Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

LÁNG GIỀNG ĐIỂM TIN - Thứ ba - 3/12/2013

1 - BA SÀM 

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
Chuyên gia LHQ kêu gọi VN mở rộng quyền tự do tư tưởng cho người dân (VOA). – 'Cần không gian cho quan điểm đa nguyên' (BBC). “Cơ chế chính trị và cấu trúc chính quyền hiện nay ở Việt Nam, cùng với rất nhiều các hội đoàn thể đang hoạt động chủ yếu như các phương tiện truyền đạt những quyết định của chính phủ, để lại không gian rất nhỏ bé cho xã hội dân sự tự biểu đạt mình, đặc biệt với những người làm công tác nghiên cứu hay các nghệ sỹ và những người khác có thể có tư duy phê phán đối với những chính sách của Chính phủ” .
- Video: Những Con Sóng (TTYN).
Dân đen lý sự (ĐCV).
- Phạm Chí Dũng: Hậu Hội đồng nhân quyền: Dân chủ Việt Nam sẽ ra sao? (RFI/DĐXHDS). – Lê Diễn Đức: Một nghị định phản nhân quyền (Blog RFA). - Bùi Tín: Quyền thổi còi (Blog VOA). “…người dân có quyền và có nghĩa vụ báo động, cảnh tỉnh, lưu ý, tố cáo, lên án các hành vi của chính quyền các cấp khi họ vi phạm lời hứa và cam kết về tôn trọng, bảo vệ nhân quyền. Nghĩa là mỗi công dân có quyền và nghĩa vụ thổi còi” . – Nhân quyền không tự nhiên mà có (DLB).
Dân 90 triệu ai người lớn ? (Bùi Văn Bồng).
HE HÉ…. (Nguyễn Quang Vinh).
Tiền và máu! (Người Việt).
CHẲNG CÓ Ý NGHĨA GÌ (Nguyễn Quang Vinh).
TRƯ CUỒNG (Phần 5) (Thùy Linh).
VN đình chỉ 4 cán bộ an ninh để lọt 229kg heroin từ Tân Sơn Nhất (VOA). – Vụ 'lọt lưới' 600 bánh heroin: Tại sao Cục Hải quan TP.HCM chưa kỷ luật ai? (TN). – Đồng hồ tây có bao giờ sai (LĐ). “…khi “đúng quy trình”, là không kỷ luật ai cả, là không ai chịu trách nhiệm cả. Và chính vì lẽ đó, câu chuyện tai ương lại tiếp tục xảy ra, để lại được giải thích đúng quy trình” . – LẠI ĐÚNG QUY TRÌNH! (Sơn Thi Thư). – Điều nhục nhã lớn nhất trong vụ này là chiến công thuộc về anh Đài (FB Lọ Lem/Phước béo).

KINH TẾ
Khó bán DNNN (TBKTSG).
- Khắc phục hậu quả bão lũ: NHNN miễn, giảm lãi và khoanh nợ trên 200 tỉ đồng (PT).

VĂN HÓA-THỂ THAO
- VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THIẾU TÁC PHẨM HAY: Phải có thiên thời – địa lợi – nhân hòa (NLĐ). – XUNG QUANH CÂU CHUYỆN TÁC PHẨM ĐỈNH CAO (Nguyễn Duy Xuân).
KỶ NIỆM VỚI ÔNG HUY VINH (Trần Mỹ Giống).
Tin dữ & lành (Inrasara).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC
- Song Chi: Dạy trẻ em như thế này sao? (Người Việt).

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

QUỐC TẾ
----------------

Dân 90 triệu ai người lớn ?

                                              * Ts. TÔ VĂN TRƯỜNG
Trước hết,  tôi phải xin lỗi cụ Tản Đà khi  chọn tiêu đề bài viết này để tưởng nhớ đến một tâm hồn, một tài thơ Việt Nam núi Tản sông Đà, ngập tràn lãng mạn, ngập tràn thơ, nhiều khi hóm hỉnh sâu xa đầy gợi mở, thấm đượm yêu nước và tình người, biết bao thương xót.
“Dân hai nhăm triệu ai người lớn 
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con “
Thời cụ Tản Đà, nước ta còn dưới ách nô lệ thực dân Pháp không có công dân mà chỉ có “dân đen” như Nguyễn Trãi nói, lại lo không biết “bức dư đồ rách ai bồi”  nên Tản Đà mới mong mỏi trong số 25 triệu đồng bào, ai là người có chí lớn, đủ tài lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập cho đất nước. Cụ xót thương nước có bốn ngàn năm lịch sử mà dân vẫn còn trong vòng phong kiến tối tăm,  chưa được khai trí về kiến thức văn minh của nền tự do dân chủ, nên so với trình độ dân trí ở các nước thì vẫn như là đứa trẻ nít.
Trên mạng xã hội, nhiều bài viết phản ánh Nghị trường Quốc hội mới diễn ra nhiều câu nói ấn tượng nổi tiếng và  kết quả bấm nút cuối cùng về Hiến pháp và Luật đất đai sửa đổi như dấu chấm than về vận nước! Chẳng cần chờ đến hậu thế mà ngay thế hệ ngày nay cũng đủ trí tuệ, để soi xét, đánh giá. Những người tỉnh táo không thất vọng vì có kỳ vọng đâu mà thất vọng!
Người ta nhận xét, Quốc hội Việt Nam như sân khấu, nhiều diễn viên không vượt qua được chính mình. Lúc này, lại nhớ đến mấy câu thơ từ thời sinh viên (thập niên 60) khi đi tham gia biểu diễn văn nghệ ở khoa:
“Đóng kịch phải hóa trang
Tô đỏ đôi môi tô đen đôi mắt
Bắt đêm đen thức dạy làm ngày
Cười lúc đau nước mắt nước vui
Sân khấu và cuộc đời
Cánh gà là khoảng cách”
Nhà viết kịch nổi tiếng đi trước thời đại từ  thập niên 80, Lưu Quang Vũ để lại nhiều dấu ấn cũng một phần nhờ dàn diễn viên giỏi tay nghề và đầy bản lĩnh “thổi hồn” hàng chục vở diễn đi vào lòng người như : Tôi và chúng ta; Hồn Trương Ba da hàng thit; Ông không phải là bố tôi; Mùa hạ cuối cùng vv… Trong vở kịch “Lời thề thứ  9” tác giả Lưu Quang Vũ để cho nhân vật anh lính Đôn sứt tiến đến đứng trước mặt khán giả dõng dạc, khảng khái tuyên bố trong tiếng vỗ tay vang dội của người xem “Nhân dân ta rất anh hùng nhưng thật ra hèn lắm”.
Câu nói của người lính trên kịch trường Việt Nam đã 30 năm, lại làm chúng ta nhớ đến Shakespeare nhà viết kịch nổi tiếng trên thế giới người Anh ở thế kỷ 16 (thời kỳ phục hưng) đã để cho nhân vật Hamlet có câu nói bất hủ cho đến tận ngày nay  ”To be or not to be” có nghĩa là “tồn tại hay không tồn tại”.  
Nhìn lại sự phát triển của đất nước, ta hãy lấy Đại Hàn Dân Quốc làm so sánh. Sau chiến tranh thế giới,  Hàn Quốc nghèo nàn, lệ thuộc và độc tài, không được tôn trọng cho lắm nên gọi là Nam Triều Tiên – như chế độ Sài gòn cùng thời, thậm chí nghèo hơn Hòn Ngọc Viễn Đông. Người độc tài khét tiếng bị ghét bỏ và bị ám sát lần lượt cả vợ trước, chồng sau là Tổng thống Pak Chung-hee (tại vị 1963-1979). Ông ta từng ra lịnh đàn áp, bắn chết hơn 3.000 sinh viên biểu tình ở Quang Du và bắt kết án tử hình lãnh tụ đối lập Kim Dae-jung (sau này làm Tổng thống  do dân bầu)..
Tội ác của Pak Chung-hee là độc tài, thảm sát sinh viên  nhưng  có công  lớn đưa kinh tế đất nước hóa Rồng nhờ động lực là các Chebol và xác lập nền pháp trị làm nền tảng cho dân chủ đa nguyên đa đảng – một chỉ dấu của chế độ chính  trị văn minh bền vững. Một đất nước còn tệ hơn Nam Việt Nam cùng thời, vậy mà nay kinh tế Hàn Quốc đứng hạng 11 trên thế giới, cạnh tranh qua mặt Nhật Bản về thị trường, thị phần ô tô, điện tử và một phần công nghệ đóng tàu thật đáng khâm phục.
Hay hơn nữa là con gái nhà độc tài Pak Chung-hee, nay  là Tổng thống Pak Geum-hye (2/2013) lại thắng áp đảo trong cuộc bỏ phiếu dân chủ cạnh tranh giữa các đảng phái. Ánh hào quang hiện tại soi sáng lịch sử nghèo nàn, độc tài, đen tối để lộ ra một Đại Hàn Dân Quốc như ta thấy làm thế giới phải ngả mũ thán phục. 
Còn Việt Nam ta lịch sử oai hùng trước chiến tranh thế giới, sau 1975 là” trái tim và lương tâm thời đại”. Vậy mà ta, nay lại hạng trên dưới 100 trong số hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ. Xin vay, bám bầu vú viện trợ ODA sử dụng không hiệu quả, chỉ số ICOR cao ngất ngưởng nhất khu vực, để lại khoản nợ khổng lồ cho con cháu, trong khi giáo dục xuống cấp, tham nhũng tràn lan, lòng người ly tán, có đau và nhục không chứ ?!. Vậy thì không ai lớn và trẻ con mãi (chứ không phải trẻ mãi – thanh xuân – không già) là đúng quá rồi!
Bây giờ dân 90 triệu rồi, so ra dân trí cao hơn thời xưa nhưng chí khí lại thụt lùi, quan trí tụt hậu so với thế hệ vàng Hồ Chí Minh, không chịu làm theo lời dạy của Người: “Dân chủ là  để  cho người dân được mở miệng”.
Chỉ riêng chuyện đất đai, nhiều người đã nói mãi, nói rất đúng về khái niệm mơ hồ sở hữu toàn dân chỉ là kẽ hở cho nhóm lợi ích, là nguyên nhân chủ yếu khiếu kiện gây bất ổn xã hội bấy lâu nay nhưng rồi đa số đại biểu Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước vẫn phải bấm nút theo hướng đã được “chỉ tay”! Trong phạm trù sở hữu được nêu ra, nên chăng ta cứ nôm na hóa vấn đề như câu cửa miệng, dân giã thường đặt ra để cân nhắc, đắn đo, suy xét : “Ai nắm đằng chuôi “.  Và, thế là rõ ngay cái thế : Ai sẽ “đứt tay” khi cái “chuôi” ngọ nguậy?!
Trong lịch sử, chế độ quân chủ coi đất là của Thiên tử. Chế độ ấy gần như không lúc nào yên được vì người nông dân (nông nô) không ngày nào được ổn định trên mảnh đất mà mình canh tác (vì chủ đất thu hồi – lấy lại lúc nào không biết). Và chế độ quân chủ độc tài vĩnh viễn bị xóa bỏ. Chế độ tư bản, khởi đầu từ Hoàng đế Napoleon: Nông dân có quyền làm chủ đất. Ngày nay, nhân dân Pháp vẫn còn thỉnh thoảng hô: “Hoàng đế muôn năm!”. Vậy là sao? Chế độ công hữu đất đai dưới các chế độ gọi là Xã hội Chủ nghĩa chưa thấy ở đâu mà yên. Hơn chục nước XHCN  đã không tồn tại, chỉ duy nhất còn vài nước “lai lai” kinh tế thị trường mà sở hữu đất đai thì là của Nhà nước (còn công là của cá nhân) như Trung Quốc và Việt Nam ta. 
Người ta thường nói đất nước suy thoái cần phải chấn hưng. Từ chấn hưng phong phú, giàu ý nghĩa. Trong “chấn hưng”, có cải cách, có đổi mới, có khôi phục, có bảo tồn, có phát triển. Chấn hưng đấ́t nước là chấn hưng những gì? Thế giới thường nói: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Nước ta đã bổ sung: Mở mang văn hoá, chấn hưng giáo dục, và phát triển con người.
Tiếc thay, cũng như cảm thán của cụ Tản Đà năm xưa, ngày nay 90 triệu dân muốn chấn hưng đất nước nhưng  lĩnh vực quan trọng quyết định là chế độ xã hội, thể chế  chính trị, và chống tham nhũng thì ngay cả các đại biểu Quốc hội cũng chưa được nói, được viết và được làm có hiệu quả như cần có.
Lâu rồi, đã có lần người viết bài này đưa ra nhận xét, nhìn ra thế giới, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm thành công của các con Rồng Châu Á là nhờ :
Thứ nhất, có một người đứng đầu là bậc hiền tài giầu tài năng đức độ, không bị lực cản kìm hãm hoặc hạn chế, mà có tổ chức và cơ chế thuận lợi để phát huy hết tài năng,  đức độ làm giầu, làm đẹp, giữ vững và mở mang đất nước.
Thứ hai, cần có nguồn nhân lực gồm những cán bộ hành chính biết quản lý Nhà nước pháp quyền hiện đại có hiệu lực và hiệu quả cao. Những doanh nhân biết kinh doanh tại các doanh nghiệp công và tư đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao cho bản thân, cho doanh nghiệp và cho đất nước. Các nhà khoa học, ban đầu biết lựa chọn, tiếp thu, vận dụng tốt các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trên thế giới, tiếp đó biết tiến lên sáng tạo thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của chính nước nhà.
Thứ ba, có một dân tộc với một sự thông minh và tài năng được đào tạo, bồi dưỡng bởi một nền giáo dục quốc dân hiện đại có chất lượng cao.
Ngày nay, ngẫm suy bài hockinh nghiệm hóa Rồng của các nước và 2 câu thơ nói trên của cụ Tản Đà chỉ biết cảm thán: ... "Không may thay cho nước ta”! 
TVT
(Tác giả gửi bài đến BVB)
 
-----------------

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC THỜI KỲ HẬU STALIN - Kỳ 4

  
 ·        TRỊNH ÁNH HỒNG
Lê Quỳnh dịch
(tiếp theoKỳ 4)
… Những kêu gọi tương tự cũng được nghe ở các nước Đông Âu khác vào cuối mùa Xuân 1957, khi chiến dịch “chỉnh huấn” đạt cao trào ở Trung Quốc. Đáp lại lời kêu gọi này, một tạp chí của Hungary cảnh báo ngày 26-5: 
“Trong số các phong trào Trung Quốc lan toả trong địa hạt văn chương, nghệ thuật, khoa học… thì ‘Trăm hoa Đua nở’ lan toả mạnh nhất ở Hungary… Trong giai đoạn đầu tiên nó bị công kích vì đưa tới sự giải phóng đời sống trí thức và giảm sự hà khắc của chủ nghĩa Marx… Đồng chí Mao Trạch Đông, người quen thuộc với trí thức Trung Quốc và biết đa số họ trung thành với chủ nghĩa xã hội, đã bảo vệ khẩu hiệu ‘Trăm hoa”… sau kinh nghiệm buồn của quá khứ có lẽ chúng ta cần thận trọng trước ý tưởng thực thi các biện pháp của Trung Quốc ở Hungary.” [23] .
Ngay từ khi Trung Quốc mới bắt đầu dung dưỡng cho nhiều loại “hoa”, Moskva đã quan sát với sự nghi ngại, không đồng tình và thậm chí lo lắng, đặc biệt sau cuộc nổi dậy Hungary. Theo các nguồn Trung Quốc gần đây mới công bố, khi Trung Quốc quyết định loan báo Chính sách Trăm hoa, họ gửi Lục Định Nhất, người đầu tiên nói về chính sách, đến thông báo cho Pavel Yudin, đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh. Việc này là cách hành xử thông thường, tức là Moskva và Bắc Kinh cần thông báo cho nhau trước về các thay đổi chính sách quan trọng – mặc dù Moskva đã không làm thế trong trường hợp “Báo cáo mật” của Khrushchev, làm Bắc Kinh giận dữ. Sau khi Lục Định Nhất giải thích cho Yudin, đại sứ Liên Xô đưa cho ông Lục một bài báo của Lenin liên quan đến chủ đề này nhưng chống lại sự dung thứ. Trên đường từ sứ quán về nhà, Lục thở dài với Yu Guangyuan, thư ký riêng, rằng “Sự giáo điều của người Nga thật quá sâu!” [24] .
Sau khủng hoảng Ba Lan – Hungary, việc Trung Quốc vẫn đi theo xu hướng mở rộng tự do làm Moskva càng thêm bất an. Vào tháng Tư 1957, Yefremovich Voroshilov, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Tối cao Liên Xô, thăm Trung Quốc. Theo Li Yueran, người phiên dịch tiếng Nga cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ 1949 đến 1964, Voroshilov bày tỏ lo ngại về Chính sách Trăm hoa với Mao ít nhất hai lần. Voroshilov nói ông không hiểu vì sao các ý kiến chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội lại được phép đăng lên báo. Ông cảnh báo Mao về nguy cơ của sự nới rộng, và lấy Hungary làm ví dụ. Mao trấn an rằng Trung Quốc không phải là Hungaryvà người cộng sản Trung Quốc không muốn “hoa và cỏ mọc chung trong nhà”. Ông nói, ông tự tin là nếu kẻ thù muốn lợi dụng để lật đổ Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng sẽ chỉ “để lộ mình mà thôi”. [25] 
Thái độ điển hình của Liên Xô trước các chính sách cởi trói của Trung Quốc, và đặc biệt trước sự rùm beng trên báo chí Trung Quốc về chính sