Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

LÁNG GIỀNG ĐIỂM TIN - Thứ Năm - 6-2-2014

1 - BA SÀM 

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
Trực tiếp phiên điều trần UPR về tình trạng nhân quyền Việt Nam (DLB). “ Nhiều người Việt có mặt tại hội trường, nghe cách hỏi một đằng trả lời một nẻo của các Bộ Tư pháp, Kế hoạch và Đầu tư, và những câu trả lời 'lưỡi gỗ' của Bộ 4T, Bộ Công an, đều phải chép miệng, lắc đầu ngắn ngẩm. Khi Bộ 4T khẳng định ở Việt Namkhông có kiểm duyệt báo chí-xuất bản, nhà báo Đoan Trang buột miệng: 'Thế à'? “ - Facebooker Le Cogito : “ Chú cuội ở BCA nói tù nhân ở VN được bảo đảm quyền con người. Tôi chứng kiến người tù ở xứ sở dân tiên này được hưởng đầy đủ quyền con vật “. Chúng “đang học tập và làm theo” ông cụ: Cán bộ hay cộng tác viên bên ngoài ? (Nguyễn Tiến Dũng).
Facebooker Osin Huyduc : “ Không thể đổ cho trình độ dân trí để chỉ mở ra quyền này (cơm ăn, áo mặc…) mà trì hoãn việc khai thông những quyền cao hơn (tự do chính trị, tự do ngôn luận…). Một chế độ chưa có tự do dân chủ thì cũng nên thẳng thắn mà thừa nhận, rằng, có rất nhiều quyền, Chính quyền chưa thể mở ra cho người dân, vì ưu tiên hàng đầu là bảo vệ chế độ chứ không phải là bảo vệ những quyền tự do mà người dân lẽ ra phải có “.
ĐIẾC ĐẤU PHÁP (FB Anh Chí). – Facebooker Cùi Các : “ Thay vì thẳng thắn và thành tâm thừa nhận những hạn chế của mình trong việc tôn trọng nhân quyền để từ đó có thể đưa ra những cam kết mà quyết tâm khắc phục theo chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế, thì phái đoàn Việt Nam lại sử dụng các lập luận quen thuộc để chống chế lại những cáo buộc và kiến nghị từ các nước trong phiên UPR. Nghe phái đoàn Việt Nam trả lời giống như buổi họp để 'báo cáo thành tích' hơn là dành cho phiên Kiểm điểm về nhân quyền “. – Việt Nam bị 'nội công,' 'ngoại kích' về nhân quyền (Người Việt).
TUYÊN TRUYỀN THEO 'PHƯƠNG PHÁP VẸT HỌC' (Bùi Văn Bồng). “ Cán bộ, đảng viên đã rất 'ngoan Đảng' nói không sai với những phổ biến của trên. Trên đã nói sao, đi học tập, bối dưỡng, tập huấn về, cứ y nguyên thế mà phát ra, không ai dám nói khác. Dù họ có nghĩ thật đến mấy, thực tế có khác đến mấy, nhưng khi phát ngôn, họ đều nhất nhất nói đúng với ý chỉ đạo của cấp trên, đặc biệt là với các đoàn kiểm tra xuống, với nhà báo, phải phát ngôn đúng như hướng dẫn “.
Ông nào to hơn? (Người Buôn Gió).
- “ Cuộc chiến tranh lạnh kế tiếp – Lời nói đầu (Phan Ba). “ Hoa Kỳ đã đẩy Trung Quốc vào trong một vai trò mà nó hoàn toàn không muốn đóng. Vì trong những năm vừa qua, Mỹ đã áp dụng một chiến thuật bao vây, tạo đồng minh và đối tác với hầu hết các láng giềng của Trung Quốc – từ Nhật Bản qua Đông Nam Á cho tới Ấn Độ.Điều đó làm cho người Trung Quốc lo lắng và thúc đẩy họ đi tới những trò chơi quyền lực nhỏ ở biển Hoa Đông và biển Đông. Qua đó, một vòng xoáy leo thang đã thành hình ở Viễn Đông mà xung đột quân sự có thể đứng ở cuối của nó “.

KINH TẾ

VĂN HÓA-THỂ THAO
- Hà Văn Thùy – Đỗ Ngọc Thành: KHÁM PHÁ TẬN CÙNG VỀ CHIẾC BÁNH CHƯNG? (Ba Sàm).
CUNG ĐÀN MÙA XUÂN (Bùi Văn Bồng).
ÚP MẶT VÀO SÔNG QUÊ (Phọt Phẹt).
NHÀ THƠ TRẦN ĐẮC TRUNG (Trần Mỹ Giống).
Làm gì khi bị kì thị? (Diễn Ngôn).
Từ Van Eyck tới Dalí (Nguyễn Đình Đăng).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC
- TẾT… CON KHÔNG VỀ! : Năm sau, tụi nó ra trường… (NLĐ).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
- CÂU CHUYỆN HÔM NAY: Trám ngay lỗ hổng (NLĐ).

