Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

"Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng"

Năm 1972, trong lúc mà Hà Nội bị ném bom rải thảm, các học giả phương tây đã bình luận rằng: "Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng".The Time of India, tờ báo uy tín bậc nhất Ấn Độ khẳng định hành động của Trung Quốc ở Biển Đông cho thấy “Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc không ngừng gia tăng”. Bài báo cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ hiếu chiến của Trung Quốc đã trở thành một đặc điểm cố hữu trong chính sách đối ngoại và bành trướng của nước này”.
Vài năm trước, nhân chuyến thăm của Giám đốc Học viện quốc phòng Việt Nam sang Trung Quốc, trang bbc.co.uk/vietnamese/ bản tiếng Việt ngày 30/6/2011  đưa tin:
“Bản tin của Nhật báo Giải phóng quân (Trung Quốc) không nhắc tới vấn đề Biển Đông, nhưng dường như Tướng Mã (Mã Hiểu Thiên) đã đề cập tình hình căng thẳng sau các diễn biến tại đây trong cuộc gặp khi nhấn mạnh rằng ông hy vọng "phía Việt Nam sẽ xử lý các vấn đề tế nhị một cách thích đáng và hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn".
Theo cách nói của viên tướng Trung Quốc, Việt Nam phải hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn. 
Có hai khả năng lựa chọn: hoặc là từ ngữ mà chúng ta nói, cấp độ người nói phải theo chuẩn mực của Trung Quốc, hoặc là chúng ta nói theo quyền lợi của dân tộc và công pháp quốc tế.

Phương án 1: Chúng ta nói “theo chuẩn mực của Trung Quốc"
Để hiểu chuẩn mực của Trung Quốc là gì chúng ta cần biết Trung Quốc gần đây nói năng ra sao. BBC đưa tin: “Nhật báo Hoàn Cầu, do Đảng Cộng sản Trung Quốc xuất bản, hôm nay (11/6/2011) có bài xã luận cáo buộc Việt Nam áp dụng "chủ nghĩa dân tộc ở hình thức thấp kém nhất để tạo ra sự thù địch mới giữa hai nước".
Cần giới thiệu rằng Hoàn Cầu nhật báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới. Tờ này do Nhân Dân nhật báo - cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quản lý, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993.
Trang mạng Hoàn Cầu, con đẻ của nhật báo Hoàn cầu đã có hàng trăm bài viết về Việt Nam, xin trích dẫn một số bài viết cách đây năm năm.
- “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)
- “Trung quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)
- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)
- “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)
- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)
- “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)
Điểm lại ngôn từ mà những người từ lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc đã nói như “dạy cho Việt Nam một bài học” đến loại trung trung như các tướng lĩnh và loại “dân thường” như các bài nêu trên chúng ta đã thấy người Trung Quốc ăn nói ra sao. 
Theo lời khuyên của tướng Mã, nhà nước nên “hướng dẫn dư luận nói theo chuẩn mực của Trung Quốc”, không nhất thiết phải e dè. Người Việt hàng nghìn năm nay chưa bao giờ sợ chiến đấu vì chủ quyền quốc gia, chưa bao giờ sợ bọn xâm lược bất kể chúng là thứ nhất, thứ nhì hay thứ ba trên thế giới.
Ngày xưa An Dương Vương gả công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, lại còn cho ở rể trong kinh thành. Trọng Thủy ăn cắp bí mật quân sự rồi về nước cùng bố đem quân sang đánh chiếm nước Nam khiến cho An Dương Vương phải chém chết công chúa Mỵ Châu rồi tự vẫn.
Chúng ta không quên những sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực và một số đơn vị quân đội mà Trung Quốc đưa sang Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng chúng ta cũng không quên năm 1972 vì câu nói “Người không động đến ta thì ta không động đến người” của lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc mà Hà Nội bị bom B52 rải thảm. Các học giả phương tây khi đó đã nêu bình luận rằng: "Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. 

Những người ngây thơ nhất cũng hiểu rằng sự hy sinh của hàng triệu con dân đất Việt, sự sa lầy của Mỹ tại Việt Nam đã dành cho Trung Quốc khoảng thời gian quý giá để xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng. 
Vũ khí, lương thực, quân trang có thể so sánh với máu và sinh mạng con người không?
Nói theo cách nói của Trung Quốc thì Trung Quốc không chỉ là vô ơn mà còn bạc tình, bạc nghĩa.

Phương án 2: Hướng dẫn dư luận “theo cách của Việt Nam"
So với hàng trăm bài báo của Trung Quốc, chúng ta có rất ít bài viết về các chủ đề nhạy cảm này, cũng chưa hề có bài nào dùng ngôn từ như họ. Đã đến lúc truyền thông nhà nước cần cho nhân dân biết sự thật. Chúng ta cố gắng để không mất đi tình hữu nghị giữa hai dân tộc nhưng tại sao trong khi  “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (Hoàn cầu 5/7/2009) thì chúng ta lại không thể nói lên ý kiến của mình?
Người lãnh đạo giỏi không phải là người chiến thắng trong các cuộc chiến tranh mà là người tránh cho đất nước khỏi các cuộc chiến tranh. Quan điểm này là sáng suốt và đúng đắn. Nhưng người lãnh đạo giỏi cũng phải biết chuẩn bị cho đất nước đương đầu với các cuộc chiến không mong muốn nếu nó xảy ra. Lịch sử đã chỉ ra rằng rất nhiều cuộc chiến tranh xảy ra do ý muốn chủ quan của một phía. Cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm chỉ có thể thắng lợi nếu toàn dân một lòng hy sinh quyền lợi cá nhân vì độc lập tự do của dân tộc. Quyền lợi quốc gia, dân tộc phải đặt trên ý thức hệ. Xin nêu một vài ví dụ về hướng dẫn dư luận:
Nhật báo Hoàn cầu kết thúc bài báo ngày 11/6/2011 bằng câu đe dọa "Nếu Việt Nam cứ tiếp tục gây rối, tưởng rằng càng gây rối thì càng hưởng lợi, chúng tôi thành thật xin nhắc các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam là hãy đọc lại lịch sử". 
Quả đúng như vậy, chúng ta cần làm theo “lời khuyên” đó. Không chỉ thế hệ hôm nay mà muôn đời con cháu mai sau cần nhớ đến những cái tên như Liễu Thăng, Thoát Hoan, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Sầm Nghi Đống, Tôn Sĩ Nghị… Cần phải nhớ rằng năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm đông Hoàng Sa, năm 1974 đánh chiếm tây Hoàng Sa, năm 1979 đánh biên giới phía bắc, năm 1988 đánh chiếm bãi Gạc Ma ở Trường Sa…
Lịch sử đã chỉ ra rằng: "Vận nước có lúc thịnh, lúc suy nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.  
Người Trung Quốc nêu danh Hàn Tín chịu chui qua háng người khác, Câu Tiễn chịu nếm phân kẻ thù để tìm cách khôi phục nền độc lập của quốc gia. Người Việt không hạ mình như vậy, người Việt không sợ bất kỳ kẻ thù nào. Nói theo cách nói của chị Út Tịch  giặc đến nhà đàn bà “còn cái lai quần cũng đánh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1945 đã viết: "Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân  Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”
Thực dân pháp muốn cướp nước ta lần thứ hai, nhưng các triều đại Trung hoa từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến nay họ muốn cướp nước ta không chỉ hai lần. Như lời dạy của bác Hồ, chúng ta đã “phải nhân nhượng” Trung Quốc trên biên giới phía bắc. Nếu chúng ta “phải nhân nhượng” lần nữa trên biển Đông thì sẽ không còn đường ra biển bởi đường lưỡi bò ôm sát toàn bộ ven biển nước ta. Lời kêu gọi của bác Hồ đến nay chỉ cần thay một vài từ lại mang tính thời sự.
Để giữ tình hòa hiếu giữa hai nước, các phương tiện thông tin của Việt Nam chưa bao giờ dùng ngôn từ như Hoàn Cầu nhật báo đã dùng. Lãnh đạo Việt Nam cũng chưa bao giờ dùng các ngôn từ tương đương với lãnh đạo Trung Quốc. 

