Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Việt Nam ơi, đừng tuyệt vọng!


* Gs. JONATHAN LONDON*


             Ở khắp Việt Nam và trên toàn thế giới những người quan tâm đến Việt Nam hiện đang cố hiểu ý nghĩa (hay sự vô nghĩa) của các sự kiện diễn ra hôm Thứ Năm, khi Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (và Đảng Cộng sản cầm quyền) chính thức phê chuẩn hiến pháp được sửa đổi sau hơn một năm tranh luận với mức độ công khai trước nay chưa từng thấy về các ưu điểm và khiếm khuyết của một hiến pháp vẫn giữ nguyên hiện trạng. Ngay lúc này có thể có ba nhận định rất thích hợp như sau.
Thứ nhất, về mặt thời sự, việc thông qua hiến pháp chẳng phải là tin tức mới mẻ và chắc chắn đã không được nhiều người chú ý nếu không có cuộc tranh luận toàn quốc về hiến pháp này. Quốc hội – từ thuở ban đầu đến nay – là một cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Đảng lập nên, và phục vụ cho Đảng. Nói như vậy chẳng có ai cãi, và chí ít cũng giúp lý giải kết quả 486 đại biểu tán thành và 0 đại biểu không tán thành trong một cơ quan tự cho mình là đại diện của toàn dân. Thật tình chẳng có gì đáng ngạc nhiên về bản thân kết quả này ngoại trừ chuyện nó gợi ý ít nhiều về tuồng kịch diễn ra xung quanh cuộc họp này; tuồng kịch mà bản thân nó do những tác động nhìn chung không liên quan đến chính Quốc hội.
                Thứ hai, tuy có lẽ phản ánh các quan điểm của “đại đa số đại biểu” của Quốc hội, việc thông qua hiến pháp cung cấp rất ít thông tin về thực trạng chính trị ở Việt Nam. Tuy kết quả kiểm phiếu cuối cùng cho thấy có kỷ cương Đảng trong số 488 người được chọn lựa kỹ càng có quyền bỏ phiếu, còn có hàng trăm đảng viên ngang tầm hay có vị thế cao hơn đã và sẽ tiếp tục cổ xúy những cải cách căn bản. Hiện nay, bất cứ ai có chút ít hiểu biết về chính trị ở Việt Nam đều biết rằng ở dưới cái vỏ ngoài đoàn kết và đồng thuận, sự cạnh tranh, sự bất hòa và sự mất đoàn kết bên trong Đảng (nếu không nói là trong Quốc hội) đang ở mức độ vô tiền khoáng hậu. Tỉ lệ 98% tán thành hiến pháp sửa đổi sắp bằng với mức độ “đồng thuận” của Bắc Hàn.
            Thứ ba, tuy ý nghĩa lịch sử của quá trình sửa đổi hiến pháp Việt Nam vẫn còn chưa rõ, chúng ta có đủ lý do để nghĩ rằng những hiệu ứng quan trọng nhất của quá trình này sẽ không được thể hiện ở các thể chế chính thức của Việt Nam, mà suy cho cùng các thể chế này chỉ có những thay đổi hầu như không đáng kể; mà là sẽ được thể hiện ở các thay đổi khá lớn mà chúng ta đã quan sát được trong văn hóa chính trị của Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử cai trị của Đảng Cộng sản ở Việt Nam, đất nước này đã chứng kiến sự gia tăng thảo luận chính trị công khai gần như không bị can thiệp. Với nguồn sinh lực từ một bản kiến nghị ban đầu có chữ ký của 72 vị trí thức và nhân sĩ có những mối quan hệ lâu đời với đảng và nhà nước, Việt Nam ngày nay có một văn hóa chính trị sống động hoàn toàn trái ngược với những gì có thể quan sát được ở Trung Quốc, và cho đến nay đã chống chọi được sự đàn áp của nhà nước.



               Đối với người Việt và nhiều người bạn của Việt Nam, còn đôi chút thất vọng. Ngay cả những người, như tác giả bài này, thông cảm với các lý tưởng xã hội chủ nghĩa cũng không thể không thấy thất vọng ít nhiều về điều dường như là một cơ hội mang tính lịch sử để giải quyết những hạn chế thể chế căn bản hiện đang kìm hãm Việt Nam. Riêng phần tôi, tôi sẽ tiếp tục dành tâm huyết và sức lực để hiểu và lý giải rõ hơn các bước phát triển đương đại ở Việt Nam với tư cách là một nhà phê bình thân thiện bên cạnh những người bạn trong và ngoài nhà nước hiện đang phấn đấu vì một tương lai tươi sáng.
                 Việt Nam còn đầy hứa hẹn. Nhưng kết quả hôm nay khiến ta có lý do để tạm ngừng lại trước khi tiếp tục. Quan điểm riêng của tôi là thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang đối mặt xuất phát từ sự thiếu tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hệ thống chính trị của mình; các đặc điểm thể chế mà đã trở thành gánh nặng nặng nề, phá hoại các nền tảng của sự tăng trưởng nhanh bền vững và công bằng xã hội.
               Hôm trước khi diễn ra buổi bỏ phiếu về hiến pháp, nhà nước Việt Nam lại ban hành thêm một nghị định nữa hứa phạt những người nói xấu nhà nước hay đảng trên các mạng xã hội; điều này diễn ra ở một nước mà chỉ mới cách đây hai tuần lấy được ghế trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Khi được bầu vào hội đồng đó, Việt Nam đã cam kết cổ xúy nhân quyền trên toàn cầu và ngay tại Việt Nam. Đây quả thực là những giá trị mang lại nguồn cảm hứng tạo nên hiến pháp đầu tiên của Việt Nam. Thế rồi có đôi chút oái ăm. Hiến pháp do chính Hồ Chí Minh thẩm định và phê chuẩn vào năm 1946 có thể nói tiến bộ hơn và ủng hộ nhân quyền hơn hiến pháp được thông qua nhân danh ông 67 năm sau. Than ôi, quyết định của ông Hồ sau đó tước mất của Quốc hội bản chất dân chủ của cơ quan này vẫn còn ám ảnh Việt Nam hiện nay và rất có thể đe dọa các triển vọng tăng trưởng của nước này.
             Ở Việt Nam, và thậm chí trong bộ máy nhà nước của nước này, không thiếu những người thông minh, có năng lực và tận tụy. Cái mà nước này thiếu là các thể chế cần thiết cho một nền kinh tế có hiệu năng cao. Với vị trí địa lý và vai trò đang trỗi dậy của Việt Nam trong thương mại thế giới, nền kinh tế của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng. Nhưng tốc độ, những cách phân phối, và chất lượng của sự tăng trưởng đó sẽ còn đáng ngờ chừng nào nước này vẫn còn được cai trị theo cách không minh bạch. Có nhiều điều có thể học hỏi từ việc lắng nghe những nhà phê bình thân thiện ở cả trong lẫn ngoài nước, và trong lẫn ngoài nhà nước.
              Đối với những người cố giữ hiện trạng, và những người có thiên hướng bắt chước thái độ đắc thắng kiểu Trung Quốc cho rằng mô hình độc đảng là khôn ngoan, việc thông qua hiến pháp và vào hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc là những dịp để dè bỉu những nước khác trên thế giới, đặc biệt là những nơi ủng hộ chủ nghĩa tự do và dân chủ (được xem là) ‘của phương Tây’. Thực ra, chủ nghĩa tự do và (nhất là) chủ nghĩa tân tự do và dân chủ phương Tây đang gặp khủng hoảng ở nhiều nơi; mà Mỹ là ví dụ điển hình. Nhưng có lẽ có thể rút được bài học từ cả phe Leninist [định hướng] thị trường lẫn phe tân tự do. Trong cả hai bối cảnh, giới quyền thế chính trị và kinh tế đã nắm quyền kiểm soát cỗ máy nhà nước để phục vụ cho các mục tiêu ích kỷ của họ. Điều cần thiết ở cả hai bối cảnh này là các thể chế và tinh thần hoạt động [chính trị và xã hội] mà có thể buộc chính trị phải phục vụ nhân dân.
            Các hiến pháp có ý nghĩa hay vô nghĩa nhờ vào nội dung thì ít, mà nhờ nhiều vào mức độ ủng hộ và chấp nhận dành cho hiến pháp đó. Hôm nay ở Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đã bày tỏ các sở nguyện của họ. Người ta tự hỏi quá trình cải tổ hiến pháp đã có kết quả ra sao nếu như Việt Nam đã có một hiến pháp khác, một hiến pháp bảo đảm cho người Việt được quyền có các quyền mà cả hiến pháp 1946 lẫn Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền đều hứa hẹn. Nếu có một hiến pháp như vậy, người Việt với mọi thiên hướng chính trị từ tả sang hữu, trong đó có Đảng Cộng sản, có thể đóng góp vào sự phát triển của đất nước trên một sân chơi công bằng hơn và minh bạch hơn. Cuộc bỏ phiếu hôm nay có thể được nhiều giới đón nhận với cảm giác thất vọng. Nhưng về mặt chính trị, Việt Nam hiện nay khá hơn nhiều so với cách đây chỉ một năm. Việt Nam ngày nay có một môi trường bàn luận chính trị sống động, nhìn chung không bị can thiệp, và rõ ràng là đa nguyên.
           Sáng hôm qua, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói trước cuộc bỏ phiếu rằng sẽ có việc phải làm “sau khi chúng ta thông qua hiến pháp”, cho thấy trước cuộc kiểm phiếu cuối cùng rằng “gạo đã nấu thành cơm”. Ông cũng tuyên bố, với vẻ hơi tình cảm ủy mị, rằng giới lãnh đạo ủy ban hiến pháp của Quốc hội rất trân trọng thậm chí cả nhiều quan điểm bất đồng đã được trình bày trong và xung quanh quá trình sửa đổi hiến pháp. Chúng ta hãy hy vọng rằng ông và những người Việt khác thực sự chia sẻ tình cảm này.
          Thay vì trấn áp ý kiến bất đồng bằng các chỉ thị, Việt Nam nên khuyến khích môi trường bàn luận chính trị công khai mới chớm nở và sự quan tâm ngày càng tăng của công chúng đối với chính trị. Những người cổ xúy cải cách, trong đó có tác giả bài này, tin rằng con đường đi đến thịnh vượng đòi hỏi phải có một hiến pháp thích hợp với những đòi hỏi bắt buộc về trách nhiệm giải trình và tính minh bạch hơn hiến pháp được thông qua hôm nay. Có ai bảo chính trị là chuyện dễ đâu. Nhưng, Việt Nam ơi, đừng tuyệt vọng!
                                   Chào đoàn kết,
                                            JL
                 (Nguồn: Ở đây )
------------------
(*) - "Tôi là Jonathan London, người Mỹ, sinh ra và lớn lên tại Boston, cụ thể hơn là Central Square, Cambridge. Tôi là nhà xã hội học, nhà kinh tế chính trị học, chuyên về Việt Nam từ 1975 đến nay. Tôi đã bắt đầu nghiên cứu về VN từ năm 1992 và lần đầu tiên đặt chân đến Việt Namlà tháng 1 năm 1990. Dịp đó tôi mới 20 tuổi, dốt quá, được có cơ hội gặp Đại Tướng Giáp, bắt tay mà thật sự lúc đó chẳng biết ông ta là ai cả. Thời gian sống hoàn toàn ở VN là từ 1997 đến 2001 và sau đó đi lại tiên tục cho đến bây giờ. Tôi hoàn thành tiến sĩ năm 2004 ở trường ĐH Wisconsin và sau đó sống và làm việc ở Đông Á. Trước đây tôi là Assistant Professor tại Singapore và đã sang TĐH Thành Thị Hong Kong từ năm 2008"...
-----------------------------

