đòi Đài Loan tách khỏi Trung Quốc để độc lập, nói rằng đường lưỡi bò không hề có trong lịch sử Trung Quốc trước đây mà thật ra là bắt nguồn từ Quần đảo Tân Nam mà Nhật Bản tuyên bố đòi chủ quyền từ năm 1939 và đặt dưới sự quản hạt của huyện Cao Hùng ở Đài Loan, khi đó là một phần lãnh thổ của Đế quốc Nhật. Ông Lâm nói rằng sau khi Nhật Bản bị đánh bại trong thế chiến thứ hai, chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch mới thừa hưởng quần đảo mà Nhật Bản gọi là Shinnangunto và xem đó là vùng biển của Trung Quốc.
Ông Lâm Trọc Thủy cũng cho rằng Trung Quốc có thể tranh giành chủ quyền quần đảo “Tây Sa” (Hoàng Sa), nhưng không thể đòi chủ quyền đối với quần đảo “Nam Sa” (Trường Sa); và đó chính là lý do tại sao Bắc Kinh cực lực phản đối việc Philippines đưa vụ tranh chấp biển đảo này ra trước tòa án trọng tài quốc tế.
Cũng tại cuộc họp báo ở Đài Bắc, một học giả Đài Loan cho rằng chính quyền Tưởng Giới Thạch đã làm bừa khi đưa quân đến chiếm đảo Thái Bình (Việt Nam gọi là Ba Bình) ở “Nam Sa”. Tiến sĩ Hứa Văn Đường, thuộc Ban Nghiên cứu Lịch sử Cận đại của Viện Nghiên cứu Trung ương (Academia Sinica) của Đài Loan, cho biết tại Hòa hội Cựu Kim Sơn năm 1951, Nhật Bản tuyên bố từ bỏ Shinnangunto nhưng không nói là từ bỏ cho nước nào. Thế mà Đài Loan vào năm 1956 đã đưa quân đến chiếm hòn đảo “Thái Bình”, nơi mà ông nói không phải là ngư trường truyền thống của ngư dân Đài Loan.
Ông Hứa Văn Đường cũng tiết lộ là sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, quân đội của Tưởng Giới Thạch đã “tiện thể” tiếp thu Quần đảo Tân Nam từ tay Nhật Bản, nhưng lại không biết quần đảo này ở đâu, nên phải chạy tới Bộ Tư lệnh Mỹ ở Philippines để mượn bản đồ. Nhà sử học Đài Loan này nói rằng nhóm đảo mà Trung Quốc gọi là Nam Sa thật ra là nằm trong khu vực của nhóm đảo mà hiện nay có tên là Trung Sa.
Nhận định của Lý Hiển Long, nhờ làm thủ tướng và đang cầm quyền Singapore. Nhận định của ông theo dõi sát tình hình biển Đông; nhưng thực thể chằng có ai biết được mô thức của Trung quốc cũng như mô thức của Hoa kỳ dẩn tới tương lai.
Dù hai bên có mô thức nào nữa, mục tiêu cố định bao giở cũng lả "survival".
Cũng như Anh quốc, vấn để trao đổi xuyên quốc gia là cốt lõi sống còn của Anh quốc; nếu như mất nó Anh quốc không tồn tại. Singapore dựng ra trong  đất Mã Lai mà ông Lý Quang Diệu coi như người có công qua bàn tay phù thủy của Anh quốc.
Mục đích Singapore lập ra, chủ đích mà  Anh quốc  dự tính là thay thế Hong Kong sau này cần trả lại cho Trung quốc.