Các phương tiện truyền thông và quan chức Trung Quốc đã và đang cố tình bóp méo sự thật, cố tình làm cho dư luận thế giới hiểu lầm rằng Việt Nam chủ động tạo ra căng thẳng, rằng Việt Nam đã đưa tàu cản trở hoạt động của Trung Quốc. Mặc dù thế giới ngày nay vẫn còn cảnh cá lớn nuốt cá bé nhưng nên nhớ có những loài cá nhỏ nuốt vào là chết.
Thế giới có thể mắc lừa về lời nói của Trung Quốc nhưng nhất định không thể mắc lừa về hành động của Trung Quốc. Chúng ta hy vọng những những người bạn ở bên kia biên giới nhận thức được một điều rằng người Việt Nam “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải giữ cho được Tự do – Độc lập”, đó là chân lý đã được chứng minh hàng ngàn năm nay.
Một số ảnh của BBC:
Trung Quốc cho đào cột mốc theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887-1895, trong hình là cột mang dòng chữ Đại Nam Quốc Giới tại Đông Hưng, Quảng Tây.
Được biết, một số cột cả ở Quảng Tây và Vân Nam đều được đào đem về.
Cột mốc thuộc tỉnh Vân Nam còn ghi hai bên là ‘Trung Hoa’ và ‘An Nam’.
Đây là cột mốc biên giới đã được người Trung Quốc đào đem về. Trên cột còn dòng chữ Đại Thanh Quốc, Khâm Châu Giới. (Hình do ban BBC Tiếng Trung cung cấp từ nguồn Tân Hoa Xã).
Xuân Dương
-----------------

Lý Quang Diệu: Việt Nam mắc kẹt trong tư duy xã hội chủ nghĩa

Nhiều người giành nhiều hy vọng cho Việt Nam khi họ quyết định áp dụng cải cách thị trường tự do trong những năm 1980, vài năm sau khi Trung Quốc có động thái tương tự.
Đổi Mới, hay “thay đổi sang điều mới” như cách gọi cải cách trong tiếng Việt, đã bắt đầu đầy hứng khởi. Trong số những bước đi đầu tiên đất nước này thực hiện tách biệt khỏi chủ nghĩa xã hội là trả lại quyền kiểm soát những mảnh ruộng mênh mông đã bị tập thể hóa cho các nông dân. Điều này dẫn tới sự gia tăng mạnh sản lượng nông nghiệp trong vòng vài năm. Nhiều người cả trong và ngoài nước đã nghĩ rằng Việt Nam đang đi đúng hướng. Quả thực khi cả thế giới thấy rõ sự mở cửa của Trung Quôc là một thành công kinh tế không thể tin được thì những ai không quan sát kỹ Việt Nam cũng bắt đầu cho rằng chương trình cải cách của họ cũng sẽ đi theo quỹ đạo tương tự.
Hiện đang có một cách nhìn thận trọng hơn. Quan điểm của riêng tôi về cải cách của Việt Nam đã thay đổi đáng kể từ chỗ khá lạc quan khi tôi có các chuyến thăm đầu tiên vào những năm 1990. Giờ tôi tin rằng thế hệ các nhà lãnh đạo cộng sản lớn tuổi của Việt Nam không có khả năng phá vỡ tư duy xã hội chủ nghĩa một cách cơ bản. Lúc đầu họ đồng ý bắt tay vào chặng đường cải cách bởi vì họ thấy rằng đất nước đang chẳng đi đến đâu. Nhưng từ đó đến giờ họ vẫn chưa thể hiện được quyết tâm thật sự trong việc đại tu hệ thống, điều mà người ta đã chứng kiến ở Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo lão thành cách mạng này [Old Guard leaders] đang khiến Việt Nam trì trệ. Chỉ khi họ qua đời thì đất nước này mới có thể tạo ra đột phá trong các nỗ lực hiện đại hóa của mình.
Kinh nghiệm trực tiếp mà tôi có được trong một các chuyến thăm gần đây minh họa cho kiểu trở ngại mà Việt Nam đang đối mặt. Tôi đang dự một cuộc họp với nhiều lãnh đạo dân sự và quân sự cấp cao và tôi kể lại với họ những vấn đề mà một công ty Singapore gặp phải khi đang triển khai một dự án khách sạn ở Hồ Tây ở Hà Nội. Khi công ty này bắt đầu việc đóng cọc móng, hàng ngàn người dân đổ đến đòi bồi thường cho ô nhiễm tiếng ồn. Để tránh phát sinh thêm chi phí, công ty quyết định thay đổi phương pháp đổ móng sang biện pháp vít bu-lông neo, cách này đỡ ồn ào hơn nhiều so với ép cọc. Lần này, chính quan chức đã phê duyệt dự án đến gặp công ty. Ông ta nói : “Tôi chưa bao giờ cho phép các anh làm như vậy.” Rõ ràng là vị quan chức này thông đồng với những người dân bực bội kia. Tôi giải thích với các lãnh đạo Việt Nam có trong buổi gặp với tôi rằng điều này là phản năng suất. Tôi thúc giục họ rằng, nếu các anh muốn mở cửa, hãy nghiêm túc về điều đó. Họ trả lời ậm ừ và điều đó cho thấy rõ ràng họ chỉ nửa vời với cải cách. Họ không hiểu rằng một nhà đầu tư hài lòng sẽ kéo theo nhiều nhà đầu tư khác. Ý tưởng của họ là khi đã phục kích được một nhà đầu tư vào một góc phòng rồi thì đó là cơ hội để vắt của anh ta càng nhiều càng tốt.
Các bậc lão thành cách mạng này đã được lên sọc [tức chức vị và quân hàm - ND] trong hệ thống thứ bậc của đảng trong suốt chiến tranh và bây giờ nắm giữ nhiều vị trí quyền lực. Rủi thay, họ tiến lên các chức vụ đó không phải bởi vì đã quản lý tốt nền kinh tế hay đã thể hiện được tài năng quản trị. Họ làm được như vậy bởi vì đã đào hầm từ miền bắc cho tới miền nam trong hơn 30 năm. Điểm chung của họ với kinh nghiệm mở cửa của Trung Quốc chính là các quan chức trở nên tham nhũng. Những cán bộ tin rằng họ sẽ được chế độ chăm sóc bỗng nhiên thấy người ngoài đảng trở nên giàu có nhanh chóng. Họ bị vỡ mộng và trở nên tham lam, ví dụ như với các quan chức hải quan cấp cao nhập khẩu xe hơi trái phép, để có thể giành phần trong sự giàu có ấy.Điều mà họ không có điểm chung với Trung Quốc là một nhân vật kiểu Đặng Tiểu Bình vừa có vị trí không thể tranh cãi trong các cán bộ, vừa có niềm tin không lung lay rằng cải cách toàn diện là lối thoát duy nhất. Lý do họ thiếu vắng một nhân vật như vậy là do Chiến tranh Việt Nam. Khi các nhà cộng sản Trung Quốc đang tích tụ hàng thập niên kinh nghiệm quản trị ở thời bình, thu lượm những gợi ý thực tiễn xem điều gì hiệu quả và điều gì không, và cập nhật niềm tin và ý thức hệ trong quá trình đó, thì các nhà cộng sản Việt Nam bị kẹt trong một cuộc chiến tranh du kích tàn bạo với người Mỹ, chẳng học được gì về cách điều hành đất nước. Hơn nữa, hầu hết doanh nhân thành công trong số người Việt ở miền Nam – những người quen thuộc với cách làm của chủ nghĩa tư bản – đã rời bỏ Việt Nam trong những năm 1970.
Người Việt Nam là một trong những dân tộc nghị lực và có khả năng nhất Đông Nam Á. Sinh viên của họ đến Singapore theo diện học bổng ASEAN rất nghiêm túc với việc học hành và thường có điểm số cao nhất. Với những người dân thông minh như vậy, thật tiếc là họ không phát huy được tiềm năng của mình. Hy vọng rằng khi thế hệ chiến tranh nhạt đi và một nhóm trẻ hơn lên thay thế, họ sẽ xem Thái Lan phát triển tốt như thế nào và trở nên tin tưởng vào tầm quan trọng của thị trường tự do.
Hỏi: Việt Namcó những vấn đề lớn với Trung Quốc về lãnh thổ ở Biển Đông. Và tại một Hội nghị Bộ trưởng ASEAN năm 2012, khi ASEAN lần đầu tiên sau 45 năm không đạt được một bản thông cáo chung, Việt Nam là một trong những nước tham gia nhiều vào tranh cãi ở đó.
Đáp: Họ không thể lấy sự đồng thuận của ASEAN để ủng hộ quan điểm của họ vì người ta tin rằng Trung Quốc đã làm việc riêng rẽ với Brunei và Malaysia về các tranh chấp, vốn là những tranh chấp nhỏ hơn. Nhưng tranh chấp chính – cũng là tranh chấp còn rắc rối – là của Việt Nam.
Hỏi: Đây có phải là bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã có thể chia rẽ ASEAN trong vấn đề này?
Đáp: Nó cho thấy người Trung Quốc khéo léo như thế nào. Họ đã ứng xử với các nước bên ngoài, hay những man tộc ngoại bang, cả hàng ngàn năm và họ biết cách xử lần lượt từng bên một và ngăn cản họ hợp lại để không phải đối mặt với một nhóm. Họ mua chuộc từng bên một.
Hỏi: Việt Namđang tìm cách mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ để có thể đương đầu tốt hơn với Trung Quốc.
Đáp: Đúng vậy. Leon Panetta, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã thăm vịnh Cam Ranh năm 2012. Điều đó hàm ý là nó có thể đón cả người Mỹ. Có thể sẽ có ích khi có người Mỹ tại đó nếu có xung đột quanh quần đảo Hoàng Sa (nguyên văn), nhưng tôi không nghĩ người Mỹ sẽ trực tiếp đối đầu với người Trung Quốc. Điều tốt nhất mà người Việt Nam có thể hy vọng là áp dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển cho tranh chấp này.
Hỏi: Cũng đã có tin về việc người Việt Namcó thể mua vũ khí của Mỹ.
Đáp: Tôi sẽ không ngạc nhiên. Người Mỹ hiện đang gần gũi với họ hơn so với người Trung Quốc. Và người Mỹ có những vũ khí tinh vi hơn vũ khí của người Trung Quốc.
Hỏi: Ông có nghĩ rằng ASEAN có lẽ nên tránh tranh chấp Biển Đông trong các cuộc họp thượng đỉnh trong tương lai?
Đáp: Họ đã bất hòa rồi.Lẽ ra đã phải có một bộ quy tắc ứng xử nhưng nó cũng đã bị dập tơi bời. (Vietthuc)
-----------------

THẾ NÀO LÀ “QUAN HỆ CHIẾN LƯỢC”?

