Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Tính gây nghiện của văn chương Nguyễn Nhật Ánh

Nhân đọc:Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh


Tôi không biết cuốn: “ Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”  là cuốn sách thứ bao nhiêu của Nguyễn Nhật Ánh. Cuốn thứ 100 hay 101? Có thể nhiều hơn có thể ít hơn, nhưng cũng như các cuốn sách đầu tiên Chú bé rắc rồi, Bàn có năm chỗ ngồi …cho đến cuốn này, Nguyễn Nhật Ánh luôn luôn cho tôi những bất ngờ thú vị. Câu chuyện hai anh em Thiều và Tường, người anh ích kỉ hẹp hòi người em giàu lòng vị tha với những ghen tuông và đố kị, yêu thương và đùm bọc thủa “ yêu và ăn”, tưởng chỉ có thể viết được một truyện ngắn nho nhỏ chừng một hai nghìn chữ cũng đã giỏi lắm rồi, chẳng ngờ “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” là cuốn sách dày dặn gần 400 trang đã buộc tôi sấp mặt vào đó từ trang đầu đến trang cuối.


            Trong văn học và điện ảnh, nếu một tác phẩm chỉ tóm gọn trong một câu hấp dẫn và tìm đến bất kì một một trường đoạn nào ta cũng bắt gặp ít nhất một chi tiết thú vị thì đảm bảo đó là một tác phẩm hay. Kinh nghiệm nửa thế kỉ đọc sách và xem phim của tôi, điều này chính xác đến 90%. “ Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” là câu chuyện của người anh kể về người em, đó là cậu bé Tường, hay nói khác đi, số phận của người em dưới cái nhìn của người anh. Cậu bé Tường tuồng như sinh ra để hy sinh và nhường nhịn cho người khác, và cuộc đời đã ban tặng cho cậu hạnh phúc ngọt ngào mà cậu mong mỏi. Trong khi anh trai của cậu, một cậu bé ích kỉ hẹp hòi tưởng có được tất cả thì hoá ra chẳng có gì. Bài học đó thú vị ở chỗ, nó do chính người anh ích kỉ hẹp hòi rút ra chứ không phải ai khác.


            Với một giọng kể chân chất hồn hậu, khi dí dỏm khi ngọt ngào, cả tếu táo và nghịch ngợm nữa, mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh giống như một ống kính vạn hoa. Với các em, chỉ cần xoay khẽ một chút các em sẽ thấy biết bao quen thân và lạ lẫm để rồi ngồi cười khúc khích với nhau, hoặc lặng đi, nhìn nhau rưng rưng tiếc thương một cái gì đã mất. Còn với tôi, mỗi lần xoay khẽ kính vạn hoa kia, cả tuổi thơ lộng lẫy và đau đớn tưởng đã chìm sâu khuất lấp vào lãng quên bỗng rực lên trước mắt tôi làm cho tôi lắm khi khó cầm được nước mắt. “ Được tắm mình trong dòng sông trong trẻo của tuổi thơ sẽ giúp bạn gột rửa những bụi bặm của thế giới người lớn một cách diệu kỳ”, Nguyễn Nhật Ánh đã nói vậy và anh đã đúng.


            Có thể nói mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh như mỗi chuyến tàu về tuổi thơ, ở đó có nhiều toa, mỗi toa là mỗi bất ngờ mỗi thú vị mỗi háo hức mỗi say mê, khi làm ta bật cười khi làm ta rưng rưng, hoặc ngồi lặng đi suy ngẫm. “ Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” cũng vậy. Ở toa này ta gặp những câu chuyện hài hước vui nhộn, chuyện ông Cả Hớn trúng vé xổ số, chuyện cu Tường làm chim Xanh hay chuyện lá thư tình đầu đời của cu Thiều chẳng hạn. Ở toa khác ta lại gặp những câu chuyện ngậm ngùi, thương xót. Chuyện cha của bé Mận bị bạo bệnh đã trốn nhà ra đi vì không muốn vợ con khốn khổ vì mình, chuyện ông Tám Tàng giả điên làm vua vì đứa con gái tâm thần luôn nghĩ mình là công chúa, ai đã đọc rồi dù muốn quên đi cũng rất khó.


 Khi ta nhớ về kí ức không chỉ để mà nhớ, chính là ta đang tự kiểm điểm đời mình, rút ra bài học nhân sinh để sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn. Có một lần nào đó Nguyễn Nhật Ánh đã nói: anh viết sách cho các em nhưng hướng tới người lớn, đến bây giờ tôi mới thật sự hiểu câu nói đó. Hoá ra anh viết cho chính anh, cho chính thế hệ của anh, điều đó giải thích vì sao không chỉ các em mà ngay cả người lớn cũng vậy, ai đã đọc sách của anh rồi thì như một kẻ nghiện, khó lòng rời bỏ các trang sách của anh được.


             Tính gây nghiện của văn chương Nguyễn Nhật Ánh trước hết là triết lý sống vì nhau xuyên suốt trục sáng tác của anh, với các em nó là bài học luân lý, là sự khám phá về cái gọi là tình người; với người lớn nó là chìa khoá mở ra biết bao nỗi ăn năn. Ai cũng vậy thôi, ít nhất một lần trong đời gây khổ đau cho người khác vì sự vô tâm, tắc trách của mình. Chìa khoá sống vì nhau đã giúp cho tâm hồn con người tìm về những nỗi ăn năn để thao thức cùng với nó. Những trang sách của Nguyễn Nhật Ánh nói với chúng ta rằng, tôi đã ăn năn như thế đấy, còn bạn thì sao? Cậu bé Thiều trong cuốn sách có thể không phải là Nguyễn Nhật Ánh thủa bé thơ nhưng chắc chắn đó là một nỗi ăn năn của chính anh, chính thế hệ của anh. Cái chết con Cu Cậu đã làm cho cậu bé Thiều hoảng loạn không phải chỉ vì cái chết  một con cóc, nó là sự tước đoạt niềm vui của kẻ khác. Khi bạn tước đi niềm vui của người khác thì một phần trong trẻo trong tâm hồn bạn cũng sẽ chết theo, vì thế nó sẽ ám ảnh bạn đến trọn đời. Nào ai có dám chắc trong đời không một lần vô tình hay hữu ý đã tước đi niềm vui của người khác?


            Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan, Nguyễn Nhật Ánh đã nói: “Mỗi dân tộc  đều có treo một quả chuông trước cửa sổ tâm hồn của mình. Nhà văn có sứ mạng phải rung những quả chuông đó lên, bằng văn chương.” Và thế là, với ““ Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, quả chuông của Nguyễn Nhật Ánh lại rung lên. Khi đã theo con tàu của Nguyễn Nhật Ánh để đi về tuổi thơ một lần, tôi tin mỗi lần Nguyễn Nhật Ánh rung chuông, người ta khó lòng bỏ qua một tấm vé để lại được cùng anh háo hức lên tàu.


 


 

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

HỒN VIỆT KẾT “VĂN NÔ NQL“ (BLOG QUECHOA) TỘI BÊU RIẾU TỔ TIÊN CÓ VÚ TO

KHÔNG ĐƯỢC BÊU RIẾU DANH NHÂN LỊCH SỬ ( Trích )


Phan Hàn Giang ( Tiến sĩ Sử học )


Ngày nay, bất cứ người Việt nào, kể cả học sinh tiểu học, đều biêt sự tích Bà Triệu. Công củ bà với dân tộc này được xếp sao Hai Bà Trưng. Trong cả nước, tỉnh nào cũng có trường, có đường mang tên bà. Năm 2008, Chính phủ phát hành tem bưu chính nhằm kỷ niệm lần thứ 1760 cuộc khởi nghĩa Núi Tùng ( Thanh Hóa ). Thế mà vừa qua, trên mạng nhật ký điện tử ( blog ) quechoa, một người tự xưng là “ văn nô NQL “ đã bêu riếu danh nhân lịch sử bằng lời lẽ thô tục hạ cấp. Bạn đọc nghĩa gì khi đọc những “sang tác “ dưới đây của “ văn nô NQL “?!


SỰ TÍCH BÀ TRIỆU TRONG BLOG QUECHOA...


Chuyện người trinh nữ anh hùng là vậy. Thế mà, trên blog quechoa ngày 12/10/2010 vừa qua, một người tự xưng là “ văn nô NQL“ đã bêu riếu danh nhân lịch sử bằng những lời lẽ thô tục hạ cấp:” “Mới 13 tuổi vú Ẩu đã dài đến rốn. Ẩu sợ, không biết vì sao vú mình lại thế, ngồi ôm vú khóc. 18 tuổi vú Ẩu dài đến đầu gối lại càng sợ hãi khôn xiết. Quốc Đạt nói vú to là phúc lớn của đàn bà sao lại khóc? Ẩu nói em sợ chị dâu không có vú lại ghen với em.Vợ Quốc Đạt, tên gì không biết, người khô quắt, trên dưới phẳng lì, tính tính nhỏ nhen, thường hành Ẩu đủ việc trên đời. Ẩu tức lắm nhưng không làm gì được. Một hôm Ẩu cùng vợ Quốc Đạt đi tắm sông, Vợ Quốc Đạt nói mày vú to hơn tao nhưng tao lông dài hơn mày, huề, ke ke ke.Ẩu nói vú to để chồng bóp sướng, sữa nhiều cho con bú no, chứ lông nhiều thì để làm gì. Vợ Quốc Đạt tức, nói để cột cổ ba họ nhà mày. Ẩu tức, cầm vú quất một phát vào mặt vợ Quốc Đạt, chẳng ngờ vợ Quốc Đạt hốc máu mồm, chết tốt.Ẩu sợ quá trốn biệt vào rừng, chiêu mộ hơn nghìn tráng sĩ làm thủ hạ, lấy tên là Nhuỵ Kiều tướng quân.


Cuộc khới nghĩa Núi Tùng bị “ văn nô NQL “ xuyên tạc như sau:


“Thứ sử Lục Dận hớt hãi chạy về dập đầu trước vua Ngô, kêu to khởi tấu khởi tấu bọn Triệu Ẩu làm loạn ở quận Cửu Chân. Vua Ngô là Ngô Vĩnh An đang xem bọn cung nữ làm trò thoát y vũ, ngoảnh mặt nói Triệu Ẩu là thằng mô gan to rứa hè.


Lục Dận nói muôn tâu đấy là một con đàn bà. Vua Ngô nói è he, mấy con đó tụi bay không trị được, răng kêu tao? Lục Dận nói muôn tâu con này vú dài ba thước, không lấy chồng, vắt vú lên vai cưỡi voi xông trận, kinh lắm kinh lắm.


Vua Ngô nghe nói vú dài ba thước thì há mồm trợn mắt nói ua chầu chầu hay hè hay hè, rồi lập tức xua quân sang biên giới.


Vua Ngô nói bớ ba quân, Triêụ Ẩu vú dài ba thước rất ghê tởm, đã thế còn dám làm loạn, quân sĩ dốc lòng quyết đánh, đứa mô can trường trẫm cho bóp vú nó. Quân sĩ sung sướng reo hò như sấm hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế!


