Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

CHUYỆN GÃ CHĂN NGỰA BLOG VĂN CHƯƠNG (Phần II)

Lan man chuyện Quê choa thuở mưa không thuận gió chẳng hòa


Xin đọc Phần I ở Quê choa blog. hoăc ở KênhKiablog


Suốt tháng nay bà con luôn hỏi bọ: bao giờ thì nhà bọ mới mở khoá để bà con vào chơi? Nhiều tin nhắn, email và các cuộc gặp gỡ ngoài đời đã hỏi bọ câu đó. Thực tình bọ cũng không biết nói thế nào...đành phải khóa còm đợi ngày mưa thuận gió hoà.” (Trích LỜI TRẦN TÌNH CỦA BỌ)


1. Trong Hợp Tác Xã nơi lão Nập ở, không chỉ có trại ngựa Quê choa mà còn nhiều trang trại khác nuôi đủ thứ từ gia súc trâu, bò, chó, lợn đến gia cầm gà, vịt, ngan, ngỗng; đến cả những động vật nguồn gốc hoang dã gọi là gia…dã khỉ, rắn, nai, hùm. Đến nỗi, HTX quyết định phải thành lập một hiệp hội của những người chăn nuôi gọi tắt là Hội Súc Dã Cầm có tên giao dịch tiếng Anh là SDC Association do một kẻ vừa giàu vừa có thế lực là lão chủ trại trâu làm chủ tịch Hội.


Hội viên của Hội Súc Dã Cầm gồm đầy đủ các chủ trang trại trong vùng. Ngay khi có thông báo về việc thành lập Hội, các chủ trại trong vùng đã ùn ùn kéo đến nộp đơn đề đạt nguyện vọng thiết tha xin được gia nhập Hội.


Chỉ trừ bọ Nập, chủ trang trại ngựa đua Quê choa là kiên quyết không gia nhập Súc Dã Cầm. Lão chủ tịch Hội đã năm lần bảy lượt gửi giấy mời nhưng bọ Nập dứt khoát từ chối. Tuy cáu tiết lắm nhưng lão chủ trại trâu cũng xuống nước đích thân đến Quê choa chiêu dụ bọ Nập.


Sau một hồi thao thao về tương lai sáng lạn của Súc Dã Cầm, lão chỉ ra những rủi ro kèm theo cả ngụ ý đe dọa nếu như trang trại Quê choa không chịu vào khuôn phép. Cuối cùng lão xa xôi rằng sẽ để cho bọ Nập thay cái chân thư kí Hội mà lão chủ trại lợn vốn...ngu như lợn đang giữ. Kết thúc bài thuyết giảng hùng hồn ấy chủ tịch Hội Súc Dã Cầm tự tin hỏi: “Ý ông thế nào, xuôi rồi chứ?”. Câu trả lời của lão chủ trại ngựa Quê choa có lẽ không thể ngắn hơn: “Ẻ quẹt! Choa nỏ vô!"


2. Năm ấy, trời hành một trận dịch không chỉ lở mồm long móng mà long lở từ đầu đến chân lây lan khủng khiếp trong các trang trại chăn nuôi. Gia súc gia cầm cùng các loại động vật nuôi thi nhau lăn đùng ra chết như ngả rạ. Nhiều trang trại thưa vắng hẳn, chỉ còn lơ thơ vài con vật ngơ ngác chả hiểu bạn bè bỏ đi mô hết.


Điều kỳ lạ là đám ngựa đua của lão Nập trang trại Quê choa lại chẳng hề hấn gì, ngược lại chúng vẫn cứ khỏe mạnh như...voi. Hàng ngày, từ vươn thở cho đến tận tiếng thơ, từng dòng người nói cười hỉ hả vẫn kìn kìn đổ về Quê choa cho ngựa ăn. Các chủ trại khác vừa lo sốt vó vừa căm tức Quê choa vô cùng.


Tình hình khẩn cấp đến nỗi HTX quyết định phải cứu Hội Súc Dã Cầm bằng cách tổ chức một hội nghị mời các chuyên gia giỏi bàn biện pháp chống lại nạn dịch mà gia súc gia cầm gia dã đang mắc phải gọi tắt là Hội Nghị Mắc Dịch. Lão chủ tịch Hội và đồng bọn mừng lắm, hạ quyết tâm nhân dịp này phải tìm cách trị bọ Nập và Quê choa cho bỏ tức. Một cuộc họp kín bàn cách triệt hạ Quê choa giữa lão chủ tịch Hội Súc Dã Cầm với đám lâu la diễn ra vô cùng bí mật tại trại trâu.


Lão chủ tịch và đám tay chân không thể ngờ được rằng toàn bộ cuộc họp ma quỷ này lai bị một điệp viên của Quê choa ghi lại không sót một chi tiết nhỏ nào. Điệp viên này mang bí danh Đ.M178 do cố vấn an ninh của Quê choa là CH30 cài vào SDC từ lâu.


3. Có lẽ phải mở một cái ngoặc đơn để nói về hai nhân vật đặc biệt này. Trang trại Quê choa có một cố vấn an ninh cực kì lợi hại. Gã vốn là một vị tướng quân đội đã nghỉ hưu. Bà con xứ Quê choa rất kính nể gã và trìu mến gọi gã là Cụ Chánh. Nhưng Cụ Chánh đáng kính của chúng ta lại bị hen kinh niên nên gã chết danh là Chánh Hen. Vì vậy để dễ bề hoạt động bọ Nập đặt cho lão biệt danh CH30. Con số 30 thêm vào đây chả có nghĩa gì, chỉ để cho nó giống…X30 phá lưới thôi. Chánh Tín với Chánh Hen chưa biết mèo nào cắn mĩu nào, he he.


Thế còn Đ.M178 là ai? Đó là một gã chăn trâu cho chính chủ trại trâu. Điều đáng nói gã này chiếm được lòng tin gần như tuyệt đối của chủ trại trâu do những kinh nghiệm và thành tích chăn trâu tuyệt vời của gã. Chả ai biết tên thật của gã là gì, chỉ biết rằng gã hành nghề chăn trâu và mang luôn cái tên cúng cơm Mục Đồng từ bé. Khắp vùng ai cũng biết tiếng về tài nghệ chăn trâu của gã. Đàn trâu nào mà vào tay gã thì đều béo tốt phương phi và không hề suy suyển một sợi lông. Nghe đâu kiếp trước gã từng chăn...tê giác, nên chuyện chăn trâu đối với gã nhỏ như con...nghé.


Thực ra thì lúc đầu bọ Nập đặt cho gã biệt danh MĐ178, MĐ là tên còn 178 là tháng sinh năm đẻ của hắn. Nhưng được hai hôm thì hắn tìm bọ Nập mếu máo: “Bọ đặt cho con tên khác đi hu hu, bọn trẻ chăn trâu chúng nó gọi con là Móc Đít ”. Bọ Nập suy nghĩ một hồi rồi quyết định: “Thế thì ta đổi lại là MD178 vậy, cho nó giống tây. Người tây không dùng chữ Đ, chú ưng bụng chưa?”. Mục Đồng sướng rân người, cười tít mắt: “Dạ! Giang hồ đồn bọ văn hay chữ tốt quả không ngoa. Con đội ơn bọ, he he he” .


Nhưng rồi cũng được đúng hai hôm thì hắn lại tìm đến Quê choa nước mắt lưng tròng. “Chiện gì nữa đây?”, bọ Nập hỏi. “Dạ, thưa bọ bây giờ thì chúng nó lại gọi con là Mò Dái, hu hu”. Bọ Nập bóp trán suy nghĩ hung lắm, cuối cùng chém gió: “Thôi được rồi, đã thế ta đổi chổ cho chữ Đ ra trước. Từ nay chú là ĐM178, nghe vừa ngầu lại vừa mang hơi hưởng...chưởi thề, hề hề”


Quả nhiên ổn. Không thấy hắn kêu ca than vãn chi nữa, ĐM178! Đáp lại công ơn trời biển của bọ Nập, điệp viên ĐM178 hoạt động rất hăng, cung cấp cho Quê choa biết bao là tin tình báo có giá trị mà đỉnh cao chính là cái thẻ nhớ 14GB ghi lại bằng điện thoại di động đời mới toàn bộ cuộc họp ma quỷ nói trên. Để có được nó, khỏi phải nói ĐM178 đã phải dũng cảm mưu trí, hy sinh gian khổ đến thế nào. Cố vấn an ninh CH30 đã đề đạt với chủ trại Quê choa thưởng cho điệp viên Đ.M178 hẳn một tuần xin nghỉ chăn trâu đi...ngắm sóng ở sông Nhật Lệ.