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ HẬU STALIN - Kỳ 2

Không chỉ có Moskva: Ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Âu và Bắc Việt thời kỳ hậu Stalin

·        TRỊNH ÁNH HỒNG
+ Lê Quỳnhdịch 
(tiếp theo - Kỳ 2)
 Những khoảnh khắc quan trọng nhất xảy ra vào ngày 29 và 30-10. Vào chiều 29-10, Khrushchev và các lãnh đạo Liên Xô khác gặp phía Trung Quốc tại nơi phái đoàn ở và cho biết cả Ba Lan và Hungary đang yêu cầu Moskva rút quân khỏi hai nước. Mặc dù vẫn đòi Moskva thay đổi thái độ “sôvanh nước lớn” đối với các nước cộng sản khác, nhưng ông Lưu Thiếu Kỳ nói trong hoàn cảnh hiện tại, tốt hơn là quân đội Liên Xô hãy ở lại và đối đầu với những phần tử phản cách mạng.
Trong lúc đang nói chuyện, phái đoàn Trung Quốc nhận được điện thoại của Mao, người có đề nghị khác với Lưu. Mao nói đã đến lúc Moskva phải rút quân ra khỏi cả hai nước và để họ được độc lập. Lưu chấp nhận ý kiến của Mao và chuyển lại thông điệp cho Khrushchev. Nhưng ngày hôm sau, phái đoán Trung Quốc nhận được báo cáo tình hình từ phía ban lãnh đạo Liên Xô. Báo cáo được viết bởi Anastas Mikoyan, phó thủ tướng thứ nhất và là người liên lạc khéo léo giữa Moskva và các nước cộng sản khác, người đã được gửi đến Hungary trước khi phái đoàn Trung Quốc đến Moskva. Báo cáo nói rằng từ hôm 29-10, sau khi quân đội Liên Xô rút khỏi Budapest và giải tán lực lượng an ninh Hungary, thủ đô và nhiều nơi khác của Hungary đã rơi vào hỗn loạn và các phần tử phản cách mạng đang tàn sát những người cộng sản. Phái đoàn Trung Quốc bị ngạc nhiên. Sau một ngày thảo luận, họ kết luận rằng tính chất của sự kiện ở Hungary khác với ở Ba Lan, vì thế quân đội Liên Xô cần quay lại thủ đô và đè bẹp bọn phản cách mạng. Sau đó vào buổi chiều, Lưu Thiếu Kỳ gọi cho Mao. Mao thay đổi quan điểm ban đầu rằng phía Nga cần rút quân, và nay đồng ý với kết luận của phái đoàn vì ngoài báo cáo của Lưu, Mao còn nhận được báo cáo hàng ngày từ Hungary của Hồ Đức Khánh, đại sứ Trung Quốc, và Hồ Quý Bang, phóng viên của Nhân dân Nhật báo ở Budapest. Nhưng Mao nói nếu phía Nga chờ lâu một chút để có thêm các phần tử phản cách mạng lộ diện thì sẽ tốt hơn – một chiến thuật đặc Mao mà sau này được dùng để phát hiện phe hữu khuynh ở Trung Quốc. Sau khi gọi cho Mao, phía Trung Quốc yêu cầu có cuộc họp khẩn với người Nga. Tại cuộc họp, Lưu Thiếu Kỳ, phó chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, mạnh mẽ đề nghị Khrushchev không “bỏ cuộc” ở Hungary mà hãy nỗ lực hơn để cứu vãn tình thế, trong khi Đặng Tiểu Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai thúc giục quân đội Nga quay lại thủ đô và nắm chính quyền. Nhưng Khrushchev ngần ngừ. Ông nói với phía Trung Quốc rằng vì tình hình đã thay đổi khá nhiều ở Hungary, nên sự trở lại của quân Nga sẽ đồng nghĩa với sự chiếm đóng đất nước và người Nga sẽ bị xem là kẻ chiếm đóng. Vì thế ban lãnh đạo Liên Xô, Khrushchev thông báo cho phía Trung Quốc, đã quyết định không đưa quân quay lại.
Vì phía Nga đã quyết định như vậy, Trung Quốc không dấn thêm nữa. Thay vào đó, Lưu nói đùa với phía Nga rằng hôm qua chúng tôi thuyết phục các đồng chí rút quân nhưng các đồng chí không chịu; hôm nay các đồng chí đến đây và tìm cách thuyết phục chúng tôi đồng ý với quyết định rút quân. Mọi người có mặt ở buổi họp bật cười. Lưu lại nói phái đoàn Trung Quốc sẽ trở về Bắc Kinh chiều hôm sau. Nhưng vào chiều hôm sau, 31-10, phái đoàn Trung Quốc nhận được điện từ Kremlin ngay trước lúc họ ra sân bay. Các lãnh đạo Nga yêu cầu phía Trung Quốc đến phi trường sớm hơn một tiếng để dự cuộc họp khẩn. Tại phi trường, đoàn Trung Quốc gặp Khrushchev và các lãnh đạo khác của Nga. Khrushchev nói ban lãnh đạo Nga đã thay đổi ý kiến trong đêm và quyết định đưa quân quay lại Budapest. Tỏ rõ phấn khởi, Lưu Thiếu Kỳ nói Trung Quốc vui mừng rằng ban lãnh đạo Nga đã đứng ra bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Thực tế, trước cuộc họp ở sân bay, quân đội Nga đã di chuyển quay lại thủ đô Hungary[4] . 
Sự do dự của Moskva khi giải quyết cuộc khủng hoảng Hungary, được phản ánh qua ghi chép của Trung Quốc, có thể được xác nhận bằng chính lời của Khrushchev: “Không biết đã bao nhiêu lần chúng tôi thay đổi ý kiến về việc rút khỏi Hungary hay ‘đè bẹp cuộc nổi loạn’” [5] . Khó xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với Moskva trong các quyết định, nhưng như ta thấy qua ghi chép trên của Trung Quốc, phía Trung Quốc quả thực đóng một phần vai trò trong tiến trình và phía Nga quả thực xem trọng thái độ của Trung Quốc. Ngày 3-11-1956, ba ngày sau khi xe tăng Nga tiến vào Budapest, Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc là một trong các tờ báo cộng sản đầu tiên ca ngợi Liên Xô đè bẹp cuộc nổi dậy ở Hungary. Trung Quốc còn ủng hộ thay đổi chính trị ở Hungary bằng việc gửi Thủ tướng Chu Ân Lai đến Budapest giữa tháng Giêng 1957 khi tình hình còn bất ổn, và xe tăng Liên Xô đã phải canh gác chỗ ở của ông Chu, mặc dù ông chỉ ở lại đây một ngày. 
Trong lịch sử ngoại giao Trung Quốc, ảnh hưởng của Trung Quốc trong khủng hoảng Ba Lan – Hungary đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc bày tỏ quyền lực của họ tại châu Âu, “một diễn biến mà Liên Xô sau này sẽ ân hận”, như lời của Joseph L. Nogee và Robert H. Donaldson [6] . Mặc dù các chi tiết về quan điểm cứng rắn của Trung Quốc trong khủng hoảng Hungary không được biết tới cho mãi đến cuối thập niên 1990, nhưng sự ủng hộ công khai trước việc đè bẹp cuộc nổi dậy ở Hungary – thể hiện qua sự có mặt của phái đoàn Trung Quốc ở Moskva vào thời điểm xảy ra, các tuyên bố chính thức nhanh chóng, và chuyến thăm của Chu Ân Lai đến Budapest – thường được xem là chỉ dấu về thái độ của Trung Quốc đối với cuộc khủng hoảng trong bốn thập niên kế tiếp. 
Nhưng thái độ của Trung Quốc đối với khủng hoảng Hungary, dù có cứng rắn và ấn tượng đến đâu, thì cũng chỉ là một khía cạnh trong chính sách và ảnh hưởng của Trung Quốc trong giai đoạn hạ bệ Stalin hay còn gọi là giải phóng. Sự chỉ trích “chủ nghĩa sôvanh nước lớn” của Nga, quyết định bác bỏ sự can thiệp của Nga trong khủng hoảng Ba Lan, và ý kiến của Mao rằng quân đội Nga nên rút khỏi Ba Lan và Hungary trước khi tình hình trở nên xấu đi, cho thấy một thái độ phức tạp hơn của Trung Quốc. Nếu chúng ta mở rộng cái nhìn ra toàn bộ giai đoạn phê phán Stalin và xem xét lại một số dữ kiện ít được quan tâm trước và sau khủng hoảng Ba Lan – Hungary, chúng ta chắc chắn sẽ tìm thấy một Trung Quốc khác. Một Trung Quốc mà thái độ mang tính cởi mở (nếu xét từ góc nhìn thuần tuý Stalin và bất kể mưu tính đằng sau thái độ ấy là gì) cũng xuất hiện giữa những người cải cách hoặc chống Stalin ở Đông Âu ngay từ năm 1955 và kéo dài cho đến mùa hè 1957, hơn nửa năm sau khi cuộc nổi dậy Hungary bị dập tắt