Giặc Ngô bao vây bốn phương tám hướng, Triệu Ẩu vẫn không hề nao núng, chống trả kiên cường. Vua Ngô nói bớ Triệu Ẩu vú mi mô, chìa ra cho tao coi, tao tha! Triệu Ẩu lôi hai vú ra, nói bớ giặc già Ngô Vĩnh An, vú ta đây! Rồi bà bóp vú, sữa bắn ra như thác,


( dòng sữa trắng thơm khi bắn vào lũ giặc bỗng biến thành bùn đỏ như máu trùm lên cả vạn quân Ngô. Quân Ngô bị bùn đỏ bắn cho tung tóe, kẻ mù mắt đứa hộc máu mồm mà chết. Vua Ngô há mồm trợn mắt, nói chi rứa bay chi rứa bay. Quan quân hét Bô xít Bô xít muôn tâu muôn tâu. Vua Ngô nói rứa a rứa a, sợ hãi vung gươm hét lớn bớ ba quân không được lui, tụi bay lùi tụi nó được lướt đòi chủ quyền chủ queo, tau lấy ai mà cai trị. Nói rồi xua quân tiến lên- Đoạn này HV cắt vì văn nô NQL mô tả trong sữa Bà Triệu có bauxite, một chất cấm kỵ...-P.V.Đ chú thích.)


Quân Ngô ba bề bốn bên bao vây Bà Triệu. Bà cầm hai vú quất lia lịa, đứa dập mũi, đứa gãy răng, ôm đầu máu bỏ chạy, than khóc như ri. Về sau sữa hết vú xẹp, quân ít thế cô, bà Triệu tính kế lui binh cố thủ.”


Bài viết của “ văn nô NQL “ được các trang Web “ đồng hội đồng thuyền “ tiếp tay phổ biến.


Cho dù “ văn nô NQL “ viết những dòng trên đây nhằm ý đồ gì, mục đích gì, người đọc vẫn không thể chấp nhận việc bôi nhọ hình ảnh một vị anh thư hy sinh vì dân tộc ở tuổi hai mươi, mãi mãi được toàn dân yêu mến, kính trọng.


Nhớ ơn các anh hung liệt sĩ là đạo lý của dân tộc ta. Nhà văn cũng là một công dân, nên phải tôn trọng đạo lý đó. Bêu riếu tổ tiên của dòng họ mình là một tội không thể tha thứ. Bêu riếu tổ tiên của cả dân tộc, tội ấy càng nghiêm trọng gấp trăm ngàn lần.


Trước đây, một “ văn nô” đã từng xúc phạm hoàng đế Quang Trung. Phản ứng xã hội lúc đó quá yếu ớt nên đến nay đến lượt “ văn nô “ khác bôi nhọ Bà Triệu.Trong tương lai, những danh nhân nào khác sẽ là nạn nhân củ họ ? Phải chăng, những vị anh hung trong lịch sử dân tộc bị đem ra bêu riếu vì họ đã có “ tội “ dám chống lại quân ngoại xâm để giải phóng đất nước hay bảo vệ độc lập cho Tổ quốc ?


Mong các nhà hoạt động văn hóa và các tổ chức văn học nghệ thuật hãy lên tiếng để chấm dứt nạn xuyên tạc lịch sử và bêu riếu tiền nhân.


( Nguồn: Hồn Việt số 12/2010 )


( Vì không cóp đươc bài này trên Hồn Việt, bọ cóp lại bài này trên blog Phạm Viết Đào. Mời bà con đọc truyện: Sự tích cao nguyên Lâm Viên và Đak Nông)

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Buôn từ thiện

Ngu Ngơ vừa bước vào nhà đã thấy Mũm Mĩm ngồi ôm bụng cười rũ. Ngơ hỏi chuyện gì thế, trúng xổ số à? Mũm Mĩm cười he he he, nói lại chuyện mít ớt anh ơi, hay lắm hay lắm! Ngu Ngơ ngạc nhiên nói "mít ớt" là cái gì, bà nội vừa gửi mít ra à? Mũm Mĩm lại cười he he he, nói không phải, mít ớt là Miss Earth, tại ông tổ chức phát âm như thế ấy chứ. Ngu Ngơ cười cái hậc, nói ui giời, thế mà ôm bụng cười rũ từ sáng đến giờ, rõ là vô duyên! Mũm Mĩm lườm Ngu Ngơ, nói ai người ta cười chuyện đó, cười là cười mấy ông đi "buôn" từ thiện.


Ngu Ngơ đầu lắc tay xua, nói lại chuyện đấu giá từ thiện vì miền Trung chứ gì, thôi thôi không nói nữa, xấu hổ lắm. Mấy ông mua giả đấu xạo nói một lần cho biết chứ ở đời đám háo danh nhiều lắm! Mũm Mĩm vênh mặt lên, nói anh có cái tính ghét gớm, người ta chưa nói hết câu đã lắc đầu xua tay! Em đâu có nói chuyện mấy ông háo danh. Ngu Ngơ ôm Mũm Mĩm cười nịnh, nói ok ok, thế chuyện gì nói anh nghe nào.


Mũm Mĩm đẩy Ngu Ngơ ra, nói anh không nghe thì thôi, không nói nữa! Vả lại chuyện này nói ra cũng xấu hổ lắm! Ngu Ngơ nói chuyện gì nói đi, anh đang sẵn sàng nghe đây, hay là để anh đi rửa tai để nghe cho thông suốt. Mũm Mĩm cười phì, nói anh giỏi nịnh lắm, định không nói nữa nhưng lại phải nói, đấy là chuyện mấy ông buôn gian bán lận nhân danh từ thiện. Chuyện này còn xấu hổ hơn cả chuyện mua giả đấu xạo.