 
          * TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
Hôm 21 tháng 5, 2014, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam, gọi điện thoại cho người đồng nhiệm Hoa Kỳ, John Kerry, thảo luận về cuộc khủng hoảng liên quan đến việc Trung Quốc đưa giàn khoan thăm dò dầu khí HD 981 vào quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp, vào luôn bên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Ðây là lần đầu tiên một ngoại trưởng của Việt Nam gọi điện thoại trực tiếp cho người đồng nhiệm Hoa Kỳ; và hệ quả là ông Kerry mời ông Minh sang thăm Washington để “tham vấn toàn diện các vấn đề song phương và khu vực trong khuôn khổ mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai quốc gia.”
Bên trong Việt Nam, người ta hy vọng chuyến viếng thăm của ông Minh có thể sẽ nâng cấp mối quan hệ song phương Việt-Mỹ từ “đối tác toàn diện” lên thành “đối tác chiến lược,” đồng thời củng cố vị trí Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp với Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là, một mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ có thể giúp Việt Nam giải quyết các quan ngại về an ninh ra sao?
Một mối quan hệ chiến lược có thể được xem là phương cách thúc đẩy tư thế của Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như chủ quyền quốc gia. Mối quan hệ chiến lược cũng có thể được xem là sự mở rộng chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ ngoại giao của ViệtNam ngõ hầu tránh né không để bị rơi vào cuộc tranh chấp giữa các cường quốc. Giới lãnh đạo Việt Nam mong muốn thiết lập được mối quan hệ chiến lược với tất cả năm thành viên thường trực Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Việt Nam đã ký thỏa thuận “quan hệ chiến lược” với Anh và Pháp, “quan hệ chiến lược toàn diện” với Trung Quốc và Nga, nhưng chỉ mới đạt được “quan hệ toàn diện” với Hoa Kỳ từ tháng 7, 2013.
Khái niệm “quan hệ chiến lược” của Việt Nam thiếu vắng những nội dung thực chất. Trên thực tế, quan hệ này bao gồm một số khái niệm hợp tác nhưng khi đi vào chi tiết thì lờ mờ. Tại buổi Hội Thảo Quốc Tế về Việt Nam Học tại Hà Nội hồi tháng 11, 2012, khái niệm quan hệ chiến lược được định nghĩa là bao gồm bốn nguyên tắc: Không gây hấn, không liên kết với một quốc gia để chống lại một quốc gia khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, và tin cậy nhau. Theo nghĩa này, quan hệ chiến lược chỉ là một chuỗi ràng buộc thụ động chứ không tích cực.
Vụ khủng hoảng giàn khoan bộc lộ nhược điểm của quan hệ chiến lược; nó không giúp thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau cũng như không giúp bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Trong vụ này, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị Trung Quốc, đối tác chiến lược toàn diện gần gũi nhất của Hà Nội, vi phạm. Ba thành viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam có quan hệ chiến lược, là Pháp, Anh và Nga, thì bày tỏ sự lãnh đạm. Cay đắng hơn nữa, một trong những hãng thông tấn lớn nhất của Nga, RIA-Novosti, còn đăng một bài báo so sánh Việt Nam với Ukraine, đồng thời chê trách các hành vi bạo động đối với công nhân Trung Quốc làm việc tại ViệtNam. Mỉa mai thay, sự ủng hộ mạnh mẽ nhất mà Việt Nam có được lại đến từ Hoa Kỳ, đối tác toàn diện chứ chưa phải chiến lược của Việt Nam.
Việt Nam đang mưu cầu sự hỗ trợ từ phía Hoa Kỳ. Nếu muốn dựa vào Hoa Kỳ để chống lại các đe dọa từ Trung Quốc, Việt Nam cần đạt được một mối quan hệ cao hơn là thứ quan hệ chiến lược được định nghĩa một cách mù mờ; hoặc là Việt Nam phải đưa thêm các nội dung thực chất vào trong mối quan hệ chiến lược ấy. Ðã đến lúc giới lãnh đạo Việt Nam phải nhìn nhận một thực tế là đồng hành ý thức hệ cùng với tình xã hội chủ nghĩa anh em chẳng ngăn được ý đồ của Trung Quốc muốn xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Giới lãnh đạo Việt Nam phải nhìn nhận rằng mâu thuẫn quyền lợi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, cũng như sự thất bại trong vai trò vùng đệm hiệu quả của khối ASEAN, đã và đang khiến cho cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Bắc Kinh và Washington tại Á Châu trở thành gần như không thể tránh khỏi.
Sau Chiến Tranh Lạnh, giới lãnh đạo Việt Nam chia ra làm hai khuynh hướng. Khuynh hướng của nhóm thiểu số bao gồm những người có đầu óc cải cách, nghiêng về phương Tây. Nhóm đa số bao gồm những nhân vật thủ cựu, ủng hộ liên minh xã hội chủ nghĩa với Trung Quốc để bảo tồn chế độ. 
Nhu cầu thay đổi và hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu cũng như sự xâm lấn của Trung Quốc khiến Hà Nội đẻ ra một chính sách có tính thỏa hiệp. ViệtNam đang áp dụng tính thỏa hiệp ấy trong chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại cũng như trên con đường mưu cầu một quan hệ chiến lược với nhiều quốc gia khác nhau.
Thái độ hung hăng của Trung Quốc tại Biển Ðông cùng với tinh thần chống Tàu ngày một lên cao của dân chúng và của giới đảng viên Ðảng Cộng Sản khiến cho khuynh hướng thân Trung Quốc mất thế đứng và tính chính danh. Vụ khủng hoảng giàn khoan khiến Hà Nội nhận thức được rằng chính sách dựa trên liên minh ý thức hệ và khúm núm đối với Trung Quốc, thay vì đứng thẳng lưng nhìn thẳng vào sự vi phạm của Trung Quốc, là không thể đứng vững. Trên báo chí cũng như trên Internet, đã và đang có một sự đồng thuận trong dư luận, kêu gọi chính sách Thoát Trung - ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc.
Ngày 22 tháng 5, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố một cách rõ ràng, Việt Nam không bao giờ đánh đổi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ để “lấy hữu nghị viển vông.” Lời tuyên bố của ông Dũng có thể cũng là lời nói thay cho toàn bộ giới lãnh đạo bắt đầu sáng mắt trước sự thảm bại của chính sách khúm núm trước Trung Quốc. Lời tuyên bố cũng có thể do áp lực của dư luận quần chúng và nhu cầu giải quyết trò chơi cân bằng cán cân quyền lực. Chuyến đi Mỹ sắp tới của ông Minh cần được hiểu trong bối cảnh như vậy.
Nếu ông Minh được cử đi sứ để chơi trò chơi nguy hiểm này, nếu muốn thành công, ông ta cần được sự ủng hộ trọn vẹn của một giới lãnh đạo đoàn kết chặt chẽ phía sau một mục đích và chiến lược rõ ràng. Ngoài điều này ra, chẳng còn gì có thể giúp vớt Việt Nam ra khỏi tình thế khó khăn hiện nay.
NMH
---------------


Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Không tin dân thì mất nước

* NGUYỄN MINH NHỊ 
Dân gian có câu: “Cạn đìa mới biết Lóc, Trê/ Bày lưng mới biết Rô hay Sặc”.
Biển Đông tuy đang dậy sóng, nhưng đã “bày lưng” đủ “các loại cá”.
Hữu  nghị viễn vông ?
Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 làm cả thế giới thấy rõ TQ có “trỗi dậy hòa bình” như họ nói hay không?
Riêng Việt Nam qua vụ này, một lần nữa thấy rõ thêm những “lời vàng ngọc” là gì. Thấy rõ thêm những kẻ cơ hội thực dụng mà gần đây thôi ta lại… cả tin và có người, ta nghi ngờ thì họ lại tỏ ra sốt sắng hoặc kín đáo giúp. Đặc biệt đây là cơ hội để VN nhìn lại chính mình. Nhưng nhất là dịp để chính quyền thấy hết tấm lòng sắt son với đất nước của nhân dân từ Bắc đến Nam, từ khắp năm châu -bốn biển dội về! Đó chính là sự “bội thu”- là hai chữ DÂN TIN và TIN DÂN được phục sinh mạnh mẽ!
Kể từ ngày TQ hạ đặt giàn khoan đã ba tuần lễ, lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát biển Việt Nam (CSB) đã kịp thời có mặt chấp pháp, ngăn cản và yêu cầu phía TQ rút giàn khoan hạ đặt trái phép trong lãnh hải Việt Nam. Ngư dân ta không ngại bị tàu TQ quấy phá, thậm chí hành hung, cướp bóc, đánh đập…đã liên tục bám ngư trường. Chính quyền, các tòa báo kịp thời đưa phóng viên báo chí ngoài nước, trong nước ra đến nơi, chứng kiến tại chổ hành vi khiêu khích của TQ.
Đặc biệt, phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị ASEAN – Naypitau (Myanma) và tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về Đông – Á (Philippine), thể hiện lập trường hòa hiếu nhưng rất kiên quyết của VN, nhất là trả lời phỏng vấn của Hãng AP và Reuter: “VN luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.
Và Thủ tướng cho hay, đang “cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế”. Phát biểu tại hội nghị cán bộ khoa học – kỹ thuật, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng đã minh bạch: “Vàng là quý (16 chữ), nhưng kim cương quý hơn vàng, song không có gì quý hơn Độc lập – Tự do!”. Chúng ta đã gởi văn bản chánh thức đến Đại hội đồng LHQ và các Tổ chức quốc tế khác để thông báo tình hình, bày tỏ lập trường, ý chí và kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ.
Dân ta trong nước, nước ngoài sôi sục xuống đường bày tỏ thái độ phản đối hành động xâm lăng của TQ và ủng hộ Chính phủ trong đối sách với TQ. Tuy trong nước, một số cuộc xuống đường tự phát có những kẻ xấu lợi dụng cướp phá, phá phách một số cơ sở sản xuất kinh doanh ở khu công nghiệp Bình Dương, Vũng Áng – Hà Tĩnh…nhưng cũng được chính quyền sở tại kịp thời chấn chỉnh. Tất cả nói lên một hình ảnh, một ý chí VN quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo như ngàn năm trước đây, cha ông ta đã từng sinh tử sống mái ở cửa sông Bạch Đằng, thu hồi nền độc lập từ trong tay người Hán.
Hồ Cẩm Đào có lần nói với Tổng Bí thư Đảng CSVN: “VN và TQ có chung một dòng chảy văn hóa”. Một câu nhiều ngụ ý sâu xa. Tôi thử giải mã: VN và TQ không chỉ chung một đại lục Á- Âu mà còn là láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”. Trải qua lịch sử bốn ngàn năm, nhưng tính theo văn tự ghi chép từ đầu Công nguyên, thì TQ đô hộ VN trên 1.100 năm, còn 1.000 năm độc lập, nhưng cũng phải chiến đấu chống TQ xâm lược hàng chục lần khác nhau.
Đặc biệt từ 1974 đến 2014, trong 40 năm gần đây nhất, đồng chí và hữu nghị nhất, nhưng TQ cũng 03 lần trực tiếp đánh qua biên giới đất liền VN, chiếm đảo Hoàng Sa, đảo Gạc-Ma và nay dùng giàn khoan dầu cắm sâu vào lãnh hải Việt Nam 40 hải lý….Với các nước láng giềng có chung biên giới đất liền và lãnh hải với TQ như: Triều Tiên, Nhật bản, Philippine, Nga, Mông Cổ, Ấn độ, Nê-Pan, Myanma. Lào…, TQ đều có lối hành xử tham lam lãnh thổ và biển đảo như vậy, nhất là Nga và Ấn độ bị mất đất về tay TQ không ít.
Song, có lẽ hiếm có quốc gia nào như VN được láng giềng TQ có những động thái kỳ lạ triền miên, liên tục và… toàn diện. Ngay cả trong giao thương, thương lái TQ mua của VN những thứ lá, rễ, củ, quả và những mặt hàng “kỳ quái” mà không ai biết mua để làm gì, khi mua khi không, tạo ra sự “thăng giáng- chấn động”, luôn bất ổn với nền nông nghiệp VN.
Rõ ràng dòng chảy văn hóa đó phải chăng là văn hóa có nguồn gốc hàng ngàn năm của các dân tộc nông dân và các quốc gia nông nghiệp Á-Đông nặng về cảm tính? Xác định điều này rất quan trọng, vì nó sẽ là cơ sở để ta xem xét lại ta, kể cả những thứ mà ta hay gọi là “văn hóa truyền thống” có thật sự là văn minh, có lợi cho dân tộc tân tiến hay không? Hay là thứ văn hóa của bùa mê dùng để trói buộc, ru ngủ các “phiên thần”, kiểu xúi dại, phá hoại đạo lý luân thường.
“Giấc mộng Trung hoa” của TQ sẽ hiện thực và điều đó cũng sẽ trùng với giấc mơ “khôi phục đế chế” của nước Nga đang hãnh tiến thì nhân loại sẽ ra sao? Ucraina và VN hiện đang vừa tỉnh thức sau cơn ác mộng cùng một lúc ở hai bờ Đông Âu và Đông Á về thân phận bị xem là “phiên thuộc” thuở nào! Văn hóa cảm tính, nền quản trị quốc gia đầy lỏng lẻo, rất có thể là đất màu mỡ cho những kẻ gian hùng múa võ.
Văn hóa đó ứng vào “đường lưỡi bò”, vào Hoàng Sa 1974, Gạc-ma 1988 và giàn khoan 981 hiện nay là “dòng chảy văn hóa” bắt đầu từ đâu, mà đã bị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho là “hữu nghị viển vông, lệ thuộc” không thể đổi bằng chủ quyền dân tộc?
Trung Quốc khó lòng “chặt đôi trôi ghe”
Dù TQ rất thèm thuồng và có nhiều mưu kế khiêu khích để VN nổi nóng, rơi vào “bẫy” và TQ có cớ ra tay. Nhưng tôi vẫn tin, người VN chúng ta không hề run sợ. Trong hoàn cảnh quan hệ đan xen lợi ích các nước lớn và giữa TQ với VN, TQ sẽ khó lòng “chặt đôi trôi ghe”.
Nhưng tôi chỉ sợ như lời của nhạc sĩ tài ba họ Trịnh: “Đi loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Chừng nào sợi dây “chung dòng chảy văn hóa” ấy vẫn còn đủ sức để VN… loanh quanh bên ông bạn vàng như con gà bị cột chân bên đống trấu. Nước Anh, Pháp, Đức…, từng trải qua là trung tâm của thực dân đế quốc ở mấy thế kỷ trước, nhưng nay các nước láng giềng của họ có ai trong tình cảnh như các nước láng giềng của hai ông “Đại Nga” và “Đại Hán” không?
Nếu có thì làm sao có Khối thị trường chung Châu Âu và Liên hiệp Châu Âu? Ngay như Phần Lan là thuộc địa Sa hoàng, sau 1917 được Lê-Nin trả độc lập và họ đã như thế nào so phần còn lại của Liên bang Xô-Viết? Bởi vậy mà sau khi LX- Đông Âu sụp đổ, khác hơn phần còn lại trong khối Liên Xô- Đông Âu, Phần Lan lại dựng tượng Lê-Nin hoành tráng để tri ơn! Châu Âu được vậy là vì họ là các quốc gia đã công nghiệp hóa và cũng là các dân tộc công nhân, “hậu sanh” của văn minh lúa nước nên rất “khả quí”!
Biển Đông dậy sóng đã ba tuần nay. Vòi rồng tàu TQ hút không cạn nước Hoàng sa, nhưng cái “ao làng” của “đồng chí” đã cạn và cá đã bày lưng! VN cũng nên nhanh chân bước từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nhiệp như Nghị quyết của Đại hội lần thứ XI đề ra: “Đến năm 2020 nước ta cơ bản sẽ là nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Và tiền đề công nghiệp hóa là phải dựa vào nội lực chính mình.
Một Đảng lãnh đạo mà không thực sự biết dựa vào dân, không tin dân, mọi sự lãnh đạo quyết đoán chỉ theo ý chủ quan của một cá nhân hoặc một nhóm người quyền lực cao nhất, thì tất nhiên nhân dân sẽ khong tin đảng. Muốn dựa vào nội lực, phải TIN DÂN và mới được và cần được DÂN TIN. Không tin dân thì mất nước. Khi mất dân, mất nước, đảng tồn tại ở đâu?

NMN 

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Trí thức Việt Nam gửi thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước

 

Hơn một trăm nhà trí thức Việt Nam vừa ra thư ngỏ gửi đến đồng bào trong và ngoài nước cùng các đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, bày tỏ quan tâm về “tình thế hiểm nghèo khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm”, tiếp theo sau những sự cố dồn dập xảy từ đầu tháng Năm, trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông.
Trang mạng boxit.com đăng bức thư ngỏ có chữ ký của nhiều trí thức cả trong lẫn ngoài nước. Trên danh sách này có tên nhiều nhà hoạt động, nhà văn nhà thơ, nhà báo và một số đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Danh sách này còn có chữ ký của một số lãnh đạo tôn giáo và quân đội, trong đó có Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bức thư ngỏ tố cáo mưu đồ lấn chiếm Biển Đông và “hành vi xâm lược bằng vũ lực, ngang nhiên vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế” mà Trung Quốc đã ký kết.
Bức thư ngỏ này được soạn thảo bởi nhóm trí thức đã khởi xướng kiến nghị 72 và ký tuyên bố quyền thực thi quyền chính trị và dân sự.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt ngữ-VOA, một trong những người đã ký vào thư ngỏ, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, cho biết thông điệp chính của lá thư ngỏ này:
“Cái thông điệp nổi bật là phải dứt bỏ 4 tốt và 16 chữ vàng, mối quan hệ lệ thuộc vào Trung Quốc, đấy là cái thứ nhất. Thứ hai là, chỉ có xây dựng một hệ thống dân chủ thực sự, một nền dân chủ và một nền pháp trị thực sự, tức là không còn độc đảng, không còn toàn trị thì Việt Nam mới có cơ chống ngoại xâm, bởi vì Việt Nam hiện bây giờ đang trơ trọi, tuy rằng trong nước, Tivi vẫn nói rằng nhân dân thế giới ủng hộ, nhưng mà thực sự là bất chấp sự kêu gọi của ông Thủ Tướng, những nước mà lên tiếng mạnh mẽ cũng chỉ nói một cách chiếu lệ mà thôi bởi vì một nước độc đảng, một chế độ độc tài khó mà thuyết phục được những người khác làm bạn.”
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu IDS và từng là Chủ tịch Hội Tin Học Việt Nam, nói rằng đã đến lúc Đảng Cộng Sản Việt Nam nên gạt sang một bên 16 chữ vàng và 4 chữ tốt trong quan hệ với Trung Quốc.
Nhưng liệu tình hình thực tế trong nước đã chín muồi cho các đảng chính trị khác sẵn sàng hoạt động hay chưa, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói:
“Tôi nghĩ rằng nếu mà người dân thúc ép và bản thân những người cầm quyền cũng hiểu được điều đấy và có một thay đổi về mặt pháp luật, hợp thức hóa các đảng chính trị khác hoạt động thì tôi nghĩ rất là nhanh chóng họ có thể tự tổ chức được, chứ không có gì là quá khó khăn cả.”
Bức thư ngỏ nói chính quyền Việt Nam vẫn trấn áp các cuộc biểu tình khi người dân muốn bày tỏ ý chí muốn bảo vệ chủ quyền quốc gia và chống xâm lược trước dã tâm muốn thôn tính Biển Đông của Bắc Kinh.
Nhóm khởi xướng bức thư ngỏ nói rằng tình hình nguy hiểm hiện nay là một thách thức, nhưng có thể là “một cơ hội lớn cho dân tộc chấn hưng theo con đường dân tộc và dân chủ”.
Bức thư kêu gọi người Việt Namở trong và ngoài nước hãy đoàn kết và kiên quyết đấu tranh để bảo vệ độc lập  và chủ quyền quốc gia.
(Nguồn: boxit.com, VOA InterviewVnE)