Có bằng chứng rằng Trung Quốc bắt đầu thu hút chú ý từ một số nước Đông Âu trong thời gian khi, ngay sau cái chết của Stalin, ban lãnh đạo Liên Xô bắt đầu chứng tỏ họ sẵn lòng cho phép các thay đổi chính sách, có tên “Đường lối Mới”. Đường lối này do Georgi Malenkov, người kế vị gần nhất của Stalin mà sau đó bị Khrushchev thay thế, khởi xướng (ngay từ mùa xuân 1953, cùng sự hỗ trợ của Lavrentiy Beria, theo nghiên cứu của Geoffrey và Nigel Swain.) [7] Ở trong nước, Đường lối Mới bao gồm việc bớt nhấn mạnh đến công nghiệp nặng vốn được Stalin ưa thích, và thay vào đó, chú ý hơn đến nông nghiệp và công nghiệp nhẹ thông qua việc bớt kiểm soát giá thực phẩm và quần áo, và giảm bớt đàn áp chính trị. Trên trường quốc tế, Đường lối Mới bao gồm việc phục hồi cho Tito của Nam Tư – người đã bị Stalin trục xuất khỏi thế giới cộng sản năm 1948 – sau chuyến thăm bất ngờ của Khrushchev đến Belgradetháng Năm 1955. So với cơn bão mà Đại hội 20 sau đó tạo nên, thì Đường lối Mới này có vẻ chỉ là cơn gió thoảng, nhưng quả thực nó “làm tan băng” mảnh đất đã bị đông cứng trong chính thể Stalin cứng nhắc. Các đảng Đông Âu đã phản ứng theo Moskva – phần nào được Kremlin khuyến khích – bằng việc đưa ra những thay đổi tương tự trong lĩnh vực đảng, kinh tế, xã hội. 
Để có thêm tự chủ trước Moskva, một số nước Đông Âu quay sang Bắc Kinh tìm cảm hứng với cái cớ rằng Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển đổi chủ nghĩa xã hội (từ “Dân chủ Mới” sang chủ nghĩa xã hội) tương tự như Đông Âu, trong khi Liên Xô đã tiến vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội cao hơn. Ví dụ, ở Đông Đức, nước đầu tiên ở Đông Âu thực thi một số chính sách Đường lối Mới ngay từ 1953, Hội nghị lần thứ 25 của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất của Đông Đức thông qua nghị quyết ngày 1-11-1955, chuẩn thuận phương pháp của Trung Quốc trong vấn đề quốc hữu hoá các doanh nghiệp lớn của tư nhân còn lại bằng cách đề nghị bồi thường 50% cho những người chủ cũ [8] . Việc mua, thay vì tịch thu, phương tiện sản xuất và cho phép chủ cũ tham gia quản lý là chính sách của Mao nhằm làm cuộc chuyển đổi diễn ra êm thắm; nó rất khác với mô hình quốc hữu hoá chủ nghĩa xã hội của Liên Xô. Đông Đức quan tâm đến phương thức quốc hữu hoá ôn hoà hơn của Trung Quốc, và mối quan tâm này tiếp tục tăng trong năm 1956 và được phản ánh trong các bài báo, phúc trình trên báo và tạp chí của Đảng. 
Neue Zeit, một báo của Đảng, ngày 13-6-1956 đã in lại một bài nhan đề “Vì sao các nhà tư bản của chúng ta hoan nghênh chủ nghĩa xã hội”, do chủ tịch Hội Nông Thương Trung Quốc viết và đăng lần đầu trênPeople’s China, một tờ báo tuyên truyền đối ngoại, để trả lời cho câu hỏi của các chủ doanh nghiệp tư nhân ở Đông Đức. Trong ấn bản tháng Chín, tờ báo lý luận Einheit có đăng bài báo Trung Quốc nhan đề “Giai đoạn mới của sự chuyển hoá công nghiệp và thương mại tư bản ở Trung Quốc.” Khi Walter Ulbricht, Tổng Bí thư của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất của Đông Đức, báo cáo cho Đảng về chuyến đi thăm Bắc Kinh dự Đại hội Tám của Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng Chín 1956, ông nhấn mạnh đến liên minh giữa người cộng sản Trung Quốc với cái gọi là “tư sản dân tộc.” [9] .
Ở Hungary, ảnh hưởng Trung Quốc được phản ánh trong ý thức hệ của những người cộng sản dân tộc mới nổi lên của Hungary, đặc biệt thể hiện qua việc Imre Nagy ngưỡng mộ “Năm nguyên tắc cùng chung sống” của Trung Quốc. Nagy, người được đưa lên làm Thủ tướng từ cuối 1953 đến 1955, đề đạt đường lối cải cách bao gồm việc giảm nhẹ nhịp độ công nghiệp hoá, cho phép nông dân rời bỏ nông trường tập thể và giảm bớt sự khắc nghiệt của công an. Vì lẽ này ông bị những người thân Stalin do Mátyás Rakosi dẫn đầu loại bỏ vào tháng Ba 1955. Nhưng sau khi bị buộc về hưu non, Nagy cảm nhận trận bão chính trị đang tới và viết một luận đề dài nhan đề “Bảo vệ Con đường Mới” vào cuối năm 1955 và đầu 1956. Bài này được in thành sách ở phương Tây với nhan đề Về chủ nghĩa cộng sản, trong đó bốn vấn đề lớn được đề cập: công nghiệp, nông nghiệp, đàn áp chính trị và chính sách ngoại giao.
Trong chương về chính sách ngoại giao, “Năm nguyên tắc cùng chung sống” của Trung Quốc trở thành nền tảng lý thuyết cho Nagy khi ông bảo vệ chủ quyền của Hungaryvà độc lập trước Liên Xô. “Năm nguyên tắc cùng chung sống” bao gồm tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm lấn, không can thiệp chuyện nội bộ, bình đẳng và cùng có lợi, và chung sống hoà bình [10] . Trung Quốc lần đầu tiên nêu các nguyên tắc này trong một tuyên bố chung với Ấn Độ năm 1954. Rồi vào năm 1955, tại Hội nghị Bandungcủa các nước Á và Phi, Chu Ân Lai chính thức đề đạt chúng với các nước như nguyên tắc bang giao quốc tế đối lập với chủ nghĩa thực dân. Các tuyên bố chính thức của Trung Quốc liên quan năm nguyên tắc này thường thòng thêm một cụm từ hạn chế, “giữa các nước có hệ thống xã hội khác nhau”, nhằm giảm nhẹ lo ngại của các nước phi cộng sản châu Á về xuất khẩu cách mạng của Trung Quốc, nhưng không nói rõ liệu chúng có áp dụng cho “các nước có cùng chế độ xã hội” hay không.
Nhan đề của chương đối ngoại trong bài của Nagy là “Năm nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế và câu hỏi về chính sách đối ngoại của chúng ta”. Tác giả không chỉ dùng “Năm nguyên tắc” làm luận đề chính mà còn tuyên bố chúng phải “mở rộng cho quan hệ giữa các nước trong khối xã hội chủ nghĩa và dân chủ”. [11]. Bài của Nagy được phổ biến trong những người cộng sản phản kháng, và vào mùa Xuân 1956, Nagy chuyển một bản cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng và một bản cho Yuri Vladimirovich Andropov, đại sứ Nga ở Budapest [12] . Quả là một trớ trêu bi thương khi chưa đầy một năm sau đó, mộng tưởng của Nagy về việc áp dụng “Năm nguyên tắc” cho quan hệ Hung – Nga và ảo tưởng về cảm tình của Trung Quốc với Hungary đã vỡ tan, khi Bắc Kinh thúc giục Moskva can thiệp và Nhật báo Nhân dân là tờ báo đầu tiên ca ngợi cuộc đàn áp [13] . …  
(còn tiếp)