Lúc đầu mới nghe người ta đem bộ tứ linh giá 2 triệu đô ra đấu giá, ai nấy tưởng thật, té ra bây giờ mới biết bộ tứ linh chỉ có 1 triệu đô thôi. Ban tổ chức hô lên 2 triệu đô để ăn lời? Giả sử đấu giá thành công thì Ban tổ chức kiếm được 1 triệu đô ngon ơ?! Ngu Ngơ gật gù, nói chuyện này anh cũng biết, một ông trong Ban tổ chức nói họ hô lên 2 triệu đô thì 1 triệu đô lời kia họ sẽ dành cho đồng bào bão lụt. Mũm Mĩm nhăn mặt đập lưng Ngu Ngơ, nói người ta nói vậy mà anh cũng tin, người ta nói vậy chứ người có thấy người ta cộng vào khoản chênh lệch 1 triệu đô này vào tiền ủng hộ miền Trung đâu!


Ngu Ngơ ôm vai Mũm Mĩm, nói thôi em, bớt nóng bớt nóng! Dù sao cuộc đấu giá cũng đã đổ bể rồi, có nói thêm thì cũng thế. Mũm Mĩm vụt đứng dậy, khoa chân múa tay, nói đổ bể cũng phải nói, nói để lần sau bỏ cái thói mượn tiếng từ thiện để buôn bán đi. Xưa nay các vụ đấu giá từ thiện thì các vật phẩm từ thiện đều được người ta tặng ban tổ chức để đấu giá. Thế mới phải, chứ nếu đem vật phẩm ra đấu giá để thu tiền giá gốc cho ông chủ vật phẩm hoá ra ông này đem đồ đi bán à? Đi bán đồ trong buổi đấu giá từ thiện vừa được tiếng vừa được miếng. Được cái tiếng làm từ thiện trong khi đồ anh đem bán không phải nộp thuế. Thế có phải khôn lõi không?


Mũm Mĩm đang cao đàm khoát luận thì thằng cu lớn đi học về, nói bố mẹ có biết bộ tứ linh giá thực của nó bao nhiêu không? Nó chỉ có 20 triệu đồng thôi. Ngu Ngơ, Mũm Mĩm giật mình nhìn nhau, nói có thật không con, hay mày nghe người ta đồn thổi? Cu Lớn xoè ra tờ báo, nói báo đăng đây này bố mẹ ơi! Giá bộ tứ linh chỉ có 20 triệu đồng, ông chủ hô lên 1 triệu đô, Ban tổ chức hô lên 2 triệu đô, 2 triệu đô là 40 tỷ đồng chứ không là chuyện nhỏ.


Ngu Ngơ, Mũm Mĩm trợn mắt há mồm, nói ối cha mẹ ơi, buôn gian bán lậu một vốn bốn lời, "buôn" từ thiện một vốn hai chục nghìn lời, kinh quá kinh quá, hu hu!

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

Kinh doanh Từ thiện?

Hằng năm có rất nhiều đợt quyên góp ủng hộ cho vì người nghèo, người tàn tật, nhiễm chất độc Da Cam, vì đồng bào bị thiên tai, lũ lụt… Những cuộc quyên góp như thế đã giúp những con người khổ đau, đói nghèo  vượt qua số phận khắc nghiệt hướng tới một cuộc sống an lành. Đó là một sự thật, đó cũng là điều đáng cho ta khâm phục và ca ngợi. Nhiều chương trình từ thiện được tổ chức bài bản, hiệu quả, minh bạch, gây được niềm tin trong công chúng. Chương trình từ thiện như “Nối vòng tay lớn” được UBMTTQ Việt Nam phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam tổ chức thường niên là một ví dụ.


            Tuy nhiên có một sự thật khác làm ta không yên tâm khi tham gia đóng góp cho các hoạt động từ thiện. Băn khoăn lớn nhất khiến nhiều người có tâm và có tiền là liệu tiền bạc và của cải mà họ đóng góp  có đến tận tay những con người đói nghèo, khổ đau thật hay không. Câu chuyện dân một xã nhận tiền quà xong lại phải nộp lại cho xã để xã phân phối lại mà báo chí đã nêu chắc chắn không phải là một ngoại lệ.


            Băn khoăn khác thuộc về các nhà tổ chức các hoạt động từ thiện, ấy là số phần trăm chiết khấu số tiền quyên góp được chi cho Ban tổ chức. Đành rằng hoạt động quyên góp từ thiện cũng rất tốn kém nhưng không ai biết nó tốn kém bao nhiêu và số 10%-20% được trích lại là bao nhiêu. Nếu một cuộc quyên góp lên tới hàng trăm tỉ đồng thì số 10%-20% ấy là không nhỏ.


            Người ta chưa có một bằng chứng nào về sự ăn lãi lấy lời của các tổ chức quyên góp từ thiện. Sự nghi hoặc đôi khi làm mếch lòng những người đã dồn hết công sức làm từ thiện. Nếu đêm đấu giá từ thiện ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt đêm 11/11 vừa rồi không vỡ lỡ thì không ai biết đây là hoạt động có tính kinh doanh chứ không đơn thuần là một hoạt động từ thiện. Trong cuộc đấu giá này “Theo bản thỏa thuận, nếu bán đấu giá được, Hội chuyển cho chủ sở hữu số tiền bằng với giá gốc của vật phẩm, số chênh lệch mới được hỗ trợ cho đồng bào miền Trung bị mưa lũ”. Tiêu chí sáng sủa trên không ai ngờ lại ẩn giấu một phép “biến thủ”, đó là sự định giá gốc các vật phẩm đấu giá.