Bế mạc Shangri-La 13: Nhiều nước yêu cầu TQ giải thích "đường 9 đoạn"

Theo phóng viên TTXVN tại Singapore, chiều 1/6, diễn đàn Đối thoại Shangri La lần thứ 13 đã bế mạc sau 3 ngày nhóm họp với 5 phiên thảo luận chung về các chủ đề liên quan đến an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Một trong những chủ đề được nhiều diễn giả, học giả tham dự diễn đàn quan tâm nhất chính là những diễn biến mới đây về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) tại Vùng Đặc quyền Kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. 
Hầu hết các đại biểu tham dự đều bày tỏ quan ngại, khẳng định đây là những hành động gây căng thẳng trong khu vực.
Tại phiên thảo luận chung thứ 4 diễn ra sáng 1/6 với chủ đề “Quan điểm của các cường quốc lớn về hòa bình và an ninh tại châu Á-Thái Bình Dương,” Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Vương Quán Trung, Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc khẳng định Trung Quốc ủng hộ hợp tác, đối thoại, tăng cường tin lòng tin chiến lược giữa các nước; cam kết giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền bằng các quyền liên quan đến biển. 
Trung Quốc sẽ tiếp tục hợp tác với Mỹ, Nga, Ấn Độ và các nước lớn khác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhằm duy trì an ninh và thúc đẩy thịnh vượng trong khu vực.
Cũng tại phiên thảo luận, Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov khẳng định mục tiêu chính của Nga là đảm bảo hòa bình và an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, vốn có ý nghĩa sống còn cho phát triển kinh tế bền vững và thịnh vượng của các quốc gia.
 Để đối phó với các nguy cơ an ninh, cần phải dựa vào các nỗ lực phối hợp dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an, cũng như các cấu trúc khu vực và tiểu khu vực, như hội nghị thượng đỉnh Đông Á, Diễn đàn khu vực về an ninh ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)...
Tại phần hỏi đáp sau thảo luận, các học giả đến từ nhiều nước trên thế giới đã tập trung yêu cầu ông Vương Quán Trung giải thích về cái gọi là “đường 9 đoạn” của Trung Quốc trên Biển Đông. 
Ông Vương Quán Trung cho biết Trung Quốc chuẩn bị “đàm phán trực tiếp” với từng nước có liên quan.
Trưa 1/6 đã diễn ra phiên thảo luận thứ năm và cuối cùng với chủ đề “Đảm bảo quản lý xung đột nhanh chóng tại châu Á-Thái Bình Dương.”
Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean-Yves Le Drian bày tỏ "hy vọng và trông đợi việc hoàn tất nhanh chóng Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC), mà sẽ là cách thức duy nhất để ngăn ngừa các sự cố” và để xây dựng một môi trường “hòa bình, ổn định và thịnh vượng” hơn nữa trong khu vực.
Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen đã nhấn mạnh đến tính “phi dự báo” của những thách thức an ninh đối với khu vực, trong đó có các sự cố trên Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Singapore khẳng định có thể giảm thiểu các nguy cơ này bằng “việc chủ động xây dựng các mối quan hệ và khuôn khổ đa phương mạnh mẽ nhằm gây dựng lòng tin thông qua hợp tác và đồng thuận.".
(VN+)
-------------

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

LẠM BÀN VỀ THƯ NGỎ

                   * TÔ VĂN TRƯỜNG 
Từ khi có báo mạng, người ta đã có thể bầy tỏ ý nghĩ của mình một cách công khai dưới nhiều hình thức. Và cũng từ đó, danh từ "Lề phải" -  "Lề trái", mới được nhiều người biết đến.
Trưng cầu dân ý là thu thập ý dân về những vấn đế lớn của đất nước có tính chất pháp lý cao, được luật qui định. Việt Nam chưa có luật trưng cầu dân ý, cho nên việc xuất hiện thư ngỏ thực chất chỉ là ý nghĩ xuất phát của một người, một nhóm người và có thể của một tổ chức dân sự nào đó về một hoặc một nhóm vấn đề của cộng đồng, cần có sự quan tâm của nhà cầm quyền và xã hội.
Những chữ ký của thư ngỏ rất ít giá trị pháp lý, và gần đây, trong những trường hợp cụ thể, người ta đã dùng cả kỹ thuật "điểm chỉ", hoặc bằng mực, hoặc bằng ánh sáng trong các giấy tờ, văn kiện, để được pháp lý công nhận, vết vân tay đi kèm chữ ký của mỗi đương sự. Tuy chữ ký của thư ngỏ có ít giá trị pháp lý, nhưng nếu số chữ ký lên tới hàng chục nghìn người thì thư ngỏ đó có ý nghĩa, buộc đương sự phải có ý kiến hoặc hành động phản hồi.
Các nước có chế độ dân chủ đại nghị đã cho hệ thống báo mạng, blog cá nhân, nhóm, phát triển đối với một việc có liên quan tới xã hội. Hệ thống này quan trọng, những ý kiến không từ những cá nhân được chính quyền mời họp, góp ý kiến chính thức, cũng rất đáng được nghiên cứu, người ta coi đây là "nhận xét độc lập", có khi góp phần quyết định cho một chủ trương mà cá nhân hoặc nhóm được chỉ định chính thức không làm được.
Nước mất thì nhà tan, khi thuyền bị lật chết đuối cả người lái lẫn người được chở.
Tuyên bố dõng dạc, đanh thép của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về bảo vệ chủ quyền biển đảo và độc lập của tổ quốc thể hiện ý chí của hàng triệu người dân yêu nước. Thực ra, thái độ của các vị lãnh đạo cấp cao trong quan hệ với Trung Quốc ra sao, chẳng cần chờ lịch sử phán xét mà người dân hiện nay nói chung đều rõ. Vấn đề bây giờ là các vị lãnh đạo phải đoàn kết, thống nhất hành động, vì nước "đìa đã cạn" mà không biết xử lý tình hình để tạo được niềm tin trong dân chúng thì ai cứu ta? Cứu cánh không biện minh cho phương tiện, u mê, cố bám víu vào 4 tốt, 16 chữ vàng chỉ là giả tạo, mất lòng dân, không còn đánh lừa được ai.
“Mất lòng dân thì dù tấc đất khó gìn
Được lòng dân, sợ chi quân thù trở giáo”
                                                                   (Kha Tiệm Ly) 
Thư ngỏ là hình thức bày tỏ thái độ, không phải văn bản chế tài, và pháp luật cũng không ngăn cấm. Thư ngỏ ngày 30/5 vừa qua về tình hình khẩn cấp của đất nước với 115 chữ ký đầu tiên (ngày nay chữ ký điện tử được chấp nhận trong thanh toán thì thư ngỏ cũng có thêm giá trị pháp lý đôi khi ngang với ký tươi) coi như những tiếng chuông cảnh tỉnh, hoặc "tiếng chim báo bão" là môt dạng vận động dư luận, động viên phong trào, tập hợp ý kiến. Đấy là một hình thức hoạt động quan trọng của xã hội dân sự, qua đó những điều tốt, điều hay được trao đổi và phổ cập trong nhân dân. Đảng và Nhà nước nếu thấy nội dung thư ngỏ có ý nghĩa, sẽ  xem xét tự điều chỉnh chủ trương, chính sách theo ước nguyện của người dân.
Hiểu biết là sức mạnh, một khi nhân dân tự trang bị được cho mình nhiều hiểu biết, dẫn tới đồng lòng nhất trí, đó là sức mạnh bất khả kháng của dân.
TVT
---------------------
* Trao đổi:
On Friday, 30 May 2014, 11:32, Nguyen An Khang <ankhang10@gmail.com> wrote:
Bác Trường kính mến!
Đầu thư, Em kính chúc Bác sức khỏe luôn dồi dào để luôn mang đến cho Cả Nhà những thông tin ở cấp thượng tầng mà như em rất khó tiếp cận được. Em kính cảm ơn Bác đã cung cấp thông tin về thư ngõ.
Trong thư đã nêu lên tình trạng khẩn cấp của đất nước và giải pháp để khắc phục và vượt qua nhằm phát triển phồn vinh đất nước. Là một người con nước Việt, kính cảm ơn những Người Bác, Người Anh đã vì đất nước này mà lao tâm suy nghĩ, hiến kế.
Sau khi đọc Thư, em nhận thấy rằng cách tiếp cận qua thư ngõ thấy vừa quen vừa lạ: giống như trưng cầu dân ý, hoặc cũng giống như trường hợp lấy chữ ký để "kiến nghị Mỹ trừng phạt Trung Quốc". Tuy nhiên, chữ "Thư ngõ" em đã nghe từ lâu nhưng đến bây giờ đối với Em chữ này vẫn là một từ tối nghĩa; văn bản "Thư ngõ" nói đến chuyện quốc gia đại sự nhưng yếu về mặt pháp lý. 
Em có ba thắc mắc về Thư ngõ kính chia sẽ cùng Bác và Cả Nhà rằng, :
- Làm thế nào để khẳng định rằng, những chữ ký ở trong thư là chính danh, không bị coi là copy và past. Lý do thắc mắc vì: Trước đây, trên VTV1 đã có nêu rằng, đã có "mạo danh chữ ký kiến nghị sửa đổi hiến pháp". Và kết quả là bản kiến nghị xem như vô nghĩa mặc dù đã có nhiều Vị Trưởng Thượng kiến nghị tâm huyết.
- Cơ sở pháp lý của Thư ngõ. Thư ngõ này chưa có cơ sở pháp lý là hợp pháp để bảo đảm cho người ký không bị cơ quan nơi anh ta công tác khiển trách, hoặc bị cơ quan công an xét hỏi là đã tham gia vào một việc làm chống lại Nhà nước trong khi anh ta đang ăn lương Nhà nước.
- Các bước xử lý thư ngõ tiếp theo chưa thấy nói đến. 
Vì biết rằng, người ký là đồng ý các giải pháp. Sau khi có đủ số chữ ký (chưa biết bao nhiêu) thì sẽ trình cho ai, khi nào...
Nếu có thể, kính mong nhận được sự chỉ dẫn của Bác và Cả Nhà. Em xin cảm ơn!
Kính mến,
Nguyễn An Khang (ETM 2004)
-------------------
Bạn Khang thân mến
Thắc mắc của bạn cũng là sự quan tâm của nhiều người liên quan đến Thư ngỏ. Mời các Anh/Chị và bạn Khang đọc bài "Lạm bàn về thư ngỏ" (File kèm theo) để có thêm thông tin tham khảo
Kính
Tô Văn Trường
------------------- 