QUỐC TẾ
* RFA: Audio: + Sáng 05-02-2014 ; + Tối 05-02-2014 . 
--------------------

Có thể kiện Trung Quốc, ĐÒI LẠI HOÀNG SA

            
         Tiến sĩ (TS) Nguyễn Nhã là học giả dành trọn đời nghiên cứu Hoàng Sa - Trường Sa, cũng như trong bao năm qua, liên tục đến nhiều nước, nơi có kiều bào người Việt Nam sinh sống để thuyết minh "Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam" để quy một lòng đoàn kết, thống nhất người Việt Nam dù ở đâu cũng hướng về tổ quốc và khẳng định với thế giới Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam, sự thật lịch sử không thể chối cãi.
PetroTimes: Đã 40 năm kể từ ngày Trung Quốc (TQ) chiếm đóng trái phép Hoàng Sa, ông có thể nói về một số tư liệu trong lịch sử khẳng định Hoàng Sa không phải của TQ, như lời lẽ mà họ đã ngụy tạo trong bao nhiêu năm qua?
TS Nguyễn Nhã: Bên cạnh những tư liệu của các Triều đình Việt Nam khẳng định tính liên tục trong việc sở hữu Hoàng Sa thì tôi muốn nhắc đến một số tư liệu do Phương Tây ghi chép. Từ thế kỷ XVIII người Pháp, thông qua hoạt động của các giáo sĩ, thương gia, nhất là từ khi giám mục Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) giúp Nguyễn Ánh về quân sự, đã bắt đầu quan tâm đến Việt Nam.
Mặc khác, họ còn kế thừa những hiểu biết của người Bồ Đào Nha, người Hà Lan… nên biết khá rõ nội tình chính trị Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài thời phân tranh, cũng như khi Đàng Trong – Đàng Ngoài đã thống nhất. Từ đó, người phương Tây mới biết rõ chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa để khai thác và thực thi quyền cai trị.
Nhà truyền giáo Gutzlaff vào năm 1849 cho biết, chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam. Trước đó, giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà ngài (vua Gia Long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong… hay Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochinchine” như sau: “Chỉ đến năm 1816, đương kim Hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy”…
Rồi do những dòng hải lưu cũng như hướng gió thổi ở Biển Đông, nên những người bị đắm tàu ở quần đảo Hoàng Sa luôn bị trôi dạt vào bở biển miền Trung Việt Nam, nơi được gọi là bờ biển của Đàng Trong (hay Nam Hà) ở các thế kỷ XVII, XVIII, còn người phương Tây thường gọi là Cochinchina hay An Nam. Sang thế kỷ XIX và thế kỷ XX, nhất là trước năm 1945, Việt Nam bị Pháp đô hộ, triều đình Huế chỉ còn là hư vị, chỉ cai quản Trung Kỳ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, nên người Pháp hay Phương Tây vẫn gọi Trung Kỳ là xứ An Nam.
 
TS Nguyễn Nhã.
PetroTimes: Tuy nhiên, Trung Quốc đã phớt lờ tất cả những chứng cứ lịch sử và cố ngụy tạo ra nhiều dữ kiện để chứng tỏ với thế giới rằng, Hoàng Sa là của họ và cách đây 6 năm họ đã thành lập TP Tam Sa (huyện Hải Nam). Thật vô lý!
TS Nguyễn Nhã: Về phương diện lịch sử, cho đến nay, các học giả TQ để lại quá nhiều nghi vấn do họ cố tình sử dụng sai phương pháp sử học hiện đại. Từ sử liệu địa dư, phương chí và địa đồ cổ trong kho tàng văn hiến TQ, tính đến cuối đời Thanh chưa từng thể hiện sự xác nhận chủ quyển đối với các quần đảo trên Biển Đông ngoài Hải Nam.
Trong khi đó, từ đời nhà Lê của Việt Nam, địa đồ chính thống “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” thời Hồng Đức đã xác định sự hiện diện của quần đảo Hoàng Sa. Và “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ khoảng 1834 (thời vua Minh Mệnh) đã ghi nhận các quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa thuộc Việt Nam. Khi các học giả TQ vẫn vòng vo trong việc đưa ra các luận cứ có tính thuyết phục về vấn đề chủ quyền của TQ đối với các quần đảo Tây Sa và Nam Sa, cùng với việc lập thành phố Tam Sa một cách phi pháp nhằm quản lý các đảo này thì Chính phủ Trung Quốc chỉ góp thêm một “sử liệu” sai lầm nữa cho các học giả về sau mà thôi.
PetroTimes: Tuy nhiên, giới học giả TQ thực hiện việc tuyên truyền phi lý này đang sinh sống và làm việc ở nhiều ĐH lớn trên thế giới, không những thế họ còn in rất nhiều sách, tư liệu, trang web viết về Hoàng Sa - Trường Sa theo hướng có lợi cho họ. Việt Nam vẫn bị bất lợi về mặt tư liệu và phổ biến tư liệu ra cộng đồng thế giới đúng không, thưa ông?
TS Nguyễn Nhã: Phải thấy rằng hiện nay tư liệu của TQ viết về Hoàng Sa - Trường Sa (HS - TS) nhiều vô kể. Đi bất cứ đâu, đến bất cứ trường ĐH nào trên thế giới, tôi đều thấy tài liệu của TQ viết về HS - TS. Từ sách trong các thư viện, trên trang mạng của các thư viện, các trang web phổ biến trên toàn thế giới.
Chưa kể, là các giảng viên tại các trường ĐH này còn yêu cầu SV nên làm các nghiên cứu về HS - TS nhưng tư liệu do TQ cung cấp. Ngay ở ĐH Harvard có quỹ Havard Yenching cũng do Chính phủ TQ bỏ tiền tài trợ để nó tồn tại, các nghiên cứu đều phục vụ cho lợi ích của Bắc Kinh…
Còn tài liệu viết về HS - TS của Việt Nam tại hải ngoại thật hiếm hoi. Tôi chỉ thấy ở hai nơi là thư viện ở Aldelaide và Melbourne (Úc) có một cuốn sách tiếng Anh, với tựa đề “Sovereignty over Paracel anh Spratly Islands” của bà luật gia Monique Chemillier. Tài liệu này rất hay, viết về tính pháp lý quốc tế của HS - TS, trong đó có nhiều văn bản từ thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, quản lí thư viện cho biết là rất ít người tìm đọc cuốn sách này.
Khi đến Melbourne, nhiều nghiên cứu sinh người Việt Nam đang học tại đây hứa sẽ viết lời giới thiệu cuốn sách “Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa” cùng nhiều tài liệu khác chứng minh tính chủ quyền của VN tại HS - TS lên báo chí Úc. Tuy nhiên, tài liệu của tôi thì thích hợp cho giới nghiên cứu hơn là tài liệu phổ thông.
 