4. Tối hôm ấy, tại phòng media của trang trại Quê choa, cố vấn an ninh CH30 cùng bọ Nập dán mắt vào màn hình nghiên cứu đối tượng rất chăm chú. Tóm tắt diễn biến cuộc họp quái quỷ ấy là thế này. Sau bài mở đầu dài lê thê như trâu đái của lão chủ trại trâu kể về công trạng của lão và thành tích to lớn của Hội Súc Dã Cầm trong việc góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương, lão quay sang kể tội bọ Nập và trang trại Quê choa là phần tử chậm tiến, lại còn dám coi thường cả Hội Súc Dã Cầm. Cuối cùng, lão đề nghị mọi người hiến kế để dạy cho Quê choa một bài học nhớ đời.


Chủ trại rắn xung phong trước: “Em đề nghị chúng ta thuê một chiếc xe tải nhân lúc lão Nập ra đường húc cho hắn một nhát là xong.” Chủ tọa - lão chủ trại trâu gạt đi: “Không được! Mày đúng là ác còn hơn rắn độc! Thằng này rất ít khi ra đường, nếu có ra thì chỉ đi bộ trên lề. Chả nhẽ cho xe tải leo lên lề à? Với lại như thế thì nặng tay quá, ta chỉ định cho nó một bài học thôi mà.”


Đến lượt lão chủ trại bò: “Hay là ta thuê một bọn côn đồ xông vào trại Quê choa lôi lão Nập ra dần cho một trận? Rồi sau đó...”. Chưa hết câu lão chủ trại trâu đã chặn ngang: "Ngu như bò! Phải có lí gì thì mới xông vào nhà người ta chứ, nó không vi phạm luật, ngựa nó chuyên đua lề phải cơ mà. Với lại, cái ngữ chân vẽ chân xóa như hắn mà thuê cả bọn côn đồ ra tay thì chả đáng mặt anh hào. Chưa kể trang trại của lão luôn có cả trăm người túc trực toàn thứ dữ bảo vệ lão Nập đến cùng. Lạng quạng coi chừng ăn đòn gánh của họ. Tìm cách khác đi.”


Một cái đít đỏ nhoi lên, thì ra là lão chủ trại khỉ. Lão chậm rãi: “Thưa đại ca, tại sao ta không lợi dụng cái đám người hàng ngày vẫn vào cho ngựa lão Nập ăn cỏ? Ta cử người trà trộn vào mang theo ít cỏ quốc cấm, vài bó cần sa chẳng hạn rồi báo công an đến gô cổ lão lại nhập kho một thời gian cho lão sáng mắt ra. Người vào trang trại lão đông thế làm sao mà lão kiểm soát hết được.”


Cả Hội khen rối rít hay! hay! Ý kiến hay! Lão chủ trại trâu cũng khen hay! hay! Trò khỉ của mày được lắm, cứ y án thế mà mần.


Đèn bật sáng, lão Nập mặt tái nhợt, mồ hôi túa ra như tắm thều thào: “Mần răng chừ eng hè?” Cố vấn CH30 mặt lạnh như tiền chẳng biểu lộ một cảm xúc gì, rõ là bản lĩnh cao cường của một cao thủ. Lão lặng lẽ chiêu một ngụm nước tranh thủ uống viên thuốc chống hen rồi thủng thẳng: “Chiện nhỏ như con...nhộng ấy mà, bọ cứ yên tâm đi ngủ đi, choa đã có cách”.


5. Sáng hôm sau, như thường lệ, mới tinh mơ là hàng đoàn người đã lại tay liềm tay hái, kiũ kịt gánh, trĩu nặng lòng Quê choa thẳng tiến. Khí thế của họ bị chặn đứng bởi hai cánh cổng sắt của trang trại Quê choa lạnh lùng đóng kín cùng một bảng thông báo rõ to: “Đang có nạn dịch long lở toàn thân lây lan rất kinh. Bọ tạm thời khóa cổng. Mong bà con thông cảm”. Xong om!


Thiên hạ ra sức gõ cửa, gửi tin nhắn, email, gọi điện thoại...đủ kiểu nhưng hai cánh cổng vẫn không thèm nhúc nhích. Gọi chán không được họ ngồi bệt trước cổng quay ra bàn tán. Quái lạ lâu nay đâu có nghe lão Nập nói gì chuyện dịch dọt đâu nhỉ? Qua lỗ khóa thậm chí vẫn thấy ngựa nhà lão khỏe mạnh cả cơ mà? Hay là tối qua lão đi nhậu về bị ngộ gió không tiếp khách được? Hay là lão đã bán trang trại cho người khác, bỏ nghề nuôi ngựa đua? Hay là...hay là...Thôi thì đủ kiểu đoán già đoán non. Nhiều mụ nạ dòng mau nước mắt ôm đòn gánh khóc hu hu. Có kẻ chép miệng động viên: “Mà chắc là đúng đấy, các mụ nín đi. Không lẽ bọ Nập lại nói dối chúng ta. Chả phải HTX ta sắp tổ chức Hội Nghị Mắc Dịch đấy sao. Thôi bà con ta cứ yên tâm mà về. Đợi xong Hội Nghị, tình hình long lở qua đi chắc bọ Nập lại mở cổng trại thôi.”


Mọi người nghe thấy có lí lại lau mồ hôi lục tục ra về, kiũ kịt gánh trĩu nặng lòng. Tuy thế nhưng ngày nào cũng có cả đoàn người tụ tập trước trang trại, mắt lom lom nhìn cánh cánh cổng lạnh lùng mà lòng tràn đầy hi vọng. Nhiều kẻ nhòm qua lỗ khóa ngắm đàn ngựa cho đỡ nhớ rồi cắp nón ra về. Một ngày như mọi ngày.


6. Lại nói chuyện lão Nập. Sau khi đóng cổng trang trại, lão thấy nhẹ nhõm hẳn. Khỏi phải ngay ngáy lo canh chừng cái “cộng đồng cho ngựa ăn” lúc nào cũng hừng hực như đám kiến lửa. Lão mà không canh kỹ thì không chừng cả ngựa lẫn lão đều cháy ra tro bởi đàn kiến lửa ấy.


Ăn ngon ngủ yên được đúng hai hôm, đến hôm thứ ba thì lão bắt đầu thấy thiêu thiếu, nhơ nhớ một cái gì đó vốn dĩ rất thân quen. Cảm giác giống như một người nghiện thuốc lâu năm nay phải cai, “nhớ gì như nhớ thuốc lào...”, nhạt miệng làm sao, ray rứt làm sao.


Mà còn hơn cả nhớ thuốc lào ấy chứ, cái “cộng đồng cho ngựa ăn” tuy đầy hỉ nộ ái ố là thế mà đáng yêu làm sao, thân thiết làm sao. Lão đâm nhớ cái tiếng lao xao của những lọn cỏ comments tuy có làm gã mệt đấy nhưng cũng giúp lão bớt đi được cái cảm giác trống trải hàng ngày giữa bốn bức tường vô cảm. Tuyên bố đóng cửa trại cũng đồng nghĩa với việc từ nay lão đơn thương độc mã với bầy ngựa của mình. Thực ra thì lão thừa sức “Cày chuyện xưa, bừa chuyện nay” một mình mà chả cần ai giúp, nhưng “...làm một mình cực thân”, các cụ đã chẳng bảo thế là gì.


Sau sự cố bọ Nập đóng cửa trang trại, cư dân của Quê choa chạy tứ tán. Họ thừa dịp tạt vào thăm chuồng trại của nhau, những chú ngựa còm của họ bỗng dưng được no cỏ bất ngờ. Có kẻ tức tốc dựng chuồng tình nghĩa rồi “đẻ” vào đấy những chú ngựa con con xinh xinh phần lớn để làm cảnh chứ chả để đua điếc gì. Nhưng cũng nhờ thế mà bà con Quê choa có chổ đi về tám với nhau cho nhẹ bớt gánh, dịu bớt lòng.


Thế mới thấy, bác Thích Ca có nhọc công khuyên mọi người dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ những dính mắc ở đời mà sống cho bình an tự tại thì cũng còn lâu chúng sinh của ngài mới dẹp bỏ được cái bản năng bầy đàn vốn có. Thưa Phật, giữa cõi đời này, chúng con vẫn còn thấy cô đơn lắm, thấy vẫn còn cần nhau lắm. Một khi cả đến “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” thì cũng xin Đức Thế Tôn thông cảm cho việc chúng con chưa thể trở thành những đệ tử thấu suốt giáo lý của ngài, ít nhất là trong kiếp này, hu hu.


Ngay cả đến lão Nập, sau khi đóng cửa trại, buồn tình lão cũng tay liềm tay hái nhấc đít đi cắt cỏ cho ngựa hàng xóm ăn.Vốn có tài lại đào hoa lão có khối ả sồn sồn say mê từ thời Quê choa trẩy hội. Các ả tranh giành nhau chí chóe về chuyện ai là người yêu gã hơn cả. Không những thế các ả còn mang các bộ phận của lão ra bình luận từ mắt, tay, miệng...như cách người ta đi chọn lợn giống vậy, he he. Có lẽ lão Nập cũng tiếc các mụ nạ dòng này lắm nên rất chăm chỉ xách quần đi rảo chuồng ngựa các mụ, hòng chờ khi mưa thuận gió hòa còn tranh thủ canh tác. Có hôm mới nhọ mặt người, mụ Bạch - một fan cuồng nhiệt của Quê choa-vừa mở cửa dắt ngựa ra đã thấy lão sấn vào đòi bóc tem mụ, he he.


Nói gì thì nói, ai từng dan díu với Quê choa đều cảm nhận một thời đằm thắm yêu thương biết bao. Người có công gieo cái nhịp cầu thân ái ấy còn là ai khác ngoài lão Nập, ông chủ đáng mến của trang trại Quê choa. Chả biết lão Nập có tâm tư gì không chứ đối với fan Quê choa cái tiếng comments vẫn hoài lao xao trong lòng mọi người. Như lời trần tình của lão, bà con cũng mong đợi cái ngày lại được dịp lũ lượt tay liềm tay hái ca lên khúc khải hoàn nhong nhong ngựa ông đã về lắm.


Cứ giả dụ cái ngày ấy không đến nữa thì với một thời Quê choa mưa thuận gió hòa, ếch nhái à uôm, cây trái đâm chồi nảy nụ, chim hót líu lo, cá tôm sung sướng, bà con cũng cám ơn bọ Nập lắm lắm.


Cái thuận hòa của mưa gió diễn ra khi nào, kéo dài được bao lâu thì còn tùy...trời, nhưng cái thuận hòa của lòng người thì luôn hằn in dấu ấn và hãy còn ngân vang rất lâu, có khi đến tận cuối đời, bọ hè.


(Kênh kịa blog)

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Quà tết và hai chữ liêm sỉ…

Những năm gần đây, không, hơn chục năm gần đây, cứ gần tết lại rộ lên chuyện quà cáp biếu xén của quan chức trong bộ máy công quyền Nhà nước. Không ai không bức xúc về đại nạn này và mong muốn dẹp bỏ nó nhưng tóm lại vẫn đâu vào đấy, quà tết ngày càng nhiều ngày càng to. Theo báo Dân Trí trong một cuộc thăm dò ở Hà Nội, “Có đến 80% số người làm việc trong các cơ quan, công ty được hỏi đều cho rằng khoản chi tiêu lớn nhất trong gia đình họ là dành cho việc quà cáp, biếu xén.” Con số này cho thấy quà tết trở thành một cái lệ không thể thiếu, như là món cống nộp bắt buộc đầu năm dù không muốn cũng không thể. Đó là một bi kịch xã hội, một bi kịch lớn.


            Dễ thấy tệ đút lót, trò móc ngoặc, thói nịnh bợ không lúc nào thực thi dễ dàng như trong những ngày lễ tết. Tại đây người ta dễ dàng cống nộp và phi tang đồ cống nộp nhờ núp bóng nhân nghĩa uống nước nhớ nguồn, đạo lý ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Rất khó bắt tận tay day tận mặt loại này, càng không thể cấm. Gần đây cả chủ tịch lẫn bí thư Hà Nội đều lên tiếng kêu gọi công chức và công sở không chúc tết, không gửi quà  tết đến cấp trên. “ Đừng biếu quà Tết ai, đừng để ai biếu mình”, ông Phạm Quang Nghị bí thư Hà Nội đã nói vậy. Tiếc thay lời kêu gọi chân thành và khẩn thiết kia cũng sẽ rơi vào vô vọng mà thôi, bởi vì điều đó vừa phi thực tế vừa phi nhân văn.


            Làm sao có thể ngăn cấm người ta đến nhà nhau để chúc tết một khi tết là những ngày để thăm hỏi, để chúc tụng, để quà cáp. Làm ăn đầu tắt mặt tối quanh năm, vô lẽ đến ngày tết ai ở nhà nấy, thế thì còn đâu tình thân ái, đạo nhân nghĩa. Và giả sử có cấm được thì “tết” là những ngày nào? Đối với Nhà nước là 8 ngày còn đối với dân Việt là trọn vẹn cả tháng chạp và tháng giêng. Kinh nghiệm cho hay những tay đại bợm tham nhũng chẳng ai dại giở trò đút lót trong dịp tết là những ngày có đông đúc người thăm hỏi, qua lại.


            Bộ tài chính vừa đưa ra dự thảo qui chế về quà cáp tặng biếu, trong đó có ghi rõ: Trong trường hợp không thể từ chối nhận, hoặc người thân đã nhận quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn thì đối tượng phải công khai báo cáo với thủ trưởng cơ quan và nộp lại quà tặng...Quy chế này còn nói rõ chỉ được phép nhận quà tặng có giá trị dưới 500.000 đồng(!?). Báo SGGP đã đặt câu hỏi rất có lý rằng thế nào là “ không thể chối từ” và làm sao có thể biết món quà gói kín kia có trị giá trên 500.000 đồng để mà chối từ? Khéo không  khi qui chế này ban hành, chẳng những không ngăn cản được các hành vi tham nhũng mà còn tạo các lỗ hổng pháp lý cho các trò đút lót lộng hành.


            Cho nên việc ngăn cản, cấm đoán việc chúc tết đưa quà tết xem ra chỉ là “phép thắng lợi tinh thần”. Một khi tham nhũng đang là quốc nạn diễn ra quanh năm không chỉ ba ngày tết, diễn ra một cách trắng trợn và thô bạo, không cần núp bóng nhân nghĩa thì làm sao có thể dẹp được thói nịnh bợ, trò móc ngoặc, tệ đút lót mượn danh chúc tết và mừng tết? Chỉ còn một cách là trông chờ liêm sỉ của mỗi một con người. Có liêm sỉ người ta sẽ biết thế nào là  chúc tết, thế nào là trò nịnh bợ để tự mình chọn lựa đi hay không đi, đến hay không đến trong một cuộc du xuân. Có liêm sỉ người ta cũng sẽ biết thế nào là quà tết, thế nào trò đút lót, đồ cống nộp để tự mình quyết định trao hay không trao, nhận hay không nhận trong việc trao nhau một món quà.


            Nhưng liệu liêm sĩ có còn không? Nếu còn, nó có đủ sức ngăn chặn lòng tham hay không? Điều này mỗi một chúng ta tự hỏi, tự trả lời và tự tìm kiếm lấy chứ cũng không thể trông chờ vào Nhà nước.


     Bài đọc thêm:

CƠ QUAN AI CŨNG SỢ "ĐI TẾT SẾP"


Chuẩn bị Tết Tân Mão, báo đài đưa một thông tin thú vị: ngày 4-1, tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2011 của thành phố Hà Nội, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị yêu cầu đội ngũ cán bộ các cấp của thành phố phải thực hiện nghiêm chủ trương không biếu tặng quà cho lãnh đạo trong dịp tết.


Ông Nghị nói: “Tất cả chúng ta ngồi đây đều là lãnh đạo hết, vì thế đừng ai đi biếu quà cho người khác và cũng đừng để ai đến biếu quà cho mình. Hãy dành sự quan tâm tới các gia đình chính sách, các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn để mọi người, mọi nhà đều được vui đón tết”…


Có thể nói “thông điệp” không biếu ai và kiên quyết không nhận quà cấp dưới “đi tết” của vị lãnh đạo cao nhất Hà Nội được dư luận rất đồng tình, nhất là đội ngũ nhân viên các cấp.


Thực tế cho thấy như ở cơ quan tôi, việc “đi tết sếp” thật lòng ai cũng sợ. Hằng năm cứ đến “tháng củ mật” là cánh nhân viên chúng tôi lại lo ngay ngáy việc “đi tết sếp”. Các anh chị trung niên thì thào hỏi nhau: “Năm nay đi tết sếp thế nào? Khoảng bao nhiêu thì vừa phải phép, vừa đỡ tốn kém?”…


Thấy các anh chị chuẩn bị “đi tết sếp”, mấy nhân viên trẻ mới về cơ quan lo toát mồ hôi. Mà đâu phải chỉ có một sếp thôi!


Chẳng riêng cơ quan tôi, dường như nhân viên ở đâu cũng ngán “đi tết sếp”. Nhưng ngán mấy cũng chẳng thể không đi vì đã thành thông lệ rồi; nhiều đồng nghiệp đi, mình thôi sao đặng. Khổ nỗi tiền thưởng tết ít, thu nhập quanh năm cũng ba cọc ba đồng, phải dè sẻn mới đủ chi dùng.


Tết đến. Đùng một cái phải lo bao nhiêu thứ, từ mua quần áo cho con; về quê lễ tết tổ tiên, họ hàng hai bên gia đình; chỉnh trang cửa nhà và mua đồ tiếp khách; rồi “đi tết” thầy cô giáo, lại còn khoản “mừng tuổi” các cụ già, lì xì con trẻ…


“Đi tết sếp” chẳng biết bao nhiêu là vừa. Biếu “phong bì” không thì vừa chẳng có điều kiện “dày dặn”, vừa sợ bị sếp mắng mình quá “cơ chế” mà thiếu vế tình cảm. Biếu ít, không bằng đồng nghiệp thì ngại, lo sếp phật ý, gây khó dễ cho mình trong công tác, nhất là khi đề bạt, bổ nhiệm. Mà quà biếu sếp sang một tí thì có khi cả gia đình… “mất tết”!


Đó là chưa kể còn lo những thứ mình biếu liệu gia đình sếp đã có chưa, rồi sếp ông, sếp bà có thích không? Nhỡ biếu gì “phạm húy nhà sếp” thì chết chứ chẳng đùa! Thực tế có không ít gia đình lục đục, vợ chồng trách cứ nhau vì chuyện này.


So đo tính toán chán, lại mất vài buổi tại siêu thị mới mua được quà biếu sếp. Mấy tối giáp tết, mọi việc gia đình phải tạm gác để đến nhà sếp trước. Mệt nhất là gặp lúc gia đình sếp vắng nhà, khi ấy các “thuộc hạ” tha hồ chờ đợi...


“Đi tết sếp” khổ thế nhưng chẳng biết các sếp có hiểu tình cảnh của những người phải “đi tết” mình không? Nếu thấu, hãy cảm thông độ lượng, dũng cảm có động thái rõ ràng, tuyên bố công khai trước toàn thể cơ quan như vị bí thư Thành ủy Hà Nội để cấp dưới đỡ khổ.


Mặt nữa, mỗi nhân viên chúng ta cũng cần dũng cảm bỏ cái lệ “đi tết sếp” bằng phong bao, vật chất, mà ngày xuân chỉ gửi lời chúc tết chân thành. Văn minh được như thế có khi cả chúng ta và sếp đều thấy thanh thản.


CÁT BỤI( Tuổi trẻ)


      

 

 

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Nhớ thời sinh viên-1. Nhà quê ra tỉnh

Hôm qua mình cùng Tâm Chánh đi nhậu ở nhà  Võ Đắc Danh. Nhân nói chuyện các nhà văn xưa đa phần đều không có bằng đại học, Tâm Chánh hỏi rất chân thành,  nói anh Lập có đi học đại học không. Tự nhiên nhớ cái thời sinh viên, cái thời khốn khó nhưng vui cực. Ngẫm lại chẳng có thời nào vui như thời này.


            Mình và thằng Viết ( Nguyễn Xô Viết) có giấy báo trúng tuyển Bách Khoa Hà Nội cùng một ngày. Mình nhớ khi đó mình đang đi nhặt phân bò ngoài đồng, con Vị hàng xóm tất tả chạy ra đồng hai tay vẫy vẫy, nói vơ anh Lập nời, anh trúng Đại học rồi. Mình vất cả gánh phân bò chạy về nhà. Con Vị chạy theo mình vừa thở vừa hỏi, nói Bách Khoa là răng, là trăm khoa à, anh phải học hết cả trăm khoa à. Mình chẳng biết trả lời sao, nào có biết Bách Khoa là gì, thấy bạn bè tranh nhau thi vào Bách Khoa mình cũng thi, đứa nào cũng đăng kí Khoa vô tuyến điện mình cũng đăng kí, cũng chả biết vô tuyến điện là cái gì.


            Chiều đó mạ mình chạy ra chợ mua 2 đồng mực tươi, loại mực cơm nhỏ bằng ngón tay cái. Món này mình rất thích, bây giờ vẫn thích, đây là món duy nhất mình ăn không biết chán. Suốt bữa cơm bà cứ gắp hết con này đến con khác cho mình, nói ăn đi con, ra Hà Nội không có mực tươi mô con. Rồi bà khóc tủi, chắc là bà cảm phận nghèo mà khóc, con cái đỗ vào đại học mà không thể làm mâm cỗ để ăn mừng. Ba mình đi vay hàng xóm được ba chục đồng cho mình, anh chị em bà con kẻ cho ba đồng người cho năm đồng, cộng lại đúng 108 đồng, đó là món tiền duy nhất mình nhận được từ gia đình. Từ đó cho đến khi ra trường mình đều tự kiếm sống lấy, không phải xin gia đình nữa, vì nếu có hỏi xin thì ba mình cũng chỉ có một cách duy nhất là chạy đi vay mượn.


Nhà thằng Viết làm thợ may, khá hơn nhà mình nhiều, nghĩa là không bao giờ bị đứt bữa. Ba mạ nó còn mổ gà làm mâm cỗ ăn mừng, cho nó 200 đồng, bà con tới mừng thêm 100 đồng là 300 đồng. Thấy nó khoe có ba trăm đồng, mình lác mắt. Thằng Viết ra Hà Nội năm đầu chẳng biết tiêu gì còn gửi tiền về cho nhà, có lẽ cả nước chẳng có đứa nào đi học lại gửi tiền về nhà như nó. Đa phần chưa hết tháng đã tiêu sạch bách, viết thư về nhà chữ nghĩa du dương lắm, con thương con nhớ con yêu… Quan trọng nhất vẫn là  tái bút với nhân tiện, à quên… là cái đoạn xin tiền, hi hi.


Buồn cười bà con đến thăm chẳng có ai dặn dò phấn đấu, tu dưỡng, học giỏi như thời này, toàn dặn dò đề phòng bị ăn cắp, bị trấn lột. Tâm lý nhà quê cứ ra phố là sợ, nhất là phố Hà Nội lại càng sợ. Chẳng ai ở Hà Nội cả, thậm chí có người chẳng biết Hà Nội ở hướng nào, nhưng kể chuyện trộm cắp ở Hà Nội cứ vanh vách, nói oa chà, Hà Nội trộm cắp như rươi, một mét vuông tám thằng ăn cắp. Ai nấy nghe thế thì hết hồn. Có một nhúm tiền mà mạ mình may cái túi nhỏ phía trong lưng quần, găm ba bốn cái kim băng, dặn đi dặn lại cách thức lấy tiền, giữ tiền cứ y như đang mang theo bảo bối.


 Hai thằng đi nhờ xe tải ra Vinh, từ đó nhảy lên tàu chợ ra Hà Nội. Tàu chợ chật như nêm, hôi rình, ghế chẳng có, phải trải nilon giữa sàn tàu mà ngồi, thế mà hai thằng sướng rêm. Suốt đêm hai thằng nằm áp tai xuống sàn tàu  nghe tàu chạy say sưa. Thủa bé đến lúc đó có biết tàu hoả là gì đâu, xem phim, mà chỉ phim Liên Xô mới có, thấy nó dài loằng ngoằng lao sầm sập thật đã quá trời, nghĩ bụng tàu bè máy bay chỉ là thứ để ngắm chứ không bao giờ được hưởng, chẳng ngờ có ngày được ngồi tàu, thật sướng củ tỉ. Tiếng xình xịch của tàu nghe cũng đã, tiếng còi tàu thỉnh thoảng hú lên, nghe sao mà sang trọng thế không biết, hi hi.


Ấn tượng đầu tiên bước chân đến Hà Nội là người và xe nườm nượp, đông hơn cả ở quê khi có hội hè. Thằng Viết cứ túm áo mình nhìn ra đường phố ngơ ngơ  ngác ngác, nói oa chà họ đi mô rứa hè, họ đi mô rứa hè. Suốt cả ngày hôm đó hai thằng nghĩ mãi không ra người ta ra đường làm gì mà đông đến thế. Đến khi đến trường mới choáng, cả mấy ngàn chiếc xe đạp xếp đầy bãi giữ xe. Ở quê vào phiên chợ, nhiều lắm cũng chỉ có vài chục chiếc, còn ở đây cả mấy ngàn chiếc, lại toàn xe sang, xe Phượng hoàng, xe  Favorite, xe Diamond… đủ cả. Hai đứa há hốc mồm trước sự giàu sang của học trò Hà Nội.


Lần đầu tiên biết thế nào là cầu thang, là lan can. Đứng ở tầng 4 nhà C1 nhìn xuống sân trường thấy ngờm ngợp. Không dám tựa lan can, sợ chẳng may lan can gãy một phát ngã lộn cổ xuống đất thì tan xương nát thịt. Vào toilet khu giảng đường mới kinh hoàng, gạch men láng coóng, vòi hoa sen I nôx  sáng choang, nhìn cứ ngất ngây. Thằng Viết lần đầu vào toilet đi ngoài, đi xong nó chạy ra mắt trợn mồm há, nói ua chầu chầu lập ơi, hố xí sạch đẹp vô cùng, ngồi ăn cơm trong nớ cũng được. Không bằng mình, toilet ở phòng thí nghiệm có xí bệt không phải xí ngồi, có lẽ thời này chỉ có phòng thí nghiệm mới có xí bệt thôi chứ chẳng nơi nào có. Mình đau bụng nhảy vào, thấy cái xí bệt cứ ngơ ra, không biết đặt hai chân vào đâu, loay hoay mãi không biết  làm thế nào trong khi đau bụng quăn quại. Mình chạy ra gọi thằng Lân, nó vào toilet thấy xí bệt thì ôm bụng cười rũ. Mình tức, nói mày chỉ mau lên không tao tương ra cả quần bây giờ. Nó bảo tụt  quần ra đặt đít vào, thế thôi, ngu! Bây giờ nhớ lại cứ cười mãi, đúng là ngu thật.


Mình nhớ lần đầu nhập phòng nội trú vừa lúc mất điện, anh Tước bảo với mình, nói Lập Lập, cậu kiểm tra cái cầu chì xem thế nào. Mình cứ đứng trơ ra, đực mặt như ngỗng ỉa. Ở quê có điện đâu mà biết cầu chì, học vật lý điểm 9 điểm 10 đỏ choét, bảo vẽ kí hiệu cầu chì thì nửa giây là xong ngay nhưng cái cầu chì tròn méo thế nào thì chịu. Mang tiếng sinh viên khoa vô tuyến điện mà cái cầu chì lại không biết, đến nhục. Nhục nhất vào văn phòng khoa, có điện thoại mình nhấc lên, bên kia đầu dây nói cho tôi gặp cô Dung, mình dạ rồi đặt ống nghe vào tổ hợp. Cô Dung chạy lại đã thấy điện thoại đặt vào tổ hợp mất rồi. Cô nhìn mình như nhìn người ngoài hành tinh, nói em sinh viên năm mấy rồi mà điện thoại không biết dùng. Xấu hổ chết được.


Đám học trò ở quê ra như mình với thằng Viết ngày mới đến trường đều đứng ngồi khép nép, nhìn đám học trò Hà Nội đi lại ngênh ngang nói cười tự nhiên như chỗ không người thì phục lắm, sợ nữa. Đứa nào mình cũng gọi anh xưng em, không dám ho he gì với chúng nó cả. Nghe chúng nó  xổ ra mấy câu tiếng Nga lại càng sợ , lo ngay ngáy không biết mình có học hành theo kịp chúng nó không. Con gái Hà Nội thì mê li, rất ngưỡng mộ. Hầu hết đều biết ăn diện, biết đánh phấn bôi son, các nàng lướt qua khi nào cũng nghe thơm nức. Lại gọi nhau tíu tít, nói ấy ơi, gì ơi, mình ơi… nghe ngọt lịm sườn. Nghe các nàng nói, thấy điệu bộ các nàng, cái cách ăn mặc của các nàng tự nhiên thấy mình quê một cục.


Mình với thằng Viết mới cố tẩy rửa quê mùa đi cho ra vẻ người Hà Nội. Đầu tiên là tập tọng nói giọng Bắc, giọng Bắc chả nói được cứ cố vặn lưỡi ra nói cái giọng Bác ngọng, nói chời ôi, xao thế nhẩy, xung xướng nắm thay… chết cười. Nói thế nào cũng lòi ra cái ông bọ, thấy cái nhà đẹp thì đua nhau nói ôi giời nhà đẹp nhỉ, hè? Đấy kìa, nhà đầu kia, tề! Nhỉ, hè!


Mình với thằng Viết đi qua quán bia hơi, thấy thanh niên ngồi vắt chân chữ ngũ rung đùi bên vại bia, nhấm nháp lạc rang, thỉnh thoảng nhấp ngụm bia rất là tay chơi. Thằng Viết hăng hái sắp hàng mua hai vại bia làm tay chơi. Hai thằng cũng vắt chân chữ ngũ cũng rung đùi ra vẻ đây dân phố. Nhưng khi nhấp vào một ngụm bia, hai thằng lập tức bụm mồm, mặt nhăn như bị, nói đ. Mạ, như nước đái bò. Không dám nhổ toẹt, sợ bị chê là quê, cố nuốt cho trôi.  Bỏ hai vại bia không uống thì sợ bị chê là quê, hai thằng bèn mua bánh ngọt nhai đầy mồm rồi rót bia vào mồm, cố nuốt trôi hai vại nước đái bò, hi hi đến khổ.


Thằng Viết bây giờ làm giám đốc sở điện, vừa được điều đi chỉ huy một dự án điện lực Miền Trung rất to, chả biết tiền bạc có kiếm được không nhưng rượu bia thì bảo đảm bét nhè. Không biết nó có nhớ hai vại nước đái bò thủa mới từ nhà quê ra tỉnh nữa không, hi hi.


(Còn nữa)

Nguyễn Ngu Ngơ ấy không phải là Nguyễn Ngu Ngơ

Tối nay tui vô trang nhà bác Trần Nhương, thấy có bài Thư Ngõ gửi ông Nguyễn Trương Tô, tác giả kí tên là Nguyễn Ngu Ngơ tui hơi bị giật mình. Nguyễn Ngu Ngơ là bút danh của tui có từ năm 1998 khi tui cộng tác với báo Tiền Phong, nay đã bỏ. Hiện cái tên ni được dùng cho nhân vật trong mục " Cười hay mếu" của báo điện tử Bee.net.vn. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người tưởng tui vẫn dùng bút danh ni. Cái bút danh Nguyễn Ngu Ngơ tui không đăng kí bản quyền nên người khác có lấy dùng thì tui cũng chịu. Nhưng mà phiền quá, dùng bút danh trùng nhau chẳng ra làm sao cả.  Tui đã gọi điện cho bác Trần Nhương " đính chính" giùm. May bài viết không có vấn đề gì nên tui cũng mừng, nếu không hoạ có thể đổ xuống đầu tui không biết lúc nào. Gần đây có một vài người lấy nick bọ Lập, Quang Lập đi còm lung tung một số nơi, khiến nhiều người tưởng là tui. Có một số còm khá nhạy cảm, rất phiền.  Vừa rồi tui bị Nguyễn Thị Thu Huệ gọi điện hỏi anh mắng em trên blog à? Tui quá ngạc nhiên nói làm gì có. Huệ nói có một trang blog tên là Quê choa viết bài mắng em. Tui tìm không ra trang blog ni nhưng lại tìm được một blog Quê choa ở Facebook, may trang này không có bài vở gì. Chời ơi là chời, khổ thân tui. Tình hình này nếu phát triển sẽ gay go, tui không biết làm chi, chỉ biết la làng thôi. Tui chỉ có một blog ở wordpress này thôi, không còn blog nào cả, cái tên Nguyễn Ngu Ngơ cũng chỉ là tên nhân vật ở Bee.net.vn thôi chứ tui không dùng bất kì nơi nào. Vậy xin khẩn báo.


Dưới đây là bài viết của ông Nguyễn Ngu Ngơ nào đó chứ không phải là tui


THƯ NGỎ GỬI ÔNG NGUYỄN TRƯỜNG TÔ


Kính gửi ông Nguyễn Trường Tô


Tôi vốn là kẻ xa lạ với ông nhưng lại rất gần vì cùng họ, họ Nguyễn. Cũng bởi cái vụ lùm xùm mua dâm trẻ em mà cái bọn đểu giả vu oan giá họa cho ông bị giới truyền thông làm rùm beng nên tôi mới được biết phương danh quý tính của ông. Bây giờ thì sóng gió tạm lắng rồi, tôi mới có dịp suy ngẫm về sự việc đã qua và viết thư cho ông


Thưa ông!


Tôi với ông cùng họ Nguyễn. Mà ông biết đấy, bây giờ nhà nước cho thành lập hội HỌ, cho nên cả nước ồn ào sôi sục thành lập hội họ. Nào là hội họ Băm, hội họ Cướp, họ Đá VV…Hội họ Nguyễn của ta to lắm ông nhỉ. Hơn nữa lại có nhiều sếp to bự cỡ trung ương, cấp trung ương, oai lắm. Dẫu không cùng thuyền thì cũng cùng hội, ta phải có trách nhiệm bảo vệ lẫn nhau chứ nhỉ. Dẫu thuyền bị lật úp thì HỘI cánh ta vẫn còn.


Vụ việc vừa qua xảy đến với ông suy cho cùng là cái sự ghen ăn tức ở, đấu đá tranh quyền cướp vị trong nội bộ đảng, chính quyền tỉnh Hà Giang. Chúng nó đã lừa ông vào bẫy. Biết ông xưa nay máu gái vô độ mà ép bọn trẻ con vào làm mồi nhử. Và ông đã bị sập bẫy, bị một đòn chí mạng. Đến nay thì ông đã bị truất khỏi cái ghế chủ tịch tỉnh, truất khỏi ghế ủy viên trung ương, cút ra khỏi đảng. Song không phải vì thế mà ông không còn quyền kiện lại cái bọn đầu trâu mặt ngựa đã hãm hại ông


Bọn gắp lửa bỏ tay người phải được đem ra ánh sáng. Bây giờ đã hai năm rõ mười ông là người vô tội, hà cớ gì ông phải bị cách chức, khai trừ đảng. Cơ quan điều tra không đủ bằng chứng kết tội thì phải xin lỗi ông, bồi thường danh dự ông trên báo chí trước công chúng bàn dân thiên hạ. Hơn nữa, chính phủ phải phục chức cho ông, phải kỉ kuật xử phạt bọn điều tra, thanh tra, làm sai lệch hồ sơ gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với ông, làm mất an ninh chính trị, mất trật tự xã hội. Đấy là tội vu cáo đối với cán bộ cấp cao thuộc trung ương đảng quản lí.


Việc này không ù xọe được, hoặc ông có tội, hoặc cơ quan điều tra có tội, chứ không thể đánh bùn sang ao hòa cả làng được. Sao lại có chuyện vô lí thế được. Tôi nghĩ nếu ông không làm cho ra môn ra khoai thì sự việc rồi sẽ chìm vào im lặng và kẻ bị oan sai là ông sẽ bị cả nước khinh thường coi rẻ mà bọn đầu trâu mặt ngựa thấp hèn kia sẽ còn có dịp tác oai tác quái gắp lửa bỏ tay người đối với nhiều đối tượng khác. Đảng và nhà nước, hệ thống phap luật sẽ bị mất lòng tin hơn nữa


Qua vụ việc của ông tôi thấy cơ cấu tổ chức của ta có nhiều chỗ hay ho. Đã là chủ tịch tỉnh thì phải có chân trong ủy viên trung ương. Chính vì yếu tố lãnh đạo toàn diện này mà nhiều người ngộ nhận, chủ quan, cho mình là tất cả nên tác oai tác quái đưa ra những quyết định mang tính độc đoán chuyên quyền, gây phẫn nộ trong đám thuộc hạ và dân chúng. Liệu ông có nằm trong số những người đó không?


Năm mới 2011 đến rồi, tôi xin chúc ông mạnh khỏe, kiên quyết đấu tranh đến cùng làm rõ trắng đen để được sớm minh oan, làm rạng danh cho cái hội họ Nguyễn cánh ta.


Kính thư


Nguyễn Ngu Ngơ


( Cóp từ website Trần Nhương)

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

PHÚ NHỚ BLOG "QUÊ CHOA"

Thuận Nghĩa có bài phú về Quê Choa rất vui. Nhân dịp năm mới bọ post lên hầu bà con. Bài phú phê bình bọ rất nặng nề, hi hi, nhưng mà vui. Cảm ơn Thuận Nghĩa nhiều. Nhân đây bọ cũng xin nói thêm, blog Quê choa từ nay sẽ không là chiếu rượu nữa, nghĩa là không có chuyện đàm đạo vui vẻ như xưa nữa. Rất đáng tiếc nhưng đành vậy, chẳng biết làm thế nào


Nhớ ngày năm ngoái


Sướng thay!!!


 


Còm sĩ khắp nơi về hội ngộ


Bạn văn muôn nẻo đến nâng ly


 


Quê choa hừng hực chí tang bồng câu câu ý ý bay trời


Chiếu rượu ngất ngư mộng hồ thỉ tứ tứ lời lời dậy đất


 


Này Dân Choa, Cu Đỉn, Mèo Hen, Bò Sát, Hồng Chương... đó đó


Nọ Hoa Cải, Bạch Dương, Thanh Chung, Như Mai, Em Đẹp ...đây đây


 


Nụ cười xuân nở toét tòe toe vui nổ banh thiên địa....khơ khơ khơ...


Lời chúc tết tràn nhòe nhoét nhé sướng ran đáy nhân tình...ạk ạk ạk...


 


Ngẫm lại tết năm nay


Buồn quá!!!