 Đơn cử bộ tứ linh chẳng hạn, giá trị gốc của nó là 1 triệu đô đã được Ban tổ chức công bố là 2 triệu đô. Giả sử cuộc đấu giá thành công và thu về 47,9 tỉ đồng cho bộ tứ linh thì Ban tổ chức sẽ có 1 triệu đô, tức 20 tỉ đồng. Sau khi chuyện này được “ phanh phui”, một người trong Ban tổ chức nói rằng sẽ trích 50% phần chênh lệch “giá gốc” bộ Tứ linh cho ủng hộ miền trung và công tác tổ chức. Câu hỏi đặt ra: thế thì 50% ( tức 10 tỉ) còn lại sẽ vào túi ai? Nhà báo Trần Minh Quân đã chỉ ra: ngay cả khi Ban tổ chức được hưởng một nửa của 10 tỉ kia thì Ban tổ chức đã ăn lời 2 tỉ. Đơn giản là tổng chi phí cho đêm đấu giá được công bố là 4,1 tỉ, trong khi đã thu được 1,1 tỉ nhờ bán vé và quảng cáo. Nếu Ban tổ chức được chi thêm 5 tỉ, ta sẽ có phép toán: ( 5 tỉ+ 1,1 tỉ)- 4,1 tỉ= 2 tỉ. Đó chỉ là phép toán dành cho bộ tứ linh, còn giá gốc thật của chiếc trống đồng, bức tranh bằng đá quí và hòn Rubi 10 kg là bao nhiêu thì chưa ai biết. Cuộc đấu giá đổ bể, những kẻ đấu giá đã chạy làng cho thấy trình độ yếu kém của Ban tổ chức, cũng cho thấy luôn cái “ đuôi chuột”  của tổ chức này. Có thể nói đây là cuộc kinh doanh nhân danh từ thiện.


Không phải nghi ngờ các hoạt động từ thiện xưa nay nhưng từ vụ việc này đã dóng một tiếng chuông cảnh tỉnh, rằng ở đời còn lắm kẻ vô luân bại lý, nhân danh nỗi khổ đau của người khác để kinh doanh, hãy cảnh giác hỡi những tấm lòng hảo tâm.


 

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Phùng Quán khi yêu

Đã viết chuyện Phùng Quán nhiều rồi, định bụng không viết gì thêm nữa. Sau ngày anh mất, bác Ngô Minh và chị Bội Trâm ( vợ Phùng Quán) đã cho xuất bản nhiều cuốn sách về đời anh và các sáng tác chưa công bố của anh, ai đọc hết sẽ thấy cuộc đời Phùng Quán, khỏi phải nói gì thêm. Chiều nay vào trang web người quen cũ,  nữ nhà văn Phong Điệp, mình đã từng làm việc với cô ở tờ Văn nghệ trẻ, tình cờ thấy  bài : “ Đi tìm Như của Phùng Quán” của một người mình không quen, tên là Thu Dịu, đọc xong ngồi ứa nước mắt. Lại nhớ anh.


Mình chơi thân với Phùng Quán hơn mười lăm năm, anh vẫn hay đùa, nói thằng Lập chơi với tui từ thời hắn hỉ chưa sạch mũi. Thực ra khi đó mình cũng gần ba chục tuổi rồi, có điều mắc bệnh viêm mũi, cứ se lạnh là nước mũi lòng thòng như con nít. Mỗi lần ra mình ra Hà Nội, anh lại dắt mình đi các tòa soạn báo, các nhà xuất bản cho mình làm quen, sau này có chỗ gửi bài. Đến đâu anh cũng vỗ vai mình cười cười, nói đây là thằng nhà văn hỉ chưa sạch mũi, dân bọ gộc. Mau làm quen đi, sau này hắn thành nhà văn lớn còn có cớ để mà khoe.


Một hôm anh đưa mình đến nxb Văn hóa, vào phòng chị Q. Chị Q. lúc này cũng đã trên bốn mươi nhưng hãy còn dòn lắm, xinh nữa. Anh Quán vào phòng không gõ cửa, chị Q. thấy anh cũng không chào, chỉ chào mình không thôi. Anh Quán đến bàn chị kéo cái hộc bàn ra, chị trừng mắt lên đập tay anh, nói hộc bàn của người ta, tìm cái gì. Anh cười cười, nói em có cất thuốc  lào của anh đây không. Chị lại trừng mắt lên, đẩy anh ra, nói em dư hơi đi cất thuốc lào cho anh à. Cút đi, vô duyên. Nói thế nhưng chị ném cho anh một bọc thuốc lào to tướng, nói thuốc lào Vĩnh Bảo thật  đấy, em vừa đi Vĩnh Bảo về.


Xem thế là biết hai người có tình ý với nhau rồi. Mình hỏi anh Quán, nói chị Q. là anh đang yêu hay đã yêu. Anh thong thả tra thuốc lào vào nỏ, mồi lửa rít một hơi dài, ngửa  cổ nhả khói, nói đã yêu, đang yêu. Anh dừng lại nhấp một ngụm nước, nghĩ ngợi gì lung lắm, rất lâu sau anh mới nói rồi chắc cũng sẽ yêu. Mình biết cái sự ngập ngừng của anh, vì khi đó anh đang yêu cô N. ở Huế, cô N. và chị Q. đang có “ xung đột” mạnh vì bài thơ Phùng Quán tặng cô N.  Bài thơ này được in lên có lời đề tặng cô N. của Phùng Quán. Chị Q. nói đó là bài thơ anh Quán tặng chị hơn chục năm trước. Cô N. nói chị Q. nhận xằng. Chị Q. tức mới trưng bản gốc lên, thế là cãi nhau, hi hi.


Mình nhăn răng cười hỏi anh Quán, nói  răng rứa răng rứa. Anh cười khì, nói kẹt thơ chơ răng. Yêu nhiều rứa mần thơ răng kịp. Thừa nhận anh Quán có nhiều người yêu, người yêu một ngày người yêu một đời, rất nhiều. Thời trẻ anh cực đẹp trai, lớn lên một chút thì tiếng tăm nổi như cồn, anh đi tới đâu có người theo anh ở đó. Ngay cả khi anh đóng vai ông già, để râu dài, mặc áo quần bà ba, đi guốc mộc thì vẫn có người yêu anh. Anh không khoe chuyện yêu đương cũng chẳng giấu diếm, ai biết chuyện mà hỏi anh là anh thừa nhận liền, không hề chối cãi quanh co, kể  cả vợ anh.



Gia đình Phùng Quán: Phùng Quán, Con gái Phùng Quyên, con trai Phùng Quân và chị Bội Trâm


Năm 1990, sau chuyện lình xình giữa cô N. và chị Q. anh thấy nhức đầu mới rời Huế ra Quảng Trị ở nhà mình cả tháng. Anh em tối tối ngồi uống rượu với nhau, chuyện văn chương thơ phú chán rồi thì quay sang chuyện gái gú. Mình nói em hỏi thiệt anh nha, anh còn làm ăn chi được nữa không. Anh cười phì, nói thằng ni chủ quan. Mình không tin lắm, thấy anh đi đứng không được nhanh nhẹn hoạt bát, mấy chuyện sexy không còn mặn nữa, đụng sự thì đánh trống lãng thì dù anh có kể thế nào mình cũng không tin.


Một hôm mình nói chuyện  này với Ngô Minh, nói anh Quán có làm ăn chi được nữa mà yêu đương hè. Ngô Minh cười sật sật, nói lúc đầu tao cũng nghĩ như mi, té ra không phải. Đêm ngủ với anh, tao sờ anh, oa chà…. cứng ngắc. Từ đó mình mới tin, không dám coi thường anh nữa, hi hi. Anh ít khi kể chuyện yêu đương, chuyện trong buồng tối lại càng không. Nhưng một hôm đang cao đàm khoát luận đột nhiên anh hỏi mình, nói mi yêu đương lăng nhăng rứa, có mối tình mô tử tế không.


Mình kể anh nghe mối tình đầu bảy năm của mình, chuyện qua lâu rồi mà thỉnh thoảng mình vẫn bị nghẹn giọng, rưng rưng. Nghe xong anh cười cái hậc, nói chuyện thường, mối tình đầu của tao hay hơn.  Rồi anh vừa nhấp rượu vừa thong thả kể chuyện. Phùng Quán rất có tài kể chuyện, bất kì chuyện gì anh cũng đều có thắt nút mở nút, có cao trào, có vĩ thanh, đặc biệt cái kết lúc nào cũng bất ngờ. Anh nói anh yêu đương nhiều nhưng có ba người đàn bà đến chết anh cũng không bao giờ quên, đó là chị Bội Trâm, chị Q. và bà Nhủ ( không phải Như), người mà nửa thế kỉ sau cô Thu Dịu bôn ba đi tìm và tìm được.


Chị Bội Trâm thì tất nhiên rồi, đó là người đàn bà vô cùng tuyệt vời, khi khác mình sẽ kể. Chị Q. vừa là người tình vừa là bạn vừa là ân nhân của anh. Những năm bị án “treo bút”, rượu chịu cá trộm văn chui, nếu không có chị Q. thì nhà anh sẽ rơi vào túng quẫn, nếu không muốn nói là chết đói. Khi đó chị Q. làm biên tập ở  nxb Văn Hóa đã đặt hàng cho anh viết lời cho hàng chục tập truyện tranh, mười mấy cuốn văn xuôi, tất nhiên là lấy tên người khác.  Đây là việc cực kì nguy hiểm, nếu lộ ra chẳng những chị bị mất việc mà có thể chị bị rơi vào vòng lao lý. Nhưng chị Q. không sợ, suốt ba chục năm chị luôn tạo điều kiện cho anh Quán làm văn chui, bất chấp mọi sự dè bỉu đe nẹt của người đời. Chị làm việc đó vì yêu, vì thương và vì cảm phục Phùng Quán, có một lần chị đã nói với mình như vậy. Tiếc là thiên tình sử của chị với anh Quán mình chỉ biết đến đó thôi, không biết được nhiều hơn.


Anh Quán cũng không kể nhiều về chuyện tình với chị Q., khi nào hỏi đến`thì anh nói khi thì Q. hay lắm khi thì  Q. ngon lắm, tuyệt tuyệt, vậy thôi. Riêng mối tình với cô Nhủ thì anh kể với mình suốt đêm, kể khi say, kể đi rồi kể lại, đôi khi bật khóc. Những khi kể chuyện cảm động thì anh không mày tao nữa, anh xưng mình. Anh nói hồi đó mình mới 22 tuổi, là phóng viên quân đội, đi xuống Sầm Sơn đón tù Côn Đảo, hỏi chuyện và viết báo. Chẳng ngờ chuyện tù Côn Đảo hay quá, mình quyết định viết hẳn một cuốn sách, gọi là Vượt Côn Đảo. Cô Nhủ hồi đó mới 16 tuổi, là con gái nhà mình ở trọ, tối nào cũng  kéo đội Chim hòa bình, như kiểu đội thanh niên xung kích bây giờ, của thôn cô đến nhà cô nghe mình kể chuyện.