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

PHẢI CHĂNG ĐÂY LÀ SỰ HIỂU BIẾT “SÂU SẮC” VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN ?

           * TRUNG HÀ   
               - (Bài 2)                                             
           Sau khi viết xong bài trước (17/5/2014), tôi không có ý định viết gì thêm nữa, song qua ý kiến nhận xét, khích lệ của nhiều bạn đọc và gợi ý của bạn bè gần xa, đặc biệt là trước sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan vào thềm lục địa của ta ở Biển đông...đã  thôi  thúc  tôi viết thêm bài này. Mong được mọi người góp ý, cùng trao đổi tiếp.
1- Không hiểu ai đã cho rằng “chủ nghĩa Mác – Lê-nin bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Nam” mà đến nỗi  PGS, TS Vũ Văn Phúc, TBT Tạp chí cộng sản phải đặt thành câu hỏi lớn cho tựa đề của bài viết để phản bác ? Có lẽ đó là người ngồi trên sao hỏa, vì quá xa với thực tiễn đã và đang diễn ra trên bề mặt quả địa cầu này.  Thực tế là cho đến nay ở các nước phương Tây (kể cả Âu, Mỹ) đã có nước nào thực hiện đúng theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin mà thành công và tồn tại được đâu ? Hoặc là cách mạng vô sản không nổ ra như dự đoán ban đầu của Mác hoặc đã nổ ra và giành được chính quyền, nhưng rồi lại sụp đổ (Nga, Đông Âu). Như vậy là ngay cả ở phương Tây, chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chưa được thực tế chứng minh là phù hợp.
                              >> Bài 1 – Trung Hà – Phải chăng  ? 
Sau khi Mác mất (1883), Ăng-ghen đã chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân theo con đường xã hội dân chủ, thay thế cho chủ nghĩa cộng sản. Một số nước Bắc Âu (Na Uy,Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan) thực hiện theo tư tưởng đổi mới của Ăng-ghen thông qua thực tế đã đạt được những thành quả đáng khâm phục ! GDP bình quân đầu người năm 2010 của mỗi nước đạt từ 30.000 đến 86.000 USD, tương đương với Mỹ và đứng trên nhiều nước tư bản phát triển khác, đời sống của nhân dân được ổn định ở mức khá cao. (Theo trù tính của các nhà kinh tế, với cung cách làm ăn như hiện nay, nếu không có gì đột biến xẩy ra thì đến hết thế kỷ XXI này GDP bình quân đầu người của Việt Nam giỏi lắm cũng chỉ đạt trên 10.000 USD).  Năm 2011, LHQ công nhận 4 nước Bắc Âu (kể trên) nằm trong 20 nước có chất lượng cuộc sống tốt nhất thế giới hiện nay.Tổ chức Minh bạch quốc tế xếp các nước này nằm trong 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới.
           2- Tác giả đã dẫn ra những thông tin về kết quả bình chọn ở một số nước, trong đó Mác vẫn được coi là nhà tư tưởng số một của thế giới để chứng minh rằng “C.Mác đã đội mồ đứng dậy”...
          Cần hiểu cho đúng : Mác là một triết gia lớn, có nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhưng trong hệ thống lý luận của Mác không phải tất cả đều đúng hoặc ngược lại. Do vậy trên thế giới vẫn có không ít người ngưỡng mộ, đó là ngưỡng mộ phần đúng chứ không phải là ca ngợi toàn bộ lý luận của Mác. Còn phần sai thì trước khi qua đời, chính bản thân Mác đã tự nói ra : “Tôi chỉ biết một điều rằng tôi không phải là người Mác-xít” (C.Mác & Ph. Ăng-ghen Toàn tập, Tập 37. Nxb CTQG. HN, trang 603).
3- Còn đối với Việt Nam, tác giả viết : “Ở Việt Nam, kể từ “Đường kách mệnh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Luận cương chính trị do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 đến nay Đảng ta đều khảng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng”.
a) Trước hết, có lẽ tác giả nên đọc lại toàn bộ Điều lệ đảng qua các kỳ đại hội từ khi thành lập đến nay để xem có phải ngay từ 1930 đảng ta đã quyết định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng hay không ?  
         b) Với cách trình bầy như  trên, phải chăng tác giả không hề hay biết gì về sự khác nhau rất căn bản giữa “Chính cương vắn tắt” của Hồ Chí Minh và “Luận cương chính trị” của Trần Phú ? hay cố tình gộp 2 quan điểm trái ngược hẳn nhau làm một ? Sự thật lịch sử là :
                   >> Cuộc đối thoại về NIỀM TIN …  
Ngày 3/2/1930 trong cuộc Hội nghị hợp nhất 3 nhóm cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra Chính cương (vắn tắt) trong đó có nội dung chủ yếu là :
“…Đảng phải tập họp đại bộ phận giai cấp công nhân và nông dân…Đảng phải vận động tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi với giai cấp công nhân đồng thời phải tranh thủ hoặc trung lập hóa tầng lớp trung, tiểu địa chủ, phú nông và tư sản Việt Nam…Đảng phải nêu cao khẩu hiệu Việt Nam độc lập, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới”.
Bản chính cương này đã bị Trần Phú bác bỏ (theo chỉ đạo của Quốc tế cộng sản) với nhận xét rằng: “Chính cương sách lược vắn tắt đã phạm sai lầm chính trị nguy hiểm vì chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh”.(Văn kiện Đảng,Nxb CTQG 1998 t2, trang 110)
Thay vào đó là Luận cương chính trị do Trần Phú soạn thảo được hội nghị Trung ương thông qua ngày 31/10/1930, đặt đấu tranh giai cấp lên hàng đầu. Đường lối tả khuynh sai lầm đó đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu : “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, kết quả là thất bại, lực lượng bị tổn thất nghiêm trọng và cách mạng rơi vào một thời kỳ thoái trào tệ hại !
Cũng thông qua việc đề ra “Chính cương vắn tắt” kể trên mà Stalin cho rằng Nguyễn Ái Quốc không phải là cộng sản, không có lập trường giai cấp mà chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi...và  đã bị “treo giò” nhiều năm không giao công tác, coi như bị “giam lỏng” ở Mát-scơ-va. Nguyễn Ái Quốc đành phải ngồi học và tranh thủ làm luận án tiến sĩ về “Vấn đề ruộng đất ở châu Á” ở “Viện các vấn đề dân tộc ”, sau khi bảo vệ thành công, được phong hàm giáo sư nhưng Nguyễn Ái Quốc từ chối, không nhận.
Ngay từ khi mới tiếp xúc với lý luận của Mác, năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một nhận xét khác thường so với nhiều học giả uyên bác đương thời :
 “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết học nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào ? – Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì ? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, tr 456).
“Cần xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng  dân tộc học phương Đông” (Trích báo cáo của NAQ gửi QTCS năm 1924).
Còn đối với Lê-nin, là người ủng hộ phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa nhưng lại cho rằng kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng ở các nước thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của giai cấp vô sản chính quốc, cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi khi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi, vì vậy cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa chỉ là lực lượng hậu bị (hỗ trợ) của cách mạng vô sản chính quốc...
Nhưng Hồ Chí Minh lại nghĩ khác hẳn :
“Cách mạng giải phóng dân tộc không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có tính chủ động. Trong những điều kiện nhất định, cách mạng ở thuộc địa có thể nổ ra và thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Và trong trường hợp ấy, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. (HCM toàn tập,CTQG, 1995, tr 364). Điều này đã được thực tế chứng minh là đúng. Nếu cứ trung thành với quan điểm của Lê-nin mà chờ cách mạng vô sản Pháp thắng lợi thì không biết bao giờ Việt Nam mới giành được độc lập ?
Chính là nhờ phong cách tư duy độc lập, tiếp thu có chọn lọc, trân trọng nhưng không giáo điều, và với bản lĩnh tự thân dám vượt qua mọi rào cản...mà Hồ Chí Minh đã đề ra khẩu hiệu : đại đoàn kết toàn dân (khác với Mác chỉ kêu gọi giai cấp vô sản liên hiệp lại hoặc Lê-nin chỉ chủ trương liên minh công nông). Thực chất là từ năm 1941, đường lối lãnh đạo của Đảng đã trở lại với Chính cương, sách lược vắn tắt đã được phát triển lên một trình độ cao hơn, hoàn chỉnh hơn. Kết quả là Mặt trận Việt Minh ra đời mở ra một trang mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam : cả dân tộc đã tập hợp lại thành một khối thống nhất dưới ngọn cờ Đại đoàn kết toàn dân đứng lên giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, đập tan chế độ thuộc địa, phong kiến, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa... 
 4- Tình hình thực tiễn diễn ra trên đất nước ta từ sau khi kết thúc chiến tranh đến nay, trải qua gần 40 năm xây dựng đất nước theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để thực hiện chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản...kết quả thế nào ?
 -10 năm đầu tiên (1976-1985) đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội theo đúng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và mô hình cộng hòa XHCN của Liên xô. Kết quả là đi vào ngõ cụt, bế tắc,  khủng hoảng trầm trọng !
- Đứng trước nguy cơ sụp đổ, Đại hội đảng lần thứ VI ( 1986) buộc phải tìm lối thoát bằng con đường ĐỔI MỚI, thực chất là “phá rào”, rẽ sang một lối khác, từ bỏ (một phần) lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Do đó mới giải phóng được sức sản xuất, thoát khỏi đói nghèo và từng bước phát triển đi lên.
Tuy nhiên sự đổi mới đó còn nửa vời nên chỉ phát huy được tác dụng ở mức độ nhất định. GDP bình quân hàng năm tính theo đầu người từ dưới 500 USD (1988) sau 20 năm đã lên được 1.145 USD (2008), nhưng sau đó bắt đầu hết động lực và tụt dốc dần : tốc độ tăng trưởng GDP từ đỉnh cao năm 2007 : 8,46% đến nay chỉ còn 5,4% (2013).

Vì vậy trải qua gần 30 năm đổi mới, tuy có đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, nhiều vướng mắc, lung túng trong quá trình lãnh đạo và quản lý đối với nền kinh tế… nên tốc độ phát triển rất chậm và không vững chắc, đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, nông dân và các dân tộc miền núi còn vô vàn khó khăn…
 5- Trong phần kết, đánh giá thành tích của công tác lý luận trong những năm qua, tác giả cho rằng “...công tác lý luận đã trực tiếp góp phần làm cho con đường đi lên CNXH nước ta ngày càng được xác định rõ hơn, đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, bước vào thời kỳ phát triển mới ở thế kỷ XXI với thế và lực mới, với một gia tốc mới, như bất cứ ai đều thấy”.
Không thể phủ nhận sự đóng góp tích cực của các nhà lý luận trong thời gian qua đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là từ khi ĐỔI MỚI. Nhưng có lẽ đánh giá như vậy hơi cao, có phần chủ quan, xa rời thực tiễn...mà thực tiễn bao giờ cũng là thước đo chân lý. Nếu như công tác lý luận đã góp phần đưa nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới ở thế kỷ XXI với thế và lực mới, với gia tốc mới... thì cần hiểu thế nào vể lời phát biểu của vị đứng đầu một Bộ (có thể coi là bộ tham mưu của nền kinh tế đất nước) :  Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Bùi Quang Vinh : “Chúng ta phải đổi mới căn bản và triệt để thể chế kinh tế của chúng ta. Phải tiếp tục thị trường hóa một cách mạnh mẽ...chúng ta sẽ tụt hậu rất nhanh so với các nước bên cạnh...bây giờ không dám so với Thái Lan, Indonexia, Malaysiađâu, tôi đang lo rằng là cả với Campuchia và Lào – những nước trước đây quá lạc hậu so với chúng ta.” (Phát biểu tại Quốc hội ngày 24/10/2013). Đó là thực trạng kinh tế-xã hội của chúng ta hiện nay, không ai có thể nắm rõ thực trạng đó hơn Bộ trưởng kế hoạch đầu tư của chính phủ.
Cho đến nay các nhà lý luận của ta cũng còn mù mờ, chưa làm rõ được thế nào là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” ? Đã là thị trường thì phải cạnh tranh bình đẳng nhưng lại lấy kinh tế quốc doanh là chủ đạo và được ưu ái đủ thứ thì còn gì là cạnh tranh? Phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng lại không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về tư kiệu sản xuất thì làm sao giải phóng được sức sản xuất ? v.v... Đó là những lực cản, kìm hãm đất nước trong trạng thái trì trệ, nên đã gần 30 năm đổi mới mà chúng ta vẫn còn là một nước nghèo ! trong đó không biết các nhà lý luận có thấy được phần nào trách nhiệm của mình không ?
Một thực trạng nữa cũng đáng chú ý : Nhiều năm nay ta vẫn coi  Trung Quốc là cùng chung ý thức hệ, cùng là chế độ XHCN với “16 chữ vàng và 4 tốt”. Vậy các nhà lý luận của ta đã đi sâu nghiên cứu để chứng minh điều đó trên thực tế chưa ? Với việc thực hiện lý luận “mèo trắng, mèo đen” của Đặng Tiểu Bình thì thực chất là họ đã quẳng chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào sọt rác từ lâu rồi ! Cái gọi là “ CNXH mang đặc sắc Trung Quốc” chỉ là để  lừa bịp nhân dân trong nước và che mắt thiên hạ mà thôi. Với thế giới không biết có nhiều người bị lừa không ? còn đối với Việt Nam thì... không lẽ các nhà lý luận “chính thống” của ta cũng bị trúng quả lừa đó sao ?Và làm sao lý giải được việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa (1974), đưa 60 vạn quân gây chiến tranh biên giới (1979) tàn phá mọi cơ sở vật chất và giết hại vô cùng dã man nhân dân một nước “ ý thức hệ tương đồng”, đánh chiếm đảo Gạc Ma nằm sâu trong quần đảo Trường Sa (1988), rồi liên tục gây rối bằng nhiều biện pháp bỉ ổi ở Biển Đông và giờ đây lại trâng tráo đưa hẳn giàn khoan khổng lồ HD981 vào đặt ngay tận sân nhà chúng ta để hiện thực hóa âm mưu bành trướng, trắng trợn xâm phạm chủ quyền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc ta...
Vậy xin mạo muội đặt ra câu hỏi : lâu nay công tác lý luận của ta đã làm gì để tham mưu cho lãnh đạo sớm nhận rõ bộ mặt thật của nhà cầm quyền Trung Quốc “XHCN” từ đó có đối sách thích hợp ? Hay coi đó chỉ là chuyện vặt, không có gì mới... nên không đáng quan tâm ?
Ngày 30 tháng 5 năm 2014       
T.H
(Tác giả gủi BVB)
=======

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

ĐỊNH HƯỚNG TRUNG QUỐC?

    * TS Alan Phan
Đồng Đăng đây, nọ Bình Tường
Song song đôi mặt như gương với hình
Bên ni biên giới là mình
Bên kia biên giới cũng tình quê hương…(Thơ Tố Hữu)
Trong cuộc phỏng vấn ngày 19/6/2013 với RFI, và trong cuộc điều trần tại Quốc Hội Mỹ trước đó, G/S Carl Thayer đã phân tích và kết luận là Việt Nam đã chọn Trung Quốc làm đối tác chiến lược căn bản, nhất là trong các vấn đề chính trị và kinh tế; do đó, vai trò của Âu Mỹ sẽ mờ nhạt tại Việt Nam trong tương lai. Các diễn biến gần đây cho thấy GS Thayer khá chính xác trong việc chuần mạch.
Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh tuyên bố là quan hệ Việt-Trung đã đi vào một bước ngoặt mới rất tích cực sau chuyến viếng thăm của Chủ Tịch nước Việt qua Trung Quốc. Dù là viên tướng Bắc Việt đầu tiên thăm Ngũ Giác Đài, Tổng Tham Mưu Trưởng Đỗ Bá Tỵ đã minh định rõ quan điểm của mình trước đó,” Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông. Mối tình hữu nghị Việt-Trung, tài sản vô giá do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông sáng lập và dày công vun đắp đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và được nâng lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.”
Nhiều bạn BCA hỏi thăm về hệ quả của bước ngoặt này trong nền kinh tế tài chánh sắp đến. Nếu Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ không xẩy ra, liệu kinh tế Việt Namcó phục hồi vào 2015 như dự đoán? Những ngành nghề và phân khúc thị trường nào sẽ phát triển, và ngược lại? Thành phần nào sẽ hưởng lợi, và ngược lại? Liệu môi trường vĩ mô có giúp cho các doanh nghiệp tư nhân hay ngược lại? Chúng ta nên đầu tư tiền nhàn rỗi vào đâu?
Con đường mới
Trước hết, xin thưa rõ là tôi sẽ không bình luận gì về ảnh hưởng của sự lựa chọn này trên địa chính trị hay các uẩn khúc phía sau. Đây là vùng cấm kỵ và tôi cũng không có thông tin ngoài luồng nào. Nếu thuần túy nhìn về khía cạnh kinh tế thì tôi cho rằng đây là một quyết định tích cực. Tôi luôn than phiền về “con thuyền không bến” của một nền kinh tế “dở dở ương ương”, nửa thị trường nửa xã hội nửa tả pín lù. Ít nhất, các nhà lãnh đạo xứ này đã không còn dặm chân tại chỗ và quyết định lái chiếc xe ra khỏi bùn lầy và đi về hướng …Trung Quốc. Đi đâu thì đi, nhưng chúng ta sẽ được …chuyển dịch.
Đây là một con đường mới, vì Trung Quốc không theo nền kinh tế thị trường của toàn cầu hay có định hướng XHCN như Việt Namta. Nền kinh tế chính trị Trung Quốc được mô tả như là một mô hình…có tính chất Trung Quốc…nói nôm na là…chủ nghĩa Đại Hán đại đồng (không khác gì lắm với chiêu bài Đại Đông Á của phát xít Nhật vào thế chiến thứ 2). Thực ra, kinh tế Trung Quốc rất tư bản (kiểu hoang dã và bè nhóm), không có định hướng xã hội dù vẫn trưng cờ CS và cũng không là kinh tế do thị trường quyết định mà là do sự vận hành tùy tiện của quan chức Trung Ương và địa phương.
Ảnh hưởng của Trung Quốc
Vì chúng ta đi theo con đường Trung Quốc thì viễn cảnh của mọi ngành và mọi người sẽ không khác xa với Trung Quốc bao nhiêu. Bức tranh tổng thể của một Việt Nam đi sau Trung Quốc 15 năm sẽ được sao chép giống một tỉnh trung bình của Trung Quốc vào 2000, với nhiều tiến bộ hơn về IT và mậu dịch, nhưng cũng nhiều tổn hại hơn về môi trường và an toàn thực phẩm.
Cái lợi lớn nhất khi hai kinh tế Việt-Trung hội nhập là sự ổn định của chánh sách. Dường như mọi doanh nhân đều hiểu các quy trình hành chánh và liên hệ chánh trị cần có cho những phi vụ, từ doanh nghiệp nhà nước đến công ty tư nhân. Như cái bánh khi hoàn tất (hay chưa hoàn tất), các phần chia chác cho khách ẩm thực đã được quyết định từ trước.
Không gì bất ngờ.
Cái hại lớn nhất là hàng hóa và đầu tư Trung Quốc sẽ tràn ngập, tỷ lệ mậu dịch và gia công sản xuất sẽ lớn hơn con số 80% hiện nay. Doanh nhân Việt nam sẽ giữ vai trò lép vế và phần bánh lớn nhất sẽ thuộc về doanh nhân Trung Quốc. Quan trọng hơn, Trung Quốc có thể xuất khẩu “ô nhiễm môi trường” qua Việt Nam, trước hết bằng những công nghệ lạc hậu và sử dụng nhiều năng lượng.
Tệ hại hơn nữa là sự “rút ruột” những tài nguyên như lâm sản, khoáng sản và nông hải phẩm. Trong khi đó, các thương hiệu của thực phẩm Việt Nam có thể bị hoen ố như Trung Quốc trong các thị trường xuất khẩu Âu Mỹ.
             Phân khúc và thành phần hưởng lợi
Giống như Trung Quốc, những ngành nghề thăng hoa trong nền kinh tế này sẽ gồm các doanh nghiệp nhà nước, các dự án khủng có chánh phủ bảo kê, các ngân hàng và định chế tài chánh, các công ty BDS, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, lâm sản, các hãng cung cấp dịch vụ viễn thông, các nhà sản xuất công nghiệp có ưu tiên về độc quyền hay liên hệ…
Với sự tiếp tay của các tập đoàn lớn Trung Quốc, nhiều doanh nhân Việt trong các ngành nghề nói trên sẽ kiếm tiền nhiều hơn (Forbes sẽ đăng cai thêm vài ông bà tỷ phú đô la). Nhập siêu vẫn cao vì phần lớn kỹ nghệ Việt có bản chất là gia công, tuy nhiên thị trường lớn của Trung Quốc cũng sẽ hấp thụ thêm rất nhiều hàng Việt.
            Ngành du lịch cũng sẽ hưởng lợi vì doanh nhân Trung Quốc sẽ tự tay khai thác thị trường này qua các tours dành cho du khách Trung Quốc. Bù lại, du khách Âu Mỹ sẽ rút lui vì họ thường “kỵ đụng độ” với du khách Tàu. Tóm lại, số lượng khách sẽ đông hơn nhiều nhưng chất lượng khách sẽ giảm mạnh.
Những ngành nghề bị thử thách
Trong một nền kinh tế mà DNNN và các nhóm lợi ích chi phối, những doanh nghiệp nhỏ lẻ tư nhân (SME) sẽ không cạnh tranh nổi để thu hút các nguồn lực như tài chánh, thị trường, nhân sự, giấy phép…và sẽ nắm một vai vế thứ yếu. Ngoài những doanh nghiệp làm việc trực tiếp cho chánh phủ và Trung Quốc, các ngành nghề sản xuất cũng như dịch vụ sẽ không phát triển nổi. Số người khởi nghiệp kinh doanh sẽ ít dần và môi trường nuôi dưỡng sáng tạo trên thương trường sẽ bị bào mòn.
Nền kinh tế Việt sẽ tiếp tục xếp hạng cuối tại ASEAN về thu nhập cá nhân, về khả năng cạnh tranh, về thị phần quốc tế, về hiệu quả đầu tư…so với các nước láng giềng. Vời Trung Quốc, chúng ta sẽ giữ khoảng cách 15 năm sau họ.
Nông nghiệp có thể phát triển mạnh hơn nhờ đầu tư Trung Quốc; tuy nhiên, tỷ lệ lợi nhuận cho nông dân có thể giảm khi các thương lái Trung Quốc kiểm soát thị trường. Vả lại, nông nghiệp không phải là điểm mạnh của nền kinh tế Trung Quốc.
Môi trường sống
Mối quan tâm mà các chuyên gia kinh tế phải cảnh báo là vấn đế an toàn thực phẩm và nạn ô nhiễm toàn diện trên không khí và các nguồn nước. Đây là vấn nạn lớn nhất của Trung Quốc vì chánh phủ Tàu không cách nào giải quyết được. Việc tạm ngưng các giấy phép kinh doanh cho những doanh nghiệp Trung Quốc gây ô nhiễm nặng sẽ đẩy họ đi tìm những quốc gia “dung thứ” cho những lạm dụng này. Việt Nam, Kampuchia và Lào là 3 nơi gần nhất.
Trong khi đó, có thể nói “thế lực thù địch” lớn nhất của chế độ và xã hội Trung Quốc không phải là Mỹ hay các nhà đối lập. Đó là sự an toàn thực phẩm. Các cha mẹ có con trẻ phải bay qua các nước Nhật, Hàn, Thái Lan hay Hong Kong, Macau…để khuân sữa bột về. Các tầng lớp có tiền than phiền hàng ngày trên những blogs cá nhân là họ không còn thưởng thức hương vị của bất cứ món ăn gì…vì sợ. Sự bất an do hóa chất, nguyên liệu đểu, cách pha nấu, vi phạm luật nhờ “lại quả”…gây ra trên thực phẩm là một sự bất an chia đều trên mọi thành phần dân chúng (già trẻ lớn bé, nam nữ giàu nghèo). Cái stress hiện diện 3, 4 lần mỗi ngảy sẽ hủy hoại tinh thần những con người mạnh mẽ nhất.
Trên hết là sự hiện diện liên tục của nền văn hóa tham lam, vô cảm và giả dối trên mọi hành vi xử thế; cũng như tư duy lợi ích cá nhân luôn đặt lên trên luật pháp và xã hội. Một xã hội như vậy sẽ kéo dài đến bao lâu? 92 năm đă qua tử ngày Mao sáng lập đảng CS Trung Quốc. Liệu các lãnh đạo hiện tại có thể kéo dài tuổi thọ thêm 92 năm nữa? Nếu được, đó sẽ là một phép lạ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại…
Alan Phan
T/S Alan Phan là tác giả của 9 cuốn sách về thị trường mới nổi, giảng viên thỉnh giảng tại các đại học Mỹ và Trung Quốc, và doanh nhân có 44 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc. Web site cá nhân của ông là www.gocnhinalan.com.
----------------------