Một đảo nhỏ nằm trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
PetroTimes: Có giả thuyết cho rằng, nếu đưa vấn đề HS - TS ra tòa án quốc tế thì khả năng thắng kiện của Việt Nam rất cao. Ông nghĩ sao về giả thuyết này?
TS Nguyễn Nhã: Theo tôi, với tất cả những dữ kiện lịch sử của Việt Nam, cũng như tài liệu của phương Tây viết về HS - TS thì khi đưa ra tòa án quốc tế, khả năng thắng kiện của ta rất cao. Chỉ ngặt một nỗi, nếu đưa ra “Tòa án tranh chấp chủ quyền” thì phải song phương, có sự tham gia của hai nước. Cả hai quốc gia cùng ra tòa thì họ mới thụ lý hồ sơ. Tuy nhiên, rất nhiều nhà chính trị, cũng như nhà nghiên cứu cho rằng, chẳng bao giờ TQ chịu ra “Tòa án tranh chấp chủ quyền”.
Tôi từng đọc một luận án TS ở ĐH Sorbonne do một người Đài Loan viết rằng, Trung Quốc không bao giờ chấp nhận ra tòa giải quyết tranh chấp chủ quyền vì đối với HS - TS, họ không có bất cứ cơ sở lịch sử, pháp lí nào để chứng minh là của họ. Thậm chí, sự kiện xảy ra năm 1894 - 1895, TQ tuyên bố Paracel (quần đảo Hoàng Sa) không thuộc chủ quyền của họ. Chính họ đã tuyên bố như thế, nhưng giờ họ lật lọng.
Do đó, nếu muốn thắng kiện thì VN chỉ còn cách dựa vào Tòa Luật Biển. Vì Tòa Luật Biển cho phép một quốc gia đơn phương đưa ra tòa, chứ không cần cả hai bên phải đồng ý, tòa mới thụ lý. Căn cứ vào đường lưỡi bò vô lý của TQ thì Việt Nam dư sức thắng. Tuy nhiên, họ có thể lắt léo nói đường lưỡi bò là liên quan đến tranh chấp chủ quyền nên không thuộc thẩm quyền của Tòa Luật Biển và từ chối thụ lí hồ sơ. Bất lợi nữa là hiện nay, trong tòa án quốc tế Lahay đã có thẩm phán người TQ, trong khi không có bất cứ thẩm phán người Việt Nam nào.
PetroTimes: Là một nhà nghiên cứu lịch sử, với tư duy khoa học lịch sử biện chứng thì ông có tin rằng Việt Nam sẽ đòi lại được Hoàng Sa?
TS Nguyễn Nhã: Tôi khẳng định là đòi được. Vấn đề còn lại là thời gian nào, thời cơ nào thôi. Lịch sử đã chứng minh, dù 1.000 năm Bắc Thuộc thì cuối cùng ta cũng giành được chủ quyền. Nhân 40 năm hải chiến Hoàng Sa, nếu Nhà nước mình thừa nhận một chính quyền đã từng thể hiện trách nhiệm bảo vệ chủ quyền của mình sẽ rất tuyệt vời.
Từ đó, người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước, dù khác nhau về quan điểm chính trị nhưng cùng tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sẽ xây dựng nội lực đất nước hùng cường, sẽ lấy lại được Hoàng Sa.
BDN (Theo PetroTimes)
------------

GIÁ CỦA SỰ THẬT

Hiện nay ai cũng iết rằng tại Trung Quốc các kênh truyền thông như báo chí, truyền hình đều đã được qua chính quyền kiểm duyệt, chính vì thế mà nhiều thông tin khi đến với người dân đã bị bóp méo sự thật, và nhiều thông tin đã bị giấu diếm không dám công bố.Thậm chí cùng một sự việc mà hôm qua còn rất ca ngợi ủng hộ, nhưng hôm nay thì đã bịa ra rất nhiều thứ nhắm bóp méo sự thật để đàn áp người ta, điển hình là môn khí công Pháp luân công tại Trung Quốc.
 Lá thư cảm ơn từ Quỹ “Giữ gìn Công lý và Cứu Người gặp nạn”, Trung Quốc
Ngày 24 tháng 09 năm 1997, báo Y học và Sức khỏe đã đăng bài viết có tựa đề ”Để chữa bệnh khỏe người, Pháp Luân Công là tốt nhất”
Pháp luân công là môn khí công tại Trung Quốc ra đời năm 1992, đến năm 1999 đã có hơn 100 triệu người theo tập nhờ những lợi ích về sức khỏe do tập luyện mang lại, do Pháp Luân Công tu luyện theo tiêu chuẩn Chân Thiện Nhẫn nên cũng giúp đạo đức tinh thần người dân Trung Quốc được nâng cao trở lại, nhiều gương người tốt việc tốt trong xã hội lúc đó đều là các học viên Pháp Luân Công. Tất cả các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều rất ca ngợi Pháp Luân Công .

Các học viên Pháp Luân Công ở Đài Loan xếp đồ hình Pháp Luân
Thời điểm đó cứ vào sáng sớm các công viên lớn nhỏ tại Trung Qước đều có rất nhiều học viên Pháp Luân Công đến để tập luyện.
Ngày 10 tháng 11 năm 1998, Dương Thành vãn báo Trung Quốc đã đăng bài viết có tựa đề: “Già trẻ vui tập Pháp Luân Công”


Dẫu khí công là văn hóa cổ truyền của Trung Quốc và đã xuất hiện từ xa xưa, nhưng đứng trước một môn tập luyện đông đảo hoàn toàn tự phát, hoàn toàn không thuộc sự quản lý của chính quyền , không nằm dưới sự lãnh đạo của ĐCS, vì thế mà Pháp Luân Công như một cái gai trong con mắt lãnh đạo ĐCS Trung Quốc lúc đó là Giang Trạch Dân, ông ta đố kỵ quần chúng ca ngợi Pháp Luân công mà không ca ngợi ông ta. Sau đó Giang Trạch Dân ra lệnh đàn áp Pháp Luân Công bất chấp sự phản đối của các thành viên khác trong Bộ Chính trị, Đảnh viên lão thành rất có uy tín lúc đó là Kiều Thạch đã tuyên bố rằng “Pháp Luân Công đối với đất nước và nhân dân chỉ có trăm điều lợi mà không có một điều hại”.
Năm 1999 thời điểm bắt đầu đàn áp Pháp Luân Công, các kênh truyền thông tại Trung Quốc đang ca ngợi thì bất ngờ đều quay ngược lại chỉ trích mạnh mẽ Pháp Luân Công, Tất cả các thông tin đều là giả tạo bóp mép sự thật chỉ để nhằm mục đích đàn áp.
Tất cả các học viên đều bị cấm tập luyện, hàng trăm ngàn người bị tống và các trại giam giữ bất hợp pháp, con số thống kê được cho thấy hàng ngàn học viên bị chết nhưng con số thực tế còn cao hơn nhiều.
Những học viên bị giam giữ nếu vẫn kiên định tu luyện thì sẽ bị tra tấn đến chết, bị mổ cắp nội tạng đem đi bán.
Nếu ai mà tiết lộ sự thật sẽ bị khép vào tội phản quốc.
Vậy ai là người dám công bố sự thật cho dân chúng biết?
Một người đàn ông đã quyết định đưa sự thật ra cho công chúng.
Ông ấy là Trình Phượng Tường. Sinh ngày 07 tháng 07 năm 1964, ông Trình là một học viên Pháp Luân Công từ thị trấn Lâm Minh Quan, thị xã Vĩnh Niên, tỉnh Hà Bắc. Đó là một thị trấn nhỏ với dân số 1,3 triệu người.
Vào ngày 19 tháng 01 năm 2004, ông và một số học viên Pháp Luân Công phát sóng thành công các bộ phim tư liệu về Pháp Luân Công trên mạng vô tuyến địa phương tại Hình Đài và Sa Hà, hai khu vực của tỉnh Hà Bắc, thông qua các bộ phát A/V không dây.
Vì làm điều này ông đã “ký” vào bản án tử hình của chính mình.
Ông bị cảnh sát thị xã Vĩnh Niên bắt vào ngày 28 tháng 01 năm 2004 mà không có bất kỳ lệnh bắt nào.
Cảnh sát che giấu ông trong tầng hầm của Sở Cảnh sát và thẩm vấn ông với những hành vi hung bạo
Chính quyền giam ông Trình trong tầng hầm Đội số 01 huyện Vĩnh Niên. Đội trưởng Dương Khánh Xã đã đâm que tăm tre vào móng tay của ông Trình trong lúc thẩm vấn để lấy thông tin về việc phát sóng.
Mô phỏng cảnh tra tấn: Que tăm tre đâm vào các móng tay (hình vẽ)
Đội phó đội số 01 là Lưu Bá đã đánh ông Trình bằng một cây gậy gỗ đến khi nó bị gãy. Ông Trình đã bị ngất nhiều lần và vẫn có thể nhìn thấy rõ các vết sẹo. Công an Vương Ái Lâm ở Đội số 02 đã dùng túi nilon để trùm lên đầu ông Trình, còng tay và treo ông lên với hai tay giang ra và chân lơ lửng trong không trung, sau đó họ đánh ông Trình dã man.
Công an thành phố Hàm Đan là Từ Triệu Lương đã đánh ông Trình đến mức ông bị gãy xương sườn thứ 11. Ông cũng không được chữa trị đúng cách. Công an Từ còn bắt ông Trình ngồi trên ghế sắt trong tám ngày, trong khi Từ đặt gậy gỗ lên hai chân ông và cho hai người dẫm lên rồi đẩy qua lại. Ông Trình đã bất tỉnh nhiều lần, hai tay ông bị tê cóng.
Tại thời điểm đó, ông Trình có 1.000 nhân dân tệ trong túi. Trưởng đồn không những lấy tiền ngay trước mặt người chứng kiến mà còn hét lên “Tôi là trưởng đồn Vương Bảo Thế. Tôi không cần làm theo luật pháp khi xử lý các học viên. Các người cứ việc kiện tôi.”
Ông Trình còn bị cấm ngủ trong 14 ngày đêm, bị dội nước sôi lên đầu, và bị tiêm nhiều loại thuốc lạ.
Ông bị kết án lao động khổ sai 11 năm, song ông đã tìm cách trốn thoát vào ngày 09 tháng 11 cùng năm.
Ngày 23 tháng 02 năm 2005, cảnh sát nhận tin tình báo là ông bà Cái Tân Trung đang giấu ông Trình trong nhà của họ và tiến hành lục soát. Khi cảnh sát không tìm thấy ông Trình, để thay thế, họ đã bắt hai vợ chồng già.
Khi bị thẩm vấn tại sao ông chứa chấp ông Trình, ông Cái Tân Trung nói với cảnh sát: “Ông ấy đang hấp hối do bị ngược đãi và tra tấn. Tôi không thể không làm gì và khoanh tay nhìn ông ấy chết.”
Cảnh sát đã đưa người đàn ông nhiều tuổi tốt bụng cứu sống ông Trình đến Trung tâm Giam giữ huyện Vĩnh Niên, ở đó ông phải đối mặt với hàng loạt hình thức tra tấn và bức hại. Ông Gai tiếp tục tuyệt thực để phản bức hại, nhưng ông còn phải chịu sự tra tấn nhiều hơn như là [kết quả] của sự trừng phạt. Bác sĩ tại trung tâm giam giữ cưỡng bức đưa các ống xông vào [cơ thể] ông và đâm thủng các cơ quan nội tạng. Ông Gai đã nôn ra lượng lớn máu và chết ngạt trên máu của mình.
Đối với ông Trình, không ai còn nhìn thấy ông ấy thêm một lần nào nữa. Không một học viên Pháp Luân Công nào nhìn thấy hay nghe nói về ông trong 08 năm. Người ta suy đoán rằng ông có thể bị bắt lại. Thực tế, ông thậm chí có thể đã qua đời.
Đây là cái giá phải trả để đưa ra sự thật tại Trung Quốc.
Còn các nước trên thế giới thì sao?
Các học viên Pháp Luân Công tại nhiều nước trên thế giới đang nỗ lực nói rõ sự thực cuộc đàn áp tại TQ ra thế giới, nhiều người đã biết rõ sự thật cuộc đàn áp vô nhân đạo này, nhiều nhã lãnh đạo của Mỹ Canada, Úc, v.v… đã lên tiếng đề nghị TQ chấm dứt cược đàn áp vô nhân đạo này.
2 giờ chiều ngày 20/11/2001, ngay giữa quảng trường Thiên An Môn đông đúc như thường lệ, 36 người Tây phương này đến từ tổng cộng 12 quốc gia khác nhau như Thụy Sĩ, Đức, Pháp, Mỹ, Canada, Australia, v.v. Trong số họ có giám đốc công ty, kỹ sư năng lượng nguyên tử, sinh viên, cố vấn kỹ thuật, bác sĩ và cả phụ nữ nội trợ. Họ không quản vạn dặm tới Bắc Kinh chỉ để nói một câu thành tâm với người dân Trung Quốc rằng Pháp Luân Công là tốt, Chân Thiện Nhẫn là tốt. Phần lớn họ là những người trẻ tuổi đang xếp bằng ngồi trên mặt đất, với vài người giương lên một biểu ngữ màu vàng rất lớn, trên đó ghi ba chữ Hán rất to “Chân Thiện Nhẫn” và phiên dịch tiếng Anh: “Truth Compassion Tolerance”.