------------
·        Chú thích:

[4]Phần trên chủ yếu dựa vào bài “Sự biến Ba Lan / Hungary và chuyến đi của Lưu Thiếu Kỳ đến Liên Xô” của Shi Zhe, Bai Nian Chao 2 (1997): 11-17. Shi Zhe là thư ký và phiên dịch tiếng Nga cho Mao vào cuối thập niên 1940 và 1950. Ông làm phiên dịch cho phái đoàn Trung Quốc đến Moskva hồi tháng 10-1956. Xem thêm cuốn Mao's China and the Cold War của Jian Chen để có ghi chép chi tiết hơn về chủ đề.
[5]N. S. Khrushchev, hồi ký Khrushchev Remembers (Boston: 1970), trang 418
[6]Joseph L. Nogee và Robert H. Donaldson, Soviet Foreign Policy Since World War II (New York: Pergamon Press, 1984), trang 219
[7]Geoffrey Swain và Nigel Swain, Eastern Europe Since 1945, trang 71–72
[8]William E. Griffith, chủ biên, Communism in Europe: Continuity, Change, and the Sino-Soviet Dispute, vol. 2 (Boston: MIT Press, 1966), trang 101
[9]Như trên.

[10]Robert V. Daniels, chủ biên, A Documentary History of Communism(New York: Random House, 1960), trang 346–349
[11]Imre Nagy, On Communism (New York: Praeger, 1957), trang 23
[12]Janos Radvanyi, "The Hundred Flowers Movement and the Hungarian Revolution", trong quyển Hungary and Superpowers (Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1972), trang 23. Bài viết này ban đầu in trong tạp chí ChinaQuarterly 43 (tháng Bảy – Chín 1970): 121-129, dưới nhan đề "The Hungarian Revolution and the Hundred Flowers Campaign", nhưng trước khi đưa vào sách, tác giả có bổ sung và sửa chữa. Tác giả là một viên chức ngoại giao cao cấp tại Bộ Ngoại giao Hungary giữa thập niên 1950 và trưởng phân ban châu Á của bộ này trong các năm 1958-1959.
[13]Ngày 1-11-1956, bình luận trên Nhân dân Nhật báo nói quan hệ giữa các nước XHCN cần được thiết lập trên nền tảng của “Năm nguyên tắc”. Nhưng ba ngày sau, tờ báo này lại ca ngợi việc Liên Xô dập tắt cuộc nổi loạn của Hungary.
------------------