Nghe mình kể chuyện các cô thích lắm, mắt trố miệng há hết lượt. Vài cô trong đội Chim hòa bình cố ý với mình, mình biết nhưng lờ đi, kỉ luật quân đội hồi này nghiêm lắm, tơ lơ mơ là bị cạo trọc đầu. Nhưng rồi mình cũng không trốn được ái tình. Mình đã yêu Nhủ, yêu nồng nàn, trong khi cô chuẩn bị lấy chồng. Đến`chết cũng không quên nụ hôn đầu của mình. Tối đó cả nhà đi vắng. Mình đang hí húi viết thì Nhủ đến bịt mắt, mình quờ tay ra sau vô tình chạm ngực Nhủ.  Rứa là tối tăm mặt mũi, rứa là hôn vày hôn vò em. Hôn xong rồi ngồi ngẩn ngở, không biết mình vừa hôn vô chỗ mô. Chỉ một lần hôn đó thôi mà nhớ nhau suốt đời.


Anh dừng lại mắt rưng rưng, nói mình nhớ như in buổi chiều mình trốn Nhủ ra đi. Trốn là vì không thể cưới Nhủ được, yêu một cô gái sắp cưới chồng là trọng tội, chẳng những đơn vị trừng trị mà làng xóm cũng không tha. Mình khoác ba lô tìm đường về Hà Nội. Ra đến giữa cánh đồng bỗng nghe Nhủ gọi thất thanh, nói anh Quán ơi đừng đi đừng đi. Nhủ chạy đến, ôm chầm lấy mình, nói để em trả lễ cho nhà trai rồi em theo anh, anh đi đâu em cũng đi.  Và Nhủ gục mặt vào ngực mình nấc lên, nói anh ơi đừng bỏ em…tội nghiệp. Kể đến đây thì Phùng Quán nghẹn lại, trong giây lát mặt anh đầm đìa nước mắt.



 Bà Nhủ  nay đã 70 tuổi, đang ngồi xem ảnh Phùng Quán

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Hư danh và thực họa

Thích hư danh, lấy hư danh để lừa phỉnh người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng có. Nhưng chưa thời nào hư danh tràn ngập khắp nơi như thời này; từ những danh hiệu, những giải thưởng, những danh xưng đến nạn bằng cấp giả, học hàm giả, học vị dởm…


Một ông phó bí thư thường trực tỉnh ủy có bằng tiến sĩ chỉ sau sáu tháng “đào tạo”. Một giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch có bằng tiến sĩ của Mỹ trong khi một câu tiếng Anh bẻ đôi không biết. Một giám đốc Sở Y tế có bằng thạc sĩ chỉ sau 40 ngày “học”, v.v… và v.v… Không cần nói thêm nữa vì ai cũng biết quá nhiều rồi, có thể nói chúng ta đã quá quen với đại nạn này, đã cay đắng sống chung với nó, cơ hồ còn khốn khổ hơn sống chung với lũ. Cay đắng vì buồn, đau và xấu hổ. Vì sao hư danh lấn lướt chính danh? Vì sao người ta nô nức rời bỏ chính danh chạy theo hư danh ghê gớm đến như vậy? Đó là những câu hỏi đau buốt. Ở cái thời mà đạo đức giả lên ngôi thì tìm kiếm câu trả lời vừa dễ lại vừa khó. Dễ là nhìn thấy mười mươi, khó là ít ai công khai thừa nhận nó.


Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách trọng dụng hiền tài. Ngay trong Luật Công chức cũng đã ghi rất rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”. Vấn đề ở chỗ thế nào là tài năng thì luật không nói đến. Từ đó người ta tự do thoải mái định danh theo cách người tài là người có bao nhiêu giải thưởng, bao nhiêu huân huy chương, học hàm thế nào, học vị ra sao… Ở thời buổi tham nhũng là quốc nạn này thì đó là cơ hội để cho người ta mua danh bán tước, thoải mái ban thưởng cho nhau.


Chính bổ nhiệm cán bộ, công chức dựa trên bằng cấp, không cần biết bằng cấp gì đã dẫn đến có rất nhiều lãnh đạo có trình độ học vấn giả danh. Đồng thời lôi kéo cán bộ, công chức vào một cuộc biến hình trên quy mô xã hội, bất chấp các quy chuẩn tối thiểu của đạo đức và học thuật. Khi đó người trung thực, kẻ thực tài không có đất sống, họ bị đẩy ra rìa. Đây chính là điều làm nên thực họa. Ở bất kỳ nơi đâu, khi hiền tài bị ruồng bỏ, kẻ bất tài khoác áo hư danh hoành hành xã hội, thì ở đó cái họa lớn đã chất đầy. Vô cùng đáng sợ.


Hơn hai ngàn năm trước, Khổng Tử (551-479 TCN) đã khuyến cáo về tệ nạn hư danh như thế này: “Danh bất chính tất lời nói không thuận. Lời nói không thuận tất việc chẳng thành. Việc chẳng thành tất lễ nhạc không hưng. Lễ nhạc không hưng tất hình phạt chẳng đúng phép, hình phạt mà không đúng khuôn phép tất dân không biết đặt tay chân vào đâu để nhờ cậy”. Lời cảnh báo đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Khi các công trình giao thông thiếu tính nhân văn

Hằng năm chúng ta có hàng chục công trình giao thông được hoàn tất, được đưa vào sử dụng. Có những công trình lớn, rất lớn, thậm chí rất vĩ đại, như đại lộ Thăng Long chẳng hạn, làm cho bộ mặt đất nước đổi thay, chất lượng cuộc sống được gia tăng rõ rệt. Rất đáng mừng.