Chân Thiện Nhẫn

Chưa đầy 30 giây sau, một lượng lớn cảnh sát ập đến, giật lấy tấm biểu ngữ và cưỡng chế lôi tất cả mọi người lên xe. Người thanh niên 23 tuổi đến từ Canada, Zenon Dolnyckyj, đột nhiên giẫy thoát từ tay cảnh sát và rút trong áo T-shirt ra một tấm biểu ngữ nhỏ ghi năm chữ Hán: “Pháp Luân Đại Pháp hảo”. Vừa giương biểu ngữ, anh vừa chạy đến bên các du khách Trung Quốc và hô lớn: “Pháp Luân Đại Pháp hảo! Châu Âu biết! Canada biết! Nước Mỹ biết, cả thế giới đều biết, Pháp Luân Đại Pháp hảo!” Anh không ngừng hô lớn, cho tới khi ba cảnh sát hung dữ đánh anh ngã xuống mặt đất.
Tại Việt Nam, Pháp Luân Công phát triển như một môn khí công nhắm nâng cao sức khỏe và tinh thần, do phát triển tự phát nên không rõ số lượng học viên là bao nhiêu. Cũng như các học viên trên thế giới, các học viên cũng muốn nói rõ cuộc đàn áp ở Trung Quốc cho mọi người nhằm sớm chấm dứt cuộc đàn áp vô nhân đạo này.
Năm 2010, hai học viên là Vũ Đức Trung và Lê Văn Thành đã lắp đặt thiết bị phát sóng ngắn tại Sóc Sơn truyền thẳng vào Trung Quốc nói nhằm nói rõ sự thật về Pháp Luân Công với người dân Trung Quốc.
Sau đó Đại sứ quán Trung Quốc đã có công hàm yêu cầu phía Việt Nam điều tra. Sau đó cả 2 học viên này bị bắt và bị kết án 3 năm tù.
Ở Việt Nam, số lượng học viên chủ yếu tập trung ở Hà nội và TPHCM, các công viên lớn ở Hà Nội và TPHCM đều có điểm luyện công. Do chịu áp lực và thông tin lừa dối từ Trung Quốc nên các điểm luyện công này vẫn thường hay bị can nhiễu từ phía công an hay bảo vệ, các học viên đã kiên trì giải thích sự thật cho công an, nhờ đó các điểm luyện công này vẫn được duy trì, tuy nhiên không phải điểm luyện nào cũng được như thế.
Tại TPHCM, khi Lãnh sứ quán Trung Quốc chuyển từ đường Nguyễn Thị Minh Khai về đường Hai Bà Trưng (gần công viên Lê Văn Tám) lập tức điểm luyện công tại công viên Lê Văn Tám bị chính quyền dung vũ lực không cho phép các học viên tập luyện, những học viên nào kiên trì tập đều bị đánh đập rất dã man.
Mới đây nhất, điểm luyện công tại trung tâm thành phố là công viên Tao Đàn cũng bị chính quyền dùng vũ lực không cho tập luyện mà không có bất cứ sự giải thích hợp lý nào, những ai không nghe theo đều bị đánh đập rất dã man. Hiện nay nếu ai có dịp đi vào công viên tao đàn sẽ thấy tại khu trung tâm công viên có một nhóm bảo vệ đứng sẵn, bên cạnh còn có các công an mặc thường phục nhắm ngăn cản các học viên đến tập luyện.
Phải chăng đó cũng là giá phải trả khi muốn công bố sự thật tại Việt Nam.
(Ánh Sáng)
-----------------

TUYÊN TRUYỀN THEO ‘PHƯƠNG PHÁP VẸT HỌC’

   
             * BÙI VĂN BỒNG
Trong chuyện kể ở nước Nga, có câu chuyện “Con vẹt quý”. Một nhà kia nuôi con vẹt, chỉ dạy cho nó nói rất thạo hai từ конечно, tạm dịch ra La tinh ngữ: “kanhetsner” (nghĩa Việt là tất nhiên). Con vẹt suốt ngày chỉ nói được hai từ “tất nhiên” (конечно), khá rõ ràng, nghe rất hóm hỉnh và có khí chất như là cũng thông minh.
Thấy khách đến nhà, nó vội hót lên: “Tất nhiên”. Khách chửi nó là đồ ngu, nó gật cái đầu có lông ngũ sắc rất sặc sỡ:  “Tất nhiên”. Khách bảo: “Vặt lông mày bây giờ”, nó cũng “Tất nhiên”. Ông chủ có lúc bí tiền, đem con vẹt ra chợ bán. Có một ông khách sộp đến mua. Chủ hàng giới thiệu: “Ông mua đi, hơi đắt một chút, nhưng con vẹt của tôi khôn lắm, hỏi cái gì nó cũng biết”. Khách hàng nhìn như xoáy vào con vẹt, hỏi: “Đúng không mày, cái gì mày cũng biết hả?”. Con vẹt phát âm: “Tất nhiên”. Ông khách mừng quá, đồng ý mua với giá cao. Ông chủ khoái chí nhét tiền vào túi.
          Đó là câu chuyện ngụ ngôn con vẹt ở nước Nga xa xôi. Chuyện ở xứ Việt ta, lại thế này: Ông Bảy Nhị giật mình vì hiện tượng con vẹt. Tôi được nghe câu chuyện do Ts. Tô Văn Trường kể lại: Ông Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch kỳ cựu của UBND tỉnh An Giang kể lại rằng, một đoàn cán bộ Trung ương về An Giang, rất sâu sát cơ sở, làm việc có trách nhiệm và hăng hái. Sau khi làm việc ở tỉnh, về huyện, rồi về xã, lại gặp cả đảng viên thường ở xóm, ấp. Hỏi về chuyện gì, thấy các cán bộ, đảng viên từ tỉnh xuống tận cơ sở đều nói rất giống nhau. Không thấy ai nói khác.
Trước khi rời An Giang, ông trưởng đoàn cán bộ Trung ương khen: “Công nhận ở Đảng bộ An Giang có tính thống nhất rất cao, hỏi từ trên xuống dưới, thấy vấn đề gì cũng thấu đáo, thống nhất từ dưới lên trên”. Lúc đó, ông Bảy Nhị cũng mừng thầm. Nhưng đoàn đi rồi, nghĩ lại lời khen đó, ông Bảy Nhị mới chợt giật mình: “Thôi chết, không khéo mình đang chỉ đạo, điều hành cả một “lũ vẹt”. Cán bộ, đảng viên đã rất “ngoan Đảng” nói không sai với những phổ biến của trên. Trên đã nói sao, đi học tập, bối dưỡng, tập huấn về, cứ y nguyên thế mà phát ra, không ai dám nói khác. Dù họ có nghĩ thật đến mấy, thực tế có khác đến mấy, nhưng khi phát ngôn, họ đều nhất nhất nói đúng với ý chỉ đạo của cấp trên, đặc biệt là với các đoàn kiểm tra xuống, với nhà báo, phải phát ngôn đúng như hướng dẫn. Thế thì nguy, ai mà nắm được thực trạng, thực tế, nắm đúng bản chất thực tế, thực trạng để giải quyết”. Khi đó, với cương vị đang là Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh, ông Bảy Nhị đã biết giật mình đúng cái việc, cái chuyện phải giật mình, Vậy cũng mừng.
            Mừng bởi vì có những người lãnh đạo như anh Bảy Nhị, rất cần và tôn trọng sự chân thực, cần cái vốn có trong tâm tư, nguyện vọng, suy nghĩ của mỗi người. Cuộc sống trong mỗi chúng ta, làm gì có ai giống ai. Từ nhìn nhận, xem xét, đánh gia một vần đề gì đó, bên cạnh sự thống nhất chung, nhận diện chung, còn có cái riêng, mỗi người có cách ghi nhận tầm mức, đặc tả, phân tích vấn đề khác nhau. Vậy mới là xã hội. Ngay trong gia đình cũng vậy, ruột thịt đấy, nhưng đâu phải ai cũng như ai, kể cả anh chị em sinh đôi. Và ngay trong mỗi con người cũng vậy, luôn luôn có diễn biến tự mâu thuẫn thực thể. Tức là mọi sự, kể cả nhận thức, đâu phải lúc nào cũng  y hệt nhau. Đó là quy luật của phép biện chứng, đứng im chỉ là tạm thời, vận động là liên tục. Tư tưởng con người là đồ thị biến thiên không ngừng, luôn luôn mở theo hình xoáy trôn ốc. Tư duy con người là hình nón, đâu phải hình que? Cái duy lý, duy ý chí, rập khuôn, khô cứng cũng là do nếp quen không mang tính cách mạng, là trên nói sao, dưới phải nghe vậy, rồi nói cho dưới nữa cùng phải như vậy. Thế nên, đi đâu, đến đâu, gặp ai, tình huống, bối cảnh nào cũng nói một kiểu không đổi, thì là con vẹt chứ còn gì (?!). Tuy là xã hội đã tiến tới thời đại văn minh, hiện đại, nhưng cái lối ngu trung từ thời phong kiến xa xưa cũng từ đó xuất hiện trở lại và tồn tại. Thật là tai hại, kìm hãm sự phát triển tự nhiên, hạn chế năng động, khó đổi mới.
            Trong phương pháp, kinh nghiệm cũ mòn về tuyên truyền ở nước ta cả mấy thập kỷ qua đã hình thành như một nền nếp quen thuộc, khó thay đổi, không cần cải biên, cải tiến. Dễ nhận biết là liên tục thời gian qua, khi Hiến pháp bổ sung, sửa đổi vừa ban hành, hàng loạt cơ quan tuyên truyền, cũng như nhiều nhà lãnh đạo thi nhau tung hô: “Tuyệt vời, trí tuệ, khoa học, thực tế, phát huy cao độ dân chủ XHCN, tạo đà-dựng thế cho đổi mới..vv”.  Có những vị lãnh đạo, những nhà nghiên cứ lý luận thuộc loại ‘đồ hộp’, những bồi bút ăn lương ham thưởng đua nhau trỗ tài hùng biện, chọn mỹ từ ca ngợi hết lời. Họ thi nhau trỗ tài hùng biện và tài uốn từ giải ý, nói lấy được, bất cần là khẩu khí hay khẩu hiệu, bất cần người nghe có lọt tai hay không!? Cái kiểu tuyên truyền như thế người ta đã đúc kết là thứ ‘Phương  pháp vẹt học’.
            Không riêng Hiến pháp mới cõng vừa rồi, mà lâu nay, những nhà tuyên truyền chuyên nghiệp và không chuyên, những dư luận viên được đào tạo cóc nhảy đã lao vào cái ‘Phương pháp vẹt học’ tai hại và kém thiết thực ấy, như là thứ bùa hộ mệnh bám ghế lĩnh lương, nịnh bợ hết chỗ nói. Bất kỳ văn bản nào, không cần biết có sát thực tế, có đi vào đời sống, có được người dân tán thành hay không, vừa mới ban hành là các công cụ tuyên truyền thi nhau tung hứng; sau một thời gian, qua thực tế kiểm chứng, thẩm định rõ là đề ra rất hay mà không hiệu quả, nhưng họ không thấy bị "quê xệ". Họ chỉ là cái loa, là cái đĩa ghi âm mặc định, không hơn không kém…
Tháng trước, ngồi uống cà phê với một vị đương chức là Phó Ban tuyên giáo thành ủy. Tôi hỏi: “Cái vấn đề (này, kia) hôm trước ngồi mấy anh em thân thiết, ông nói khác, tại sao trong hội nghị không thấy ông nói ra được những cái hay như thế?”. Nhà Tuyên giáo nói: “Anh ơi, đó là chuyện nói ở bàn trà, nó thật lòng như thế, nhưng nói ở Hội nghị, với bàn dân thiên hạ phải nói theo chỉ đạo của trên. Nếu như nói trật, có mà gay”.
Tôi hỏi: “Gay, là sao?” Vị cán bộ nọ nhìn quanh quất trước, sau, rồi mới nói: “Nói phải đúng như chỉ đạo, nói sai bị phê bình đấy, mà còn dọa cách chức hoặc điều chuyển việc khác”…
            Lần này, lại đến tôi giật minh. Ô, hóa ra Đảng ta vẫn đặt ra đường hướng là làm cách mạng phải sâu sát thực tế, đi sát cơ sở, nắm bắt kịp thời mọi diễn biến và những phát sinh mới từ trong thực tiến. Qua đó cần biết tự chủ phát huy nội lực, tự thân vận động, nỗ lực chủ quan của mỗi người là rất cần thiết, khuyến khích và đề cao sáng tạo ở mỗi con người, mỗi cơ sở. Nghị quyết, chủ trương là vạch đường, chỉ lối, còn đi thế nào, làm cách nào cho có hiệu quả, đạt chất lượng cao thì mọi người (mỗi thực thể cá nhân, mỗi ngành, địa phương, cơ sở)  phải biết phát huy sảng kiến, mạnh dạn sáng tạo, lấy hiệu quả, chất lượng cuối cùng làm trọng. Đó cũng là Nghị quyết, là đường lối của Đảng, chứ có khác gì đâu?
Tại sao tư duy và phát ngôn của cán bộ, đảng viên ta lại bị rơi vào sự “khung kín”, bị rập khuôn, máy móc như thế? Đi họp, dự các hội nghị lại ít tập trung theo dõi, không vận hóa tư duy, lười suy nghĩ đóng góp ý kiến (nhiều vị thậm chí cũng không bết nên góp ý kiến thế nào). Họ cứ ngồi, hỏi thì nói mỗi hai từ quen thuộc: “Nhất trí”, cần thì giơ tay biểu quyết, cho xong việc. Họp xong, về không lắng đọng được bao nhiêu, không cần suy nghĩ nhiều, lo việc khác cần hơn, mọi việc đã có bộ máy cơ quan, có các trợ lý, có văn phòng. Nếu có cán bộ nào hỏi: “Làm như thế liệu có được không anh?” -  “Tất nhiên, cứ thế mà làm”. Đi họp như thế quả là việc nhẹ nhàng. Xem ra, con vẹt, dạy sao, chỉ biết phát ngôn như vậy, khó mà hơn được. Chẳng lẽ miệng con người mà lại không hơn được mỏ vẹt?
          Có ông cán bộ cấp Trung ương, trong các cuộc đi thăm, đi dự hội nghị, dự các lễ lạt ở các tỉnh, thành, đến các Bộ, ngành, ở đâu cũng phát biểu rất chuẩn, không cần chính: “Chúng ta phải luôn nhớ lời Bác dạy: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đúng như vậy, nhưng có gì mới đâu. Các cháu học sinh tiểu học đã thuộc lòng câu nói quý báu đó, cũng như chân lý rồi. Mọi người dân ai cũng thuộc nhằm lòng. Thế mà từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, ở đâu ông ta cũng nói vậy. Suốt nhiệm kỳ vị quan khách ấy giữ chức, đài truyền hình cũng tường thuật y nguyên vậy hàng trăm lần, bạn xem đài cũng phát phì cười: “Biết ngay mà, thể nào ông ta cũng nói câu ấy, không khác được”. Thấy ở dưới nhiều người cười, ông ta tưởng hay, cứ cái đà đó nói hoài.
Lẽ ra, cũng nói về đoàn kết, rất cần, nhưng khi đến mỗi nơi có hoàn cảnh, đặc điểm riêng, phải chỉ ra cần đoàn kết ở chỗ nào, thống nhất về vấn đề gì, làm thế nào để đoàn kết tốt hơn và từ đoàn kết phát huy sức mạnh. Có những địa phương nội bộ đang đoàn kết, đâu cần phải nói điều đó. Nhưng cái “chất vẹt” trong ông ta cũng còn di chứng đâu đó, nên ông ta không nói thế, cho là điều trọng yếu không thể thiếu khi phổ truyền nghị quyết Đảng, thể hiện tiếng nói lãnh đạo, chắc ngoài ra không biết nên nói gì. Mà thậm chí có hiểu cơ sở được mấy mà biết nói gì để đi vào cuộc sống, đi vào lòng người?
            Lại có những nhà giáo suốt đời dạy ở trường chính trị, giáo án soạn cả mấy chục năm trước, thuộc lòng, nói không cần nhìn sách vở mà cứ vanh vách. Ngay như những câu kinh điển của các triết gia, của các lãnh tụ, nhà cách mạng  nổi tiếng ông ta nói không sai một chữ. Học viên nghe mà phục thầy, giỏi thế, những câu mình học trần thân khó thuộc mà ông ta nói giỏi thật. Nhưng lớp nào, khoa nào, ở đâu cũng vậy, giảng và thuyết có mở ra được gì mới đâu. Lớp trước tiếp thu sao, lớp sau học lại đúng bài như thế. Nếu cần minh chứng từ thực tế, và nếu hỏi trong thực tế có chuyện như thế, khác lý luận như thê, ông giải thích sao? Thầy giáo giỏi kia đành bó tay, không biết giải thích, phân tích thế nào.
Thế mà năm nào ông ta cũng là giáo viên dạy giỏi, còn được nhân vinh danh Nhà giáo ưu tú, cứ thế theo thời hạn được tăng lương ngon lành. Hết việc về nhà lo việc riêng, nghỉ ngơi, đi chơi, không cần đọc báo, ít nghe đài, ti vi mở ra thì phim hay mới xem. Nhàn hạ lắm. Đời được thế là lên hương. Ôi, thật tai hại cái bệnh giáo điều, sách vở. Thế nên, bài bản lý luận trở thành thứ lương khô, lúc nào, ở đâu cũng đem ra xài được.
Nhắc lại, ông Bảy Nhị nói đúng quá, chuyện gì mà cán bộ, đảng viên từ trên xuống dưới đều đồng loạt nói giống nhau thì báo động sự đứng im trơn lì của một khung hệ thống chính trị kém vận động, thiếu năng động, ít sáng tạo, xa dân, xa thực tế. Mà đó lại chính là nguyên nhân tạo ra động thái gò ép, bắt buộc kiểu “dậm chân tại chỗ” như tập điều lệnh đội ngũ của anh lính binh nhì, trái ngược hoàn toàn với nhu cầu của động lực phát triển xã hội. Tự do tư tưởng, nói thẳng nói thật, quyền bộc lộ chính kiến của mỗi con người trong nền tảng xã hội đã mang bản chất tốt đẹp tự do, dân chủ, mà vẫn khó như vậy sao?
      BVB     
-----------------