Mời quí vị đọc tin dưới đây để có một khái niệm con người của Lỳ Hiển Long, thừa kế Lý Quang Diệu, người đã hộ trợ xâu dựng tỉnh Bính Dương, nơi dung thân của di dân Hạ Cá, một sắc tộc của TQ. Di dân Hạ Cá tại Bình Dương vốn có quan hệ đồng hương cố hữu với Lý Quang Diệu qua người cha từng di sang ờ VN trước khi rới làm công nhân cho đồn điến trồng mía của thực dân Anh tại Mã Lai, tức Singapore ngày nay.  KL
Thủ tướng Singapore: “Châu Á yên hay sóng gió là do Trung, Mỹ, Nhật"
Hôm 22/5, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã vẽ ra 2 kịch bản mà châu Á có thể đối mặt trong 2 thập kỉ tới. Một là hòa bình; hai là chia rẽ. Theo ông, kịch bản nào sẽ xảy ra phụ thuộc vào Mỹ, Nhật và Trung Quốc.
Theo hãng tin AFP, phát biểu tại Hội nghị quốc tế “Tương lai châu Á” lần thứ 20 do báo Nikkei tổ chức tại Tokyo, ông Lý nhấn mạnh rằng cách thức tương tác của 3 nước chủ chốt là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản sẽ định hình tương lai của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Ông Lý cho rằng, cho tới năm 2034, Mỹ sẽ tiếp tục là siêu cường số một của thế giới, còn Nhật Bản vẫn sẽ là “một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, với sức mạnh to lớn về khoa học và công nghệ" . Nhưng "sự thay đổi lớn nhất đối với châu Á trong 20 năm tới sẽ là sự tăng trưởng và ảnh hưởng của Trung 
Kịch bản 1: Một châu Á hòa bình, cùng chia sẻ lợi ích
Theo ông Lý, bối cảnh chiến lược mới ở châu Á sẽ phụ thuộc vào sự tương tác của Mỹ, Nhật và Trung Quốc. Nếu mối quan hệ Mỹ - Trung được tăng cường và nền kinh kinh tế Nhật Bản phục hồi, châu Á sẽ hòa bình và ổn định
Ông nói: "Một kịch bản có thể xảy ra là châu Á vẫn hòa bình, hợp tác cùng có lợi, cạnh tranh một cách hòa bình. Một môi trường chiến lược ổn định sẽ giúp nuôi dưỡng các mối quan hệ kinh tế trong khu vực. Sự hỗ trợ lẫn nhau lớn hơn về kinh tế sẽ nâng cao mức sống cho tất cả mọi người, và đóng góp vào nền hòa bình của khu vực”.
Trong kịch bản này, các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ có thể " tăng cường hợp tác và hội nhập".
Kịch bản 2: Một châu Á chia rẽ và bè phái
Tuy nhiên, nếu sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc dẫn đến mất cân bằng trong khu vực và trong trục Mỹ - Trung, Châu Á sẽ phải chịu một viễn cảnh khác, một viễn cảnh không tốt đẹp, với những căng thẳng và tranh chấp. Ông Lý đã dẫn ví dụ về những sự cố gần đây ở Biển Đông, biển Hoa Đông.
Trong kịch bản này, các quốc gia ASEAN sẽ buộc phải lựa chọn giữa các bên, và Đông Nam Á trở thành "chiến trường” của các siêu cường.
Ông nói: “Môi trường chiến lược như vậy chắc chắn sẽ cản trở hội nhập kinh tế. Sẽ có nhiều hơn các tranh chấp thương mại, các cuộc chiến tiền tệ. Kết quả là thành công của một nước sẽ ít được chia sẻ cho các nước khác, nhiều va chạm và tranh chấp hơn”.
"Tất cả đều bị mất mát nếu kịch bản này xảy ra”.
Ông Lý cho rằng, quan hệ Mỹ- Trung, mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới", cũng là mối quan hệ dễ dàng bị vượt ra ngoài tầm kiểm soát nếu một điểm nóng leo thang thành bạo lực.
Ngoài ra, theo ông, tình hình bất ổn trên bán đảo Triều Tiên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tương lai của châu Á. Ông cho rằng dù không có chiến tranh, nhưng những thất bại trong việc phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ.
Ông Lý kết luận, 20 năm tới sẽ là một "cơ hội lịch sử " của châu Á .
 D,A
          * PHẠM KHÁNH (lược dịch)
------------------