NGƯỜI VÀ ĐẤT

                                            * TÔ VĂN TRƯỜNG
Từ cổ chí kim, cai trị đất nước hay tồn tại xã hội, ngoài tài nguyên nước, trước hết và chủ yếu có hai thành tố: Người và đất.  Vua, Chúa có Luật đinh và Luật điền (cả thuế đinh và thuế điền). Các Mác nói : “Lao động là cha, đất là mẹ.”. Cha mẹ yêu thương gắn bó với nhau mới sinh ra con cháu (của cải). Nhưng chỉ có hôn nhân đúng luật, đúng truyền thống và tập quán thì các mối quan hệ hôn nhân trong gia đình ấy mới là chính thống.
Luật hôn nhân và gia đình có đề cập và qui định điều chỉnh các mối quan hệ vợ chồng, cha, mẹ, con cái kể cả con nuôi...khá rõ ràng và tương đối bình đẳng. Trong đó, chỉ có quan hệ vợ chồng bền vững là một cột, một kèo, con chung trong giá thú là loại điển hình. Vậy thì các quyền đối với đất đai (điền địa) trong Luật đất đai sửa đổi cũng phải rõ ràng,  minh bạch như luật hôn nhân và gia đình.
Sáng ngày 29/11 các đại biểu Quốc hội đã ấn nút thông qua Luật đất đai sửa đổi với tỉ lệ 89,96%. Có 20 đại biểu không tán thành và 5 đại biểu không biểu quyết. Luật đất đai sửa đổi gồm 14 chương, 212 điều, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2014.
Theo tôi được biết cách đây khoảng chừng 25 năm trước, trên thế giới chỉ có nước ta, Trung Quốc và 3 nước ở châu Phi là có chế độ công hữu (thực chất là chế độ sở hữu của giới cầm quyền) về đất đai, với những tệ nạn sinh ra từ đó. Thời ấy, ở Canada, mọi chuyện về đất đai hoàn toàn thuộc thẩm quyền cấp tương đương cấp tỉnh của nước ta, còn cấp toàn quốc coi như vô can về mọi chuyện đất đai. Nói chung, từ rất lâu rồi, trên thế giới, người ta coi vấn đề đất đai là loại vấn đề phức tạp nhất, tranh chấp nhất, thiết cốt nhất. Đó là thành tố rất quan trọ̣ng của hai lần bộ ba sự sống: Trời, Đất, Người và  Cá nhân, Xã hội, Thiên nhiên.
Trên công luận đã có một số bài viết nói về các mặt được và chưa được của Luật đất đai sửa đổi. Phản ứng của cử tri nói chung, không quan tâm nhiều lắm đến sự kiện sửa Hiến pháp và Luật đất đai bởi vì nó đang giống như sân khấu hơn là bản thân nó. Những vấn đề cơ bản vẫn còn né tránh.  Việc  sửa câu chữ thì chỉ mới là chuyện “son phấn” bên ngoài, tốn thời gian và phí hoài tâm huyết của nhân dân.
Lâu nay, các vụ khiếu kiện gây bất ổn xã hội chủ yếu liên quan đến đất đai, thể hiện ở quan điểm sở hữu đất đai, quyền thu hồi đất và giá đền bù. Nhiều bài viết của chuyên gia phân tích đã có mẫu số chung là khi sở hữu tư nhân đất đai không được chấp nhận thì nó tiếp tục là mầm mống tạo bất ổn xã hội và điều này sớm hay muộn cũng sẽ phải giải quyết. Lý do đơn giản vì đất đai là nguồn tài nguyên và nguồn sống của nông dân chiếm tới 70 % người dân Việt Nam.
Sở hữu toàn dân về đất đai  vẫn tiếp tục là bảo bối của các nhóm lợi ích – họ thích nhất là tình trạng nhập nhằng, không minh bạch thì mới dễ trục lợi. Quyền sử dụng đất mới  chỉ là 1 loại quyền đối với tài sản nên nếu người dân (đặc biệt là nông dân) chỉ giữ quyền này thì  họ luôn ở thế của  người thua cuộc.
Luật đất đai sửa đổi vẫn chưa làm rõ bản chất của khái niệm sở hữu toàn dân, hình thức tư hữu. Không thể có cái gọi là tư hữu toàn dân. Và đặc biệt là không thể đi ngược lại lịch sử để bảo rằng quyền tư hữu là phản tiến hóa. Vấn đề thực chất là nằm ở nhóm lợi ích. Cần phân biệt rõ ràng thấu đáo các chính sách thu hồi đất đai dưới các danh nghĩa khác nhau với trưng mua theo thị trường để không đẩy người dân vào các cuộc khiếu kiện liên miên gây bất ổn xã hội như vừa qua.
Luật đất đai sửa đổi viết “ Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.” 
Người đọc nhận thấy đây không còn chỉ là câu chuyện thu hồi đất mà cần phải làm rõ khái niệm chỉ mua và trưng mua quyền sử dụng đất là thứ quyền tài sản hay nói cách khác là hàng hóa chỉ được mua bán trên cơ sở tính giá “thuận mua, vừa bán”! Đã phát triển kinh tế là có lợi nhuận mà đã có lợi nhuận thì phải bồi thường theo thỏa thuận với người bị mất đất chứ không có phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng gì cả. Lợi ích quốc gia thì chỉ nên gói trong “quốc phòng, an ninh, công cộng” là đủ. Tất cả các trường hợp khác đều phải thỏa thuận với người mất đất, đó mới là đạo lý.  
Bất cập hiện nay là qui định về phương pháp đánh giá không dựa trên giá trị mà sử dụng mới đưa lại. đặc biệt là nông dân luôn bị thiệt thòi bởi vì trình độ kiến thức còn hạn chế, thiếu các thông tin công khai, minh bạch. Việc tính giá tài sản, giá đất như thế nào, để giải đáp thỏa đáng  mối quan hệ mua-bán quyền sử dụng đất dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của người dân đang sử dụng đất, lợi ích của các đại gia và lợi ích của Nhà nước vẫn là bài toán cần được xem xét, phân tích đánh giá một cách logic, thuyết phục. Giá trị của đất đai được quyết định bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tiềm năng tạo ra thu nhập, lợi thế do địa điểm xây dựng và thương hiệu của chủ thể đem lại.
Nguyện vọng của người dân là đất đai phải có đa sở hữu. Nhà nước phải sử dụng công cụ chính sách thuế sao cho đất nói chung được sử dụng hiệu quả nhất cho xã hội và cá nhân. Đất tư nhân có mức thuế khác đất công để làm sao đất đó phải được sử dụng có hiệu quả cho toàn xã hội, tránh việc đầu cơ cho cá nhân. Đất hoang khi khai khẩn cần có quy định khuyến khich chủ đầu tư và người nước ngoài có thể mua căn hộ và thuê đất dài hạn. Mọi tài sản phải có chủ sở hữu, người có quyền cũng như trách nhiệm xã hội đối với việc sử dụng tài sản đó.
Trong các quyền đối với đất đai cũng như Luật hôn nhân và gia đình. Nói nôm na dễ hiểu, đất do tự khai hoang, mua bằng tiền hay do thừa kế là loại sở hữu tư nhân như quan hệ vợ chồng truyền thống, chính thống. Nó khác biệt với loại vợ chồng chắp nối, con anh, con em, con chúng ta. Nếu Luật hôn nhân và gia đình mà như quy định của Luật đất đai là chỉ có quyền sử dụng thì vấn đề gia đình trong xã hội ta sẽ cũng rối rắm, phức tạp, bất ổn như tình trạng quản lý và tranh chấp khiếu kiện về đất đai như hiện nay bởi vì “hậu hôn, nhì điền thổ”!         
Quốc hội đã thông qua Luật đất đai sửa đổi nhưng vẫn còn nhiều bất cập, nhiều việc phải nghĩ, phải làm. Dư luận cho rằng, Hiến pháp và Luật đất đai lâbnf này có ‘sửa’ nhưng hầu như không hề ‘đổi’; nhất là những nôi dung hợp dân ý, dân nguyện đều không đáp ứng, chẳng qua ‘bổn cũ soạn lại’ mà thôi! Để cho các văn bản hướng dẫn thực thi áp dụng sắp tới sát với thực tế, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân tới đây công tác phản biện xã hội với các trụ cột chính là trí thức, báo chí và công luận sẽ phải vào cuộc tích cực hơn nữa. 

TVT
(Bản thảo tác giả gửi đến BVB)
----------------

SỢ ‘TIỀN LỆ’ HAY LẤP LIẾM, BAO CHE ?

Vụ án Nguyễn Thanh Chấn “giết người”,
hay vụ án Nguyễn Thị Hoan chết “bất thường” ?
 