 Tuy nhiên có một băn khoăn lớn, cũng là nỗi lo thường trực của người dân, rằng ở đâu có công trình giao thông được đưa vào sử dụng là ở đó cuộc sống của người dân bị xáo trộn, nhiều bất cập nảy sinh do chính công trình đó gây ra.


Thử đọc lướt qua các tiêu đề báo chí cũng đã thấy rất rõ. Ví dụ Đường cao tốc TP.HCM-Trung Lương: Ngày đầu thông xe đường cao tốc TP HCM – Trung Lương: Dân bỡ ngỡ, cán bộ mệt nhoài -Sợ hãi trên đường cao tốc xịn nhất nước-Thêm nhiều sai phạm tại Dự án đường cao tốc TPHCM - Trung Lương …v.v. Ví dụ Đại lộ Thăng Long: Bì bõm 'bơi ao' lên đại lộ hiện đại nhất VN- Cảnh bi hài trên đại lộ dài nhất Việt Nam -Bát nháo giao thông trên Đại lộ Thăng Long. v.v.


 Rất dễ thấy nguyên nhân căn bản gây ra những “ hỗn loạn”, “bát nháo” nói trên. Đấy là khi xây dựng, các nhà chức trách chỉ quan tâm đến công trình mà không quan tâm đến việc công trình đó sẽ sống với dân như thế nào, tức tính nhân văn của công trình bị thiếu vắng nghiêm trọng, nếu không muốn nói là không có.


Đơn cử Đại lộ Thăng Long chẳng hạn, đấy là đại lộ lớn nhất, hiện đại nhất, đường cao tốc tốt nhất, với tổng kinh phí trên 7.500 nghìn tỉ, tuồng như gây cho dân nhiều thất vọng nhất. Khi đại lộ được đưa vào sử dụng thì hầu hết các tuyến đường  huyết mạch của các địa phương  dẫn lên Đại lộ Thăng Long đã biến thành những bài lầy…Lý do là nhà thầu đã sử dụng các tuyến đường này để vận chuyển vật liệu xây dựng cho công trình. Khi thi công xong công trình, nhà thầu dường như đã “quên” trả lại mặt đường, cũng như hoàn thiện các tuyến đường gom dân sinh.


Các nhà thiết kế Đại lộ thì quên mất Đại lộ đi qua vùng dân sinh, ở đó dân phải qua đường ra đồng, ngày thường chỉ mất vài trăm mét, bây giờ muốn ra đồng người ta phải đi  vòng chỗ thì ba bốn cây số, chỗ thì chín mười cây số, lại còn phải gồng gánh, dắt trâu bò nữa. Đó là lý do các rào chắn bị phá, dân tự mở lối ra đồng, gây nguy hiểm vô cùng trên đường cao tốc.


Đó cũng là lý do khiến dân đổ trộm đồ phế thải suốt một dọc dài hàng chục km. Những bãi phế thải xuất hiện sau một đêm trên Đại lộ, đường gom bên cầu vượt Phú Đô, tại nút giao thông Đại học Tây Nam, bên cầu chui đê hữu sông Nhuệ, ngay các hầm qua đường cũng được tận dụng làm nơi đổ phế thải… chẳng những gây ô nhiễm môi trường, làm mất vẻ đẹp cảnh quan mà con gây tai nạn giao thông rất nguy hiểm trên tuyến đường cao tốc này.


Các nhà thi công cũng quên mất mình đang thi công qua vùng dân sinh nào, dân trí đến đâu, đời sống kinh tế thế nào để tính toán việc bảo vệ các thiết bị cho Đại lộ. Đó là lý do Đại lộ chưa kịp đưa vào sử dụng đã thấy xuất hiện việc “chôm chỉa” tôn lượn sóng (hàng rào bảo vệ hai bên đường), nắp hố ga, cáp điện chiếu sáng... Có thể nói Đại lộ đã hỏng ngay khi nó chưa được sinh ra.


Rồi các biển báo từ kí hiệu đến vị trí lắp đặt được nhà thầu cho lắp đặt chỉ để nhà thầu hiểu chứ không phải cho dân hiểu. Thậm chí nhiều nơi khi công trình được đưa vào sử dụng cả tháng rồi vẫn không thấy có biển hiệu, trong khi trên một chặng đường dài ba chục km không có một trạm CSGT nào để giúp dân chúng làm quen với Đại lộ nhiều làn đường này. Đó là lý do ô tô tải, ô tô bán tải, ô tô con, xe mô tô, xe đạp, xe thồ… đủ  loại chạy ngược chiều chạy bát nháo trong những tuần đầu Đại lộ mới khai trương., gây ra cảnh bi hài cười chảy nước mắt trên Đại lộ lắm cái nhất này.


Khi được hỏi vì sao, các nhà chức trách thường đổ lỗi cho dân, rằng do dân trí thấp, ý thức người dân không cao, người dân xem thường luật lệ giao thông… vân vân và vân vân. Điều đó không sai. Nhưng chính các công trình thiếu tính nhân văn, tức thiếu tính vì dân, mới là nguyên nhân đầu tiên cần phải nói đến.  Tiếc thay không một nhà chức trách nào dám đứng ra thú nhận.