 


Bạn bè phiêu bạt mười phương


Bằng hữu tác tan mấy cõi


 


Chiếu rượu như chùa Bà Đanh heo hắt hoang tàn thấy lạnh


Quê choa tựa báo Tiếp Thị lợn cợn lắt nhắt nghe khô


 


Topic không cho sẻ chia khác chi rọ miệng


Bài viết chẳng được cùng cảm như thể che tai


Âu là thế thời loạn lạc, nào đâu thoải mái bán táo buôn dưa


 


Đành vốn nhân tình điêu toa, phải thế an toàn buông câu viết chữ


 


Biết là vậy nhưng lòng còn chưa đoạn nghĩa tương giao


Ngầm hiểu thế rằng ý đã dứt tình hạnh ngộ


 


Bao bận ghé vào, thui thủi bước chân ra tâm lấn cấn mấy hồi còn được


Mấy phen dòm tới, ngán ngao dồn gót thối hồn xôn xao bao thế thắng thua


 


Thèm câu văn xưa, chợt rưng rưng tủi tủi hờn hờn


Nhớ tứ thơ cũ, thôi ủ ủ ôm ôm tiếc tiếc


 


Giờ đây ta một đường đi, câu đối mới vui xuân cũng đành mồ côi mồ cút


Mai ấy bạn mấy nẻo về, lời nguyện cầu chúc tết thôi thế gửi gió trao mây


 


Chén rượu ngày nao giờ chỉ còn "độc ẩm" thê thảm thế là cùng


Câu chào bữa nọ nay là vậy "côi cô" bẻ bàng bao kết cuộc


 


Cũng đành ngậm đắng mà vui


Nên vậy nuốt hờn để nhớ


 


Ngưng chiếu rượu Quê Choa, coi như lần dứt mối tình cố quận


Mở trang thơ Bằng Hữu, biết đó phen cầm ân nghĩa tân hương


 


Mấy lời cuối năm nói sao cho rõ


Bao ý đầu xuân nghĩ vậy cho vuông


 


Duyên còn là Có


Duyên tận thì Không


 


Âu đó cũng là đạo trời nhân nhân thế thế


Vọng động mà chi


Lấn cấn mà chi


 


31.12.10


Đồ Gàn cẩn bút


( Thuận Nghĩa's blog)

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

Chỉ cần có một tấm lòng

Câu chuyện anh Trần Hữu Lưu và Đội qui tập 584 Quảng Trị lặn lội dọc các cánh rừng Trường Sơn để tìm kiếm hài cốt liệt sĩ là điểm sáng ngời trong năm 2010, cũng là điểm sáng ngời trong suốt 15 năm qua ( 1996-2010). Trong suốt 15 năm ấy, anh và đồng đội đã đi không biết bao nhiêu cánh rừng, lội qua không biết bao nhiêu suối khe, vượt qua không biết bao nhiêu đèo cao dốc đứng… để tìm được 2.268 hài cốt liệt sĩ. Không một ai, kể cả những người có tâm hồn lạnh lẽo, lại không cảm phục trước việc làm cao cả ấy.


            Thời buổi mọi thứ đều có thể qui ra tiền, nếu biết người ta sẵn sàng bỏ ra hàng trăm triệu để có được hài cốt người thân thì sẽ biết sự hy sinh của Trần Hữu Lưu và đồng đội to lớn nhường nào. Ai cũng biết anh và Đội qui tập 584 của anh đã được Nhà nước phong danh hiệu anh hùng nhưng ít biết nỗi cay đắng của anh khi cả hai đứa con anh đều nhiễm chất độc da cam, anh con trai 25 tuổi thiểu năng trí nhớ, cô con gái 20 tuổi thì bị liệt. Ít ai biết khi anh Lưu ngược xuôi kiếm tìm đồng đội thì vợ anh phải túc trực ở nhà để chăm sóc hai đứa con tật nguyền, không làm được gì để kiếm thêm. Cuộc sống nhà anh đã khốn khó lại càng thêm khốn khó. Thật quá cảm động về sự hy sinh vô bờ bến của một người lính.


            Rất nhiều người có thể không hiểu nổi tại sao ngày nay còn có những  người suốt mười lăm năm trời lao vao gian khó nghìn trùng để làm những việc không có thêm được một xu nào, giống như chị Năm Nghĩa ngày xưa đã dành trọn nửa cuộc đời còn lại của mình để đi vào những cánh rừng già kiếm tìm đồng đội, người ta đã gọi chị là “Chị Năm Khùng”, trong khi gia đình còn nhiều nỗi cam go? Anh Lưu và đồng đội chỉ nghĩ đơn giản: “Biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội của mình đã hi sinh, cống hiến trọn đời cho quê hương, đất nước, nay chưa được quy tập về nghĩa trang, về với gia đình. Biết bao nhiều người bố, người mẹ đau đáu chờ con trong  mỏi mòn khắc khoải..." và “ Mình không làm việc này thì ai làm?” Hoá ra để làm những việc mà người ta gọi là “khùng” kia, người ta chỉ cần có một tấm lòng. Hoá ra chỉ cần một tấm lòng người ta không những làm được những việc thiện như anh Lưu, chị Năm Nghĩa và đồng đội đã làm mà có thể tránh được vô vàn những việc bất nghĩa vô lương khác.


Chỉ cần một tấm lòng sẽ không có chuyện cô giáo mắng chửi học sinh như hàng tôm hàng cá, bảo mẫu coi con trẻ như chó mèo. Sẽ không có hiệu trưởng mua dâm nữ sinh, doanh nhân đấu giá ảo từ thiện ảo, kẻ giết người chỉ vì “nhìn mặt dễ ghét” v.v. Chỉ cần có một tấm lòng sẽ không có chuyện đập nát thành nhà Mạc xây lên “cái lò gạch”, in tờ rơi tuyên truyền ATGT thành những tờ rơi khiêu dâm thô tục. Sẽ không có gạo cứu đói cho người nghèo để quên đến mốc xanh, ruộng nông dân ngang nhiên biến thành những dự án lậu và người thi hành công vụ ngang nhiên đánh đập sĩ nhục người dân.v.v.


Cách đây nửa thế kỉ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hát lên: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Đúng như vậy, chỉ cần có một tấm lòng ta sẽ có bao nhiêu việc nghĩa ở đời như Trần Hữu Lưu và đồng đội đã làm; cuộc sống sẽ mất đi những bất công và oan trái; bạo tàn giả trá theo đó cũng mất theo. Nhưng liệu có được bao nhiêu tấm lòng như vậy, khi mà triết lý vinh thân phì gia được coi như lẽ sống người đương thời?

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

Chuyện trai gái thời bao cấp

 Bây giờ trai gái yêu đương ôm vai hót cổ thoải mái, hôn hít ngay giữa đường giữa chợ cũng không ai lấy đó làm điều. Ngay việc quan hệ tình dục cũng không còn là vấn đề gì nếu là trai chưa vợ gái chưa chồng. Ngày xưa thì khiếp lắm, cấm kị đủ đường. Là nói cái thời bao cấp thôi, chứ trước đó nữa lại càng kinh khủng khiếp. Cái thời mà trai gái yêu nhau chỉ được đánh mắt đưa mày, muốn  cầm tay cầm chân, ôm vai hót cổ phải vào nơi kín đáo, nếu để cho người khác nhìn thấy thì bị coi là yêu đương không đứng đắn. Chàng đạp xe đạp chở nàng trên đường, nàng chỉ có việc hai tay nhét đùi ngồi yên như khúc gỗ. Cô nào bạo lắm cũng chỉ nắm hờ ngang thắt lưng, chẳng có cô nào ôm eo áp ngực chàng như các cô gái thời nay. Những chiều mùa hạ, trai gái  hẹn hò nhau ra bờ đê ngồi, chỗ này một cặp, chỗ kia một cặp rủ rỉ tâm tình. Nàng nhổ cỏ chàng bẻ ngón tay, nói chuyện chán thì về, chẳng dám làm gì.


 Hôn hít thời này bị liệt vào hành vì giao cấu, rất xấu xa. Đừng nói ngày xưa, ngay bây giờ vẫn còn quan niệm như thế. Năm ngoái Nguyễn Quang Thiều chả kêu ầm lên về dự luật cấm hôn nơi công cộng, may có ông Thiều kêu, báo chí làm ầm ầm người ta mới dẹp đi, nếu không thế nào luật cấm ấy cũng lọt vào top ten những luật cấm hài hước.


 Thời bao cấp những chuyện cụ thể chẳng có luật lệ gì, đa phần làm theo chỉ thị khi thì bằng văn bản khi thì chỉ thị mồm. Đôi khi một xếp nào đó ngồi nhậu chợt nhớ chuyện gì đó nhắc khẽ một câu, thế là thành chỉ thị. Chuyện trai gái yêu đương các xếp cũng nhắc nhở nhẹ nhàng thôi nhưng xuống cơ sở thành ra chuyện rất nghiêm trọng. Chuyện hôn hít cũng vậy, không chỉ cấm nơi công cộng mà cấm khắp nơi, sách báo phim ảnh tuyệt cấm kị. Nếp sống thời này cho đó là hành vi thiếu đứng đắn, không lịch sự. Cầm tay nhau cũng đã quá đáng lắm rồi, hi hi.


Mình nhớ xem phim, khi nào trai gái nhìn nhau đắm đuối, “mắt trong mắt tay trong tay âu yếm”, thì cả rạp lặng ngắt, nín thở chờ. Nhưng rồi đến khi môi này sắp dính môi kia là màn hình tối mò. Người chiếu phim đã che ống kính. Anh naò ngứa mồm la làng, nói thả tay ra cho người ta xem, lập tức có năm bảy người khác mắng cho là vô văn hoá. Sau đó thế nào cũng có người báo về cơ quan, đoàn thế, thế nào anh ta cũng bị “ cạo” cho một mẻ. Suốt cả năm đó chuyện anh ta luôn được đem ra làm ví dụ một khi các xếp nói về nếp sống mới, nói có đồng chí còn dám yêu cầu chiếu phim thả tay ra để xem cảnh hôn hít, rất đáng xấu hổ. Một câu đó thôi xếp có thể đem ra “ ví dụ” cả trăm lần. Khốn khổ thế đó.


Thành thử cái gì cũng lén lút, đọc sách xem phim ảnh cũng phải lén lút. Nơi mình học là trường cấp 3 Bắc Quảng trạch, một trường tiên tiến, nhiều năm liền là lá cờ đầu giáo dục tỉnh Quảng Bình, những năm 1969- 1970 bỗng đâu xuất hiện cuốn sách Bí mật thành Paris. Truyện chẳng có gì, chỉ kể chuyện anh chàng cắt móng tay yêu đương mấy mụ nạ dòng giàu sang phú quí. Mấy màn yêu đương chỉ tả sơ sịa, thế mà học trò đua nhau bí mật chép tay lại cả cuốn, bí mật truyền tay nhau thì thà thì thầm vô cùng nghiêm trọng. Nhà trường ra sức truy bắt, may không bắt được ai, nếu thầy cô túm được cuốn sách trong cặp đứa nào thì đứa đó bị đuổi học là cái chắc.


Anh Thắng, anh trai của mình, hồi đó nổi lên như một thanh niên xuất sắc, mới lớp 10 đã được kết nạp Đảng, làm đến chức phó bí thư đoàn trường, uy danh lừng lẫy. Anh yêu chị L.A đẹp nhất trường. Nói thật từ bé đến giờ mình chưa thấy ai đẹp như chị L.A. Mình đang học lớp 7, mới bé tí nhưng toàn sưu tầm mấy chuyện “ bậy bạ” lén lút đọc say sưa. Đa phần sách đó đều là sách chép tay, chị L.A cho mượn. Một hôm anh Thắng tóm cổ được mình đang nằm tùm hum trùm chăn đọc cuốn  Bí mật thành Paris. Anh hỏi sách của ai, mình khai của chị L.A cho mượn. Tưởng khai thế thì anh Thắng sẽ cho qua, ai dè anh tịt thu luôn cuốn sách. Anh không đưa chị L.A anh ra chi đoàn kiểm điểm nhưng gọi chị L.A ra riêng “xạc” cho một trận và cắt đứt chị luôn. Hi hi ngu thế không biết.


Sau này chị L.A yêu anh H rất đẹp trai. Đêm trăng hai người rủ nhau ra bãi cát chơi, hai người nằm hai góc, lăn qua lăn lại, ném cát đùa nhau, chỉ thế thôi chứ chẳng có gì bậy bạ cả. Chẳng ngờ ông nông dân xách quần  ra bãi cát đi ngoài, bắt được hai người, liền báo cho nhà trường. Từ đó anh H và chị L.A được Nhà trường mô tả như cặp học sinh sa đoạ, đàng điếm nhất trong lịch sử của Nhà trường. Kinh. Hi hi.


Trai gái muốn yêu nhau đàng hoàng thì phải báo cáo tổ chức, gia đình muốn báo thì báo chả báo thì thôi nhưng tổ chức thì phải báo cáo, nếu không thì bị coi là yêu đương bất chính. Dù yêu đương đàng hoàng, cả tổ chức lẫn gia đình đều biết vẫn hết sức ý tứ, vì biết đằng sau lưng mình luôn có người theo dõi. Ngồi nói chuyện bình thường thì không sao, chẳng có ai sau lưng mình hết. Máu lên ngồi dịch lại sát nhau cũng không sao, máu nữa mà quàng vài nàng kéo nàng vào lòng là lập tức có tiếng đằng hắng phía sau cảnh cáo. Nếu không biết hoặc bất chấp cái đằng hắng cảnh cáo kia, cứ ẩn nàng nằm xuống vệ cỏ rồi hôn hít sờ soạng thì chỉ một phút sau đã thấy ba bốn người đứng vây quanh, nói yêu cầu hai người về uỷ ban giải quyết.


Hồi đầu mình không hiểu ở đâu ra lực lượng này. Chính quyền không hề tổ chức, đoàn thể cũng không. Trừ một vài người có “ lối sống bê tha”, “ chậm tiến” họ cần phải theo dõi để “giúp đỡ”, còn lại chẳng ai hơi sức đâu đi theo dõi hết lượt trai gái yêu nhau. Về sau mới biết ở đâu cũng có những người rất nhiệt tình làm việc này, họ tự thấy trách nhiệm cuả mình ở khắp mọi nơi, đặc biệt việc giữ gìn nếp sống mới thì họ nhiệt tình lắm, hăng hái lắm.


Mình có ông thầy dạy thể dục cấp 3 rất hăng say làm chuyện này. Nhà trường không hề giao nhiệm vụ cho thầy, tự thầy tập hợp một số học sinh lập thành một đội gọi là Đội săn bắt hủ hoá. Tối nào cũng vậy, thầy dắt cả đội đi đi bò bò vào rừng trâm bầu, cồn hoang, bãi cát, bờ đê… săn lùng các “cặp đối tượng”. Từ năm 1965 đến 1975, trong vòng mười năm hàng trăm “ cặp đối tượng” bị Đội săn bắt hủ hoá của thầy hoặc tóm gọn hoặc đuổi chạy bán sống bán chết.


Có lần mình rủ thằng Thuỷ, con cậu ruột của mình, lừa Đội Săn bắt hủ hoá cái chơi. Trong nhà mình có mấy đứa con gái ở trọ, mình lấy áo quần chúng nó mặc vào, lấy giẻ độn ngực rồi đeo cooc sê vào, đội nói lên để che cái đầu trọc. Tối đó trăng sáng, mình khoác tay thằng Thuỷ đi ra rặng trâm bầu. Vừa vào rặng trâm bầu đã thấy vài cái bóng bám theo sau lưng. Mình và thằng Thuỷ cứ đi sâu vào rặng trâm bầu, rồi chui vào bụi rậm. Hai đứa ôm nhau vờ rên rỉ giọng Bắc, nói anh ơi xướng xướng, em ơi  xướng xướng. Thầy và mấy đứa học trò nhảy đại đến bụi cây, lên đạn đánh rốp, nói yêu cầu anh chị ra khỏi bụi ngay. Mình giả giọng con gái Bắc, nói em xợ nắm, xin nhà chường tha cho em. Thầy hét lên, nói các đồng chí, bắt sống khẩn trương bọn dâm ô truỵ lạc. Mấy đứa học trò lôi cổ mình và thằng Thuỷ ra. Có thằng còn tranh thủ bóp hai nùi giẻ trên ngực mình mấy bóp. Biết bị mắc lừa thầy tức lắm, nói học sinh mất dạy, dám lừa cả thầy. Nói rồi thầy phủi đít quần đi một mạch về nhà. Từ đó cho đến khi mình rời trường cấp 3 thầy không bao giờ nhìn sửa mặt mình, hi hi.


 Bây giờ thầy già rồi, mỗi lần gặp thầy mình đều nhắc lại chuyện đó trêu thầy. Thầy nhăn răng cười, nói thừa nhận tui ngu, có ai yêu đương chỉ bằng nước bọt không đâu, sao lại bắt người ta mấy chuyện đó chớ. Mình nói giả sử cấp trên bảo thầy đi bắt thì cũng không sao, đằng này thầy tự nguyện  tự giác đi làm mấy chuyện đó mới tức cười. Thầy cười cái hậc, nói rứa mới ngu, tui nghèo khó từ hồi đó đến giờ cũng vì mấy cái ngu đó thôi, suốt đời ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, ngu chi ngu tàn bạo.