      *VÕ VĂN TẠO
Ngót một tháng sau sự kiện động trời oan án Nguyễn Thanh Chấn đồng loạt rộ trên truyền thông, rúng động trong và ngoài nước, câu hỏi vẫn ám ảnh công luận: Phải xử lý vụ này theo thủ tục pháp lý “tái thẩm” hay “giám đốc thẩm” mới đúng?
Ngày 5-11-2013, tại cuộc họp báo công bố vụ oan sai, lãnh đạo VKSND Tối cao cho biết, do xuất hiện tình tiết mới là hung thủ thật sự của vụ án là Lý Nguyễn Chung ra đầu thú và khai nhận đã sát hại nạn nhân Nguyễn Thị Hoan (thực tế, Cục điều tra của VKSND Tối cao vừa xác minh tình tiết này),  VKSND Tối cao đã ký kháng nghị xem xét lại bản án theo thủ tục tái thẩm. Trước cuộc họp báo một ngày, ông Chấn được trả tự do sau hơn 10 năm ngồi tù oan, theo quyết định tạm đình chỉ thi hành án của VKSND Tối cao.
Ngày 6-11, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao chấp nhận kháng nghị tái thẩm của VKSND Tối cao, tuyên hủy các bản án sơ thẩm và phúc thẩm, chuyển hồ sơ cho VKSND Tối cao để điều tra lại.
Cùng ngày 6-11, báo Lao động (onlines) đăng ý kiến TS Vũ Đức Khiển – nguyên Chủ nhiệm UB Pháp luật của Quốc hội: “Tôi khẳng định chắc chắn rằng đây không phải tình tiết mới, vì tình tiết mới chỉ được xác định là do khách quan mang lại và việc xử tái thẩm là sự tiếp diễn của việc xét xử vụ án… Ở đây, rõ ràng vụ án đối với ông Chấn đã kết thúc, ông Chấn đã đi tù, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm oan người ta nên không thể là tình tiết mới. Việc kẻ ra đầu thú hoàn toàn là một vụ án độc lập, chứ không thể nhập hai việc này vào một để cho rằng đó là tình tiết mới để tái thẩm. Vì vậy, đúng ra VKSND Tối cao phải kháng nghị giám đốc thẩm và TAND Tối cao phải xử giám đốc thẩm để minh oan và bồi thường cho ông Chấn… Tái thẩm là sai, cố tình lấp liếm cái sai của mình trước đó, dễ bề phủi trách nhiệm đã gây oan sai cho ông Chấn”.
Tuyên bố của TS Khiển lập tức thu hút chú ý của công luận, được nhiều chuyên gia pháp lý đồng tình. Liền đó, tại Quốc hội, lãnh đạo VKSND và TAND Tối cao “phản pháo”, bảo vệ quan điểm tái thẩm và tuyên bố các cá nhân, tổ chức gây oan sai nhất định sẽ phải chịu trách nhiệm, không có chuyện lấp liếm, bao che. Nếu có chuyện bức cung, dùng nhục hình, sẽ bị xử lý. Tái thẩm hay giám đốc thẩm thì cũng không thể né tránh trách nhiệm trong việc gây oan sai.
Tuy nhiên, nhiều tờ báo tiếp tục đăng tải ý kiến nhiều chuyên gia pháp lý cùng quan điểm với TS Khiển. Một số đại biểu Quốc hội cũng chất vấn lãnh đạo hai cơ quan trên về nội dung này. Dường như cũng nhận thấy có gì đó không ổn, lãnh đạo VKSND Tối cao biện bạch: kháng nghị tái thẩm của Viện đã được Hội đồng thẩm phán của TAND Tối cao chấp nhận (có thể hiểu rằng: nếu kháng nghị sai thì đã bị Tòa bác bỏ. Nếu thật sự tái thẩm là sai thì “bóng” đã sang “chân” tòa, tòa phải chịu trách nhiệm). Còn lãnh đạo TAND Tối cao thì thanh minh đó là quyết định của Hội đồng thẩm phán (có thể hiểu rằng: đó là quyết định của tập thể, chứ không phải cá nhân Chánh án. Tập thể thường sáng suốt hơn cá nhân. Và nếu sai, thì sai tập thể).
Chiều 21-11, chất vấn lãnh đạo các cơ quan hữu trách, Ths Lê Thị Nga – Phó Chủ nhiệm UB Tư pháp của Quốc hội lưu ý các cơ quan chức năng “phải hoàn toàn dựa trên những bằng chứng, sự thật khách quan. Nếu không đủ căn cứ kết luận ông Chấn phạm tội thì phải đình chỉ điều tra ngay cho ông Chấn, không phụ thuộc vào kết quả điều tra Lý Nguyễn Chung (hung thủ đầu thú). Tuyệt đối không được dùng nguyên tắc suy đoán có tội theo hướng nếu không chứng minh được Chung phạm tội thì chính là ông Chấn phạm tội”.
Trên báo Một thế giới, Ths – luật sư Trinh Minh Tân cũng khẳng định phải giám đốc thẩm trong trường hợp này mới đúng. Nếu chấp nhận tái thẩm, sẽ là “án lệ cực kỳ nguy hiểm”. Ông Tân cũng vừa gửi thư đến bà Nga, kiến nghị Quốc hội xem xét lại bản án tái thẩm vụ ông Chấn, cảnh báo: “ Nếu vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn không được xử lý đúng thì lòng tin của dân vào Quốc hội và hệ thống tư pháp sẽ giảm sút”. Thư ông Tân có đoạn: “Là một công dân, tôi cũng như mọi công dân khác rất thất vọng về nội dung trả lời chất vấn của các vị đứng đầu các cơ quan tư pháp…
Kính mong bà, với cương vị là Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình hãy chuyển những ý kiến của cử tri đển Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, yêu cầu Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có giải pháp tích cực nhằm chấn chỉnh, lành mạnh hóa các hoạt động tư pháp, trước mắt là vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn”.
*
Những quan điểm trái chiều trên đây làm không ít người “lùng bùng”. Một bên là lãnh đạo VKS và Tòa án Tối cao, một bên là các chuyên gia pháp lý, trong đó có cả người từng đứng đầu UB Pháp luật của Quốc hội và có người hiện đương chức Phó Chủ nhiệm UB Tư pháp của Quốc hội. Bên tám lạng, người nửa cân – bên nào đúng?
Theo thiển ý của người viết bài này, việc ông Chấn bị oan là điều không còn phải bàn cãi. Lẽ ra, TAND Tối cao phải lập tức tuyên bố chính thức ông Chấn bị oan sai, đình chỉ vụ án và điều tra đối với ông. Và do bản án phúc thẩm là Tòa Tối cao xét xử, nên Tòa Tối cao phải lập tức xin lỗi và khẩn trương bồi thường đầy đủ theo quy định của pháp luật (rồi sau đó phân định trách nhiệm liên đới của các cá nhân, tổ chức khác, sẽ yêu cầu chia sẻ trách nhiệm).
Vì trong vụ này, thực chất không có cái gọi là vụ án bà “Nguyễn Thị Hoan chết bất thường” (vì chết bình thường như già yếu, bệnh tật thì đương nhiên không đặt vấn đề hình sự. Nếu bà Hoan chết do trúng gió, hay tự tử vì buồn đời, không phải bị ai gây sức ép để phải đến mức tự tử, thì cũng không có yếu tố hình sự), mà từng có vụ án ông “Nguyễn Thanh Chấn giết người”. Đã xác định được ông Chấn không giết bà Hoan, cũng chưa thể kết luận ông Chấn vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp khác, thì tại sao không đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra đối với ông Chấn? Không cần phải “nhập” tình tiết Lý Nguyễn Chung tự thú và khai nhận, cùng các chứng cứ Cục Điều tra VKSND Tối cao vừa thu thập được vào vụ án “Nguyễn Thanh Chấn giết người” (mặc dù điều đó cho mọi người niềm tin nội tâm và trên thực tế cũng là chứng cứ khách quan). Chỉ cần căn cứ theo quy định hiện hành của pháp luật, rà soát lại quá trình điều tra, truy tố và xét xử ông Chấn, nhận thấy không đủ căn cứ (chứng cứ yếu, không khách quan, phản khoa học hình sự, bỏ sót nhiều dấu vết chứng cứ và tình tiết quan trọng, phớt lờ bằng chứng ngoại phạm của ông Chấn…), theo nguyên tắc suy đoán vô tội, phải lập tức tuyên bố ông Chấn vô tội, đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra đối với ông Chấn. Và theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, điều đó chỉ có thể thực hiện nếu bản án được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nếu xem xét lại vụ án ông Chấn theo thủ tục tái thẩm, thì chỉ sau khi có kết quả điều tra lại (thường rất lâu), mới có thể chính thức tuyên bố ông Chấn vô tội, xin lỗi và bồi thường.
Việc chưa đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra đối với ông Chấn, cho thấy dường như cơ quan chức năng xác định đây là vụ án bà “Nguyễn Thị Hoan chết bất thường” (chứ không phải vụ án “Nguyễn Thanh Chấn giết người” như đã truy tố), vì chưa chính thức xác định hung thủ, vụ án chưa thể khép lại (trừ trường hợp hung thủ đã chết, hay hết thời hiệu), ông Chấn vẫn là  nghi can (một số chuyên gia pháp lý cho rằng, căn cứ quy định hiện hành của luật pháp, một người chỉ có thể bị coi là có tội, khi đã bị bản án có hiệu lực pháp luật kết tội. Kết luận tái thẩm của TAND Tối cao vừa tuyên hủy 2 bản án sơ và phúc thẩm đối với ông Chấn, cũng có nghĩa là ông Chấn không bị coi là có tội).
*
Nhân đây cũng bàn đến chuyện điều tra chuyện bức cung, dùng nhục hình đối với ông Chấn. Trước tuyên bố của Chánh án TAND Tối cao rằng phải chứng minh, và việc chứng minh rất khó, công luận quan ngại vụ việc rồi sẽ chìm xuồng. Mối quan ngại ấy không phải “vu vơ”, nếu liên hệ với sự kiện mới đây về vụ án Dương Chí Dũng (nguyên Cục trưởng Hàng hải, cũng là bị can chủ chốt trong vụ án tham ô ở Vinalines) trốn đi nước ngoài. Một vụ án rúng động, công luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, thế mà Kết luận điều tra mới đây của Bộ Công an về vụ án trốn đi nước ngoài này, dù liệt kê tràng giang mọi chi tiết, diễn biến ngày giờ, từng bước di chuyển, từng phương tiện sử dụng, từng cá nhân liên quan, từ các tiểu tiết như người lo xe, người tháp tùng, kẻ mua vé máy bay… nhưng lại “thiếu” mất nội dung quan trọng nhất cần phải điều tra: ai đã để lộ, ai đã báo kế hoạch bắt cho ông Dũng? Ai cũng biết, với một vụ án đặc biệt như vụ này, rất ít người trong Ban chuyên án được biết kế hoạch bắt ông Dũng. Việc “khoanh vùng” xác định thủ phạm tiết lộ kế hoạch, dù trước khi bắt được ông Dũng ở Campuchia, không khó (trong đó có thủ pháp tra cứu cuộc gọi ở bưu điện). Vả lại, khi đã bắt được ông Dũng, việc “kéo cái lưỡi” ông này khai ra người báo tin cho ông dễ hơn ăn cháo. Dư luận cả nước đang đặc biệt quan tâm theo dõi, vậy mà người ta cũng cả gan cố tình “bỏ sót”! Ai cũng hiểu, việc ông Dũng được báo kế hoạch bắt, do đó bỏ trốn gây hậu quả khôn lường: nào là tai tiếng bê bối cho cơ quan điều tra của Bộ Công an, nào là tốn kém ngân sách cho chi phí truy bắt ông Dũng tận nước ngoài, và nhất là nếu không bắt được ông Dũng thì việc điều tra, xử lý vụ án tham ô “khủng” ở Vinalines sẽ khó khăn, phức tạp vô cùng. Các đồng phạm sẽ đổ tội cho kẻ “vắng mặt” là ông Dũng, làm sao sáng tỏ sự thật khách quan và thu hồi tiền tham ô?
Trở lại chuyện bức cung ông Chấn. Hiện tượng các nghi can chối tội không hiếm trong các vụ án. Nhưng với nhiều chứng cứ khác, phù hợp với logic vụ án, cơ quan tố tụng vẫn xác minh được sự thật và kết tội một cách chính xác, nếu họ muốn và quyết tâm làm. Hai vụ án “dùng nhục hình” ở Công an TP Nha Trang vừa qua cho thấy, khi báo chí mới phanh phui, các điều tra viên  Trần Bá Tuấn, Nguyễn Đình Quyết và Lang Thành Dũng đều chối tội trước cơ quan thanh tra của công an. Nhưng khi các điều tra viên Cục Điều tra VKS Tối cao vào cuộc, họ đều cúi đầu khai nhận. Vụ ông Chấn, chỉ cần các cấp hữu trách thực bụng muốn sáng tỏ sự thật.
*
Trước “mớ bùng nhùng” việc xử lý oan án Nguyễn Thanh Chấn, gỡ rối thế nào?
Người viết bài này và nhiều chuyên gia pháp lý cùng quan điểm với Ths - luật sư Trinh Minh Tân: với trách nhiệm của họ, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Ủy ban thường vụ của Quốc hội có đủ quyền năng xem xét lại quyết định tái thẩm của TAND Tối cao. Nếu cần, nên mời thêm một số chuyên gia pháp lý ngoài hai cơ quan trên cùng dự họp. Nếu thấy sai, nên yêu cầu TAND Tối cao hủy quyết định tái thẩm và chỉ đạo các cơ quan hữu trách thực hiện lại cho đúng. Nếu vụ án được xử lý theo hướng đó, chắc chắn sẽ cho kết quả đúng đắn và kịp thời, đáp ứng lòng mong mỏi của dân oan Nguyễn Thanh Chấn và gia đình, cũng là mong mỏi của công luận, tránh được “án lệ nguy hiểm” trước thực trạng còn rất nhiều vụ án oan sai đang chờ khắc phục.

V.V.T.
(Tác giả gửi bản  thảo đến BVB)
----------------

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Nghị trường sốc… những phát ngôn


“Bao nhiêu thỏ thành gấu?”, “Nghị quyết gối đầu giường”, “Chúng ta đang nói về chúng ta!”, “ĐBQH nói gì thì nói trừ tham nhũng”… Nghị trường năm nay ấn tượng vì tràn ngập những phát ngôn… ấn tượng.
Bao nhiêu con gấu bị tuyên là thỏ?
Ấn tượng nhất là câu hỏi chất vấn Chánh án TAND Tối cao của ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền “Liệu có bao nhiêu con gấu bị tuyên là thỏ?”.
Trong khi đó, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH Lê Thị Nga nói về “Suy đoán có tội”, đại kỵ của ngành tư pháp – với chánh án: “Nếu không đủ căn cứ kết luận ông Nguyễn Thanh Chấn phạm tội thì phải đình chỉ điều tra ngay, không phụ thuộc vào kết quả điều tra Lý Nguyễn Chung, tuyệt đối không được dùng nguyên tắc suy đoán có tội theo hướng không chứng minh được tên Chung phạm tội thì chính là ông Chấn”.
Điều đáng buồn, chánh án thậm chí còn không biết thế nào là “gấu bị tuyên là thỏ”!
Chúng ta đang nói về chúng ta!
“Quy hoạch thủy điện mang tính đặc thù… Đây là quy hoạch của cả nước chứ không riêng của Chính phủ, hay của Bộ Công Thương. Chúng ta đang nói về chúng ta, chứ không phải nói về Chính phủ hay về bộ ngành này, bộ ngành khác” – Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng phát biểu về quy hoạch thủy điện. Phát biểu này, sau đó ĐBQH là ông Ngô Văn Minh bình luận: “Chắc chắn là hầu hết đại biểu Quốc hội chúng ta không hiểu nổi. Chính tôi không hiểu nổi. Bộ trưởng nói “chúng ta nói về chúng ta” và nhắc đi nhắc lại mấy lần. Tôi không hiểu bộ trưởng nói gì”.
Nghị quyết “gối đầu giường”
Hai lần bị truy về thực trạng chạy chức, chạy quyền trong chính ngành nội vụ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình trả lời: “Do đây là vấn đề nhạy cảm, tế nhị, chúng tôi đã đọc kỹ các văn kiện của Đảng. Báo cáo chính trị tại ĐH Đảng XI đánh giá cán bộ là khâu yếu, tình trạng chạy chức, chạy quyền chưa được khắc phục… Chúng tôi coi đây là tài liệu gối đầu để nghiên cứu giải pháp khắc phục”!
Cơ quan điều tra Việt Namgiỏi nhất thế giới
“Cơ quan điều tra Việt Namđược coi là một trong những cơ quan giỏi nhất thế giới. Quá trình điều tra của Việt Namrất nhanh. Khóa trước chúng tôi làm việc 1 tuần với FBI, thấy án an ninh quốc gia, giết người cướp của của ta rất giỏi, vì công cuộc phòng chống tội phạm của ta dựa vào nhân dân” – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH Nguyễn Đình Quyền trả lời phỏng vấn xung quanh vụ án oan 10 năm ở Bắc Giang.
Ra ngõ gặp kẻ cướp
“Tôi băn khoăn khi đọc báo cáo của Chính phủ về tình hình tội phạm và thực tế, chưa bao giờ lòng dân bất an như lúc này. Cử tri nói ra ngõ là gặp kẻ cướp. Thậm chí chúng còn vào từng nhà, sờ từng người để lấy trộm, uy hiếp lột tài sản… Tôi giật mình khi nghe anh ấy nói hiện tượng của Dương Chí Dũng không phải là cá biệt” – phát biểu của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách của QH Bùi Đặng Dũng.
Sự đơn độc của ngành y tế…
“Sự đơn độc của ngành y tế trong việc giáo dục và nâng cao y đức sẽ không thể xây dựng một đội ngũ cán bộ thầy thuốc giỏi y thuật, sáng về y đức” – Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trả lời chất vấn của ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền.
Đối với vụ Cát Tường, bà cho biết đó là “sự mất nhân tính chứ không chỉ là đạo đức ngành y, nó đã gây đau đớn cho tất cả ngành y, tất cả cán bộ y tế đều không tin đó là sự thật. Chúng tôi cảm nhận sâu sắc là y đức là vấn đề rất lớn. Mong đại biểu và cử tri có cái nhìn khoan dung và toàn diện hơn, bởi hằng năm với khối lượng rất lớn các ca khám – chữa bệnh thì chắc chắn có tai biến…”.
Phát biểu gì cũng được, trừ tham nhũng!
“Khi có tham nhũng xảy ra, chính người đứng đầu lại chỉ đạo, biến báo, nhào nặn số liệu, làm phép thuật để tham nhũng chỉ còn là khuyết điểm hoặc sơ suất, chỉ xử lý nội bộ ở mức phê bình, nhắc nhở, hoặc chuyển công tác lên cấp cao hơn. Vì thế, nhiều người nói: Xung quanh chúng ta toàn đồng chí tốt, “bộ phận không nhỏ” là ở cơ quan khác, ngành khác, địa phương khác.
Có vị đại biểu tâm sự, mỗi lần ra họp QH, lãnh đạo địa phương căn dặn rất kỹ lưỡng, muốn phát biểu gì cũng được trừ phát biểu về tham nhũng, vì nếu phát biểu, khi còn cơ chế xin – cho, mình xin… ai cho… Thế là tiếng nói chống tham nhũng có nguy cơ bị triệt tiêu ngay trên diễn đàn QH” – ĐBQH Lê Như Tiến phát biểu về chống tham nhũng.
“Vinacho”, “Vinachia”…
“Vinashin đã là thảm họa. Nhưng nguồn gốc thảm họa là “Vinacho”, và bên cạnh là “Vinachia”. Chia như thế nào? Đấy là sự thỏa hiệp ngầm, thỏa hiệp đen để bòn rút cái tài sản nhà nước” – ĐBQH Dương Trung Quốc bình luận về Vinashin.
Mỗi phút QH họp tốn 2 triệu đồng
“Trong buổi tập huấn cách đây 1 năm, một chuyên gia cho biết 1 phút họp của các đại biểu tại hội trường là Nhà nước phải bỏ ra 2 triệu đồng. Như vậy, bình quân một ngày họp mất 1 tỉ đồng” – ĐBQH Trần Quốc Tuấn phát biểu trong phiên thảo luận về thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

(Theo Lao Động)
----------------

BỎ NƯỚC, ÔM CỦA, CHẠY !?

Tư Bản Trung Quốc Tháo Chạy

* HÀ THU
Nhà giàu Trung Quốc đổ tiền ra nước ngoài 
Còn nhà giàu Việt Namthì sao ?
Người giàu Trung Quốc hiện được ước tính có khoảng 658 tỷ USD tài sản ở nước ngoài. Các lĩnh vực ưa thích của họ là bất động sản, các bộ sưu tập, tác phẩm nghệ thuật hay kim cương.
Theo WealthInsight, người giàu Trung Quốc hiện có khoảng 658 tỷ USD tài sản ở nước ngoài. Còn hãng tư vấn Boston Consulting cho rằng con số này chỉ là 450 tỷ USD, nhưng sẽ tăng gấp đôi trong ba năm tới.
Nghiên cứu khác của Bain Consulting thì tiết lộ một nửa giới siêu giàu nước này (những người có tài sản từ 16 triệu USD trở lên) đang có của cải ở bên ngoài. CNBCnhận xét đây là một trong những cuộc dịch chuyển tài sản lớn và nhanh nhất hiện nay.
Không chỉ đổ tiền ra nước khác, ngày càng nhiều nhà giàu Trung Quốc cũng di cư sang theo. Nghiên cứu mới nhất của tạp chí Hurun và Bank of China cho thấy hơn một nửa triệu phú Trung Quốc đang cân nhắc hoặc chuẩn bị di cư ra nước ngoài.
Nhiều chuyên gia cho biết người giàu muốn bảo vệ tài sản, sức khỏe cho họ và gia đình. Họ cũng muốn có môi trường tốt hơn cho con cái, như trường học hàng đầu và không khí trong lành. Peter Joseph – thành viên Hiệp hội Đầu tư tại Mỹ cho biết: “Dù là vì lý do chính trị, học tập hay môi trường, khi kết hợp các yếu tố này với nhau, anh sẽ nhận ra với khối tài sản hiện tại, người giàu Trung Quốc muốn tìm kiếm cơ hội mới cũng là điều dễ hiểu”.
Một số người cho rằng đây là hệ quả tất yếu của việc giàu lên. Oliver Williams – nhà phân tích tại WealthInsight cho biết người giàu Trung Quốc để khoảng 13% tài sản tại nước ngoài. Tỷ lệ này vẫn thấp hơn trung bình toàn cầu 20% – 30%.
Tuy nhiên, phần lớn người Trung Quốc đưa tài sản ra bên ngoài theo cách bất hợp pháp hoặc nằm trong hệ thống kinh tế ngầm. Trung Quốc kiểm soát dòng vốn rất chặt. Công dân nước này thường không được phép mang quá 50.000 USD ra khỏi quốc gia. Vì thế, họ đã mang đi chính xác bao nhiêu tiền là số liệu rất khó nắm được.
Thời gian gần đây, người Trung Quốc đua nhau đầu tư ra nước ngoài. Trong 12 tháng, tính đến hết tháng 3, nhà giàu nước này đã mua tổng cộng hơn 8 tỷ USD bất động sản Mỹ, theo Hiệp hội bất động sản nước này. Zhang Xin – một trong những phụ nữ giàu nhất Trung Quốc, đồng thời là CEO hãng bất động sản SOHO China cũng mua một căn nhà ở Manhattan (Mỹ) với giá 26 triệu USD.
Nhà giàu nước này còn đổ tiền vào các bộ sưu tầm và tác phẩm nghệ thuật. Wang Jianlin, người giàu nhất Trung Quốc, đồng thời là nhà sáng lập hãng bất động sản Dalian Wanda tháng trước đã mua một bức tranh của Picasso trong phiên đấu giá của Christie's với 28 triệu USD. Theo các nhà đấu giá và phòng triển lãm, khách Trung Quốc luôn rất mạnh tay trong các sự kiện như thế này.
Kim cương và rượu vang cũng không phải ngoại lệ. Các nhà buôn cho biết hơn nửa số kim cương được Christie's đấu giá ngày hôm qua thuộc về người mua Trung Quốc. Hôm 23/11, thùng rượu vang đắt nhất thế giới với các chai Romanée-Conti năm 1978 cũng được bán tại Hong Kong (Trung Quốc) với giá 476.000 USD cho một người Trung Quốc.
H.T

------------------

Vì sao an ninh giữ ông Phạm Chí Dũng?


Một blogger tại Sài Gòn vừa bị chính quyền bắt câu lưu sau khi cócác cuộc gặp gỡ với giới bất đồng chính kiến ở Hà Nội.
Hôm 29/11/2013, trong lúc tới thăm nhà của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến, ông Phạm Chí Dũng, một blogger đã đang cộng tác với nhiều đài báo ở trong nước và nước ngoài đã bị an ninh đưa về một đồn công an, câu lưu nhiều giờ.
Trao đổi với BBC hôm 29/11/2013, ngay khi vừa đặt chân trở lại Sài Gòn sau khi bị câu lưu 6 giờ đồng hồ trong một đồn cảnh sát ở Huyện Từ Liêm, blogger Phạm Chí Dũng nói:
"Nội dung làm việc xoay quanh các vấn đề tôi ra Hà Nội gặp gỡ những ai, nhằm mục đích gì và có thể họ cũng muốn nhấn nhá một chút về việc liệu tổ chức nào có thể hình thành hay không,
"Chẳng hạn như là tôi có tham gia vào một tổ chức hội đoàn như là Hội Anh em Dân chủ của Luật sư Nguyễn Văn Đài hay là Diễn đàn Dân sự v.v..."
Ông Dũng nói ông đã bị nhà cầm quyền ngăn chặn không cho tiếp xúc với ông Nguyễn Thanh Giang, khi dự kiến gặp mặt nhà bất đồng chính kiến tại nhà riêng của Tiến sỹ Giang.
Nhà báo tự do cho rằng chính quyền cần xem lại việc họ 'phong tỏa' Tiến sỹ Giang và cản trở nhà bất đồng chính kiến tiếp xúc với khách khứa.
Ông Dũng nói: "Ngăn chặn quyền tự do đi lại như thế này nó lộ liễu và nó phô diễn quá, tôi cho là không nên một chút nào."
Blogger cũng cho biết hôm thứ Năm, ông và Luật sư Nguyễn Văn Đài đã bị ngăn cản không cho tiếp xúc với một quan chức ngoại giao của Đại sứ Quán Pháp tại Hà Nội.
Trước đó, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang nói với BBC lúc khoảng 9 giờ sáng, ông Dũng đang tới thăm nhà riêng của ông, đi cùng có người em trai của ông Lê Quốc Quân là ông Lê Quốc Quyết, thì bị lực lượng an ninh bao vây dày đặc khu vực nhà ông Giang, đưa về đồn công an khu vực.
"Ông Phạm Chí Dũng trước đó có tới thăm một số vị khác là các ông Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân v.v...
"Tôi có gọi điện cho ông ấy khi ông ấy đang bị câu lưu. Ông Dũng nói với tôi là ông ấy đã phải làm việc với an ninh và trong một tình trạng rất mệt mỏi," Tiến sỹ Giang nói với BBC.
'Bất bình'
Cũng cùng ngày, trước đo, ông Lê Quốc Quyết xác nhận với BBC ông và ông Phạm Chí Dũng đã bị "mời" về đồn Công an Trung Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
Tại đây, theo lời của ông Quyết, ông Phạm Chí Dũng đã bị an ninh câu lưu tới khoảng 3 giờ chiều và sau đó được áp tải ra sân bay Nội Bài để trở lại Sài Gòn.
"Tôi và anh Dũng được đưa tới đồn công an Trung Mỗ, nhưng tại đây những người làm việc với chúng tôi giới thiệu họ là an ninh của Thủ Đô,
"Họ nói là mời chúng tôi làm việc, nhưng tôi đề nghị họ cần có giấy mời từ trước, sau khi thấy không có cơ sở làm việc với họ, tôi đã không tham dự và trở ra, chỉ còn anh Dũng ở lại đó."
Theo lời ông Quân, ông Phạm Chí Dũng ra Hà Nội đợt này đã tiếp xúc với gia đình của anh trai ông, Luật sư Lê Quốc Quân, người đang bị giam giữ vì tội 'trốn thuế'.
"Anh Dũng có gặp chị dâu tôi và hỏi thăm về sức khỏe của gia đình và anh Quân, các cuộc gặp gỡ chỉ mang tính chất bạn bè, thân thiện."
Ông Nguyễn Thanh Giang trong khi đó cho BBC hay ông rất 'bất bình' vì việc chính quyền đã cử một lực lượng bao vây nhà ông và ngăn chặn không để cho ông Dũng và các khách khứa vào nhà ông.
"Tôi có mời một số bạn bè tới để nghe ông Dũng nói chuyện về thời sự, bản thân tôi là một nhà khoa học, từng đóng góp, cống hiến nhiều, họ không thể đổi xử với tôi và các khách khứa tới nhà tôi như vậy, chúng tôi đều là những người đàng hoàng,
"Tôi không phải là một tội phạm và chúng tôi không làm điều gì khuất tất cả," tiến sỹ địa vật lý, người đồng thời là một nhà bất đồng nói.
(Theo BBC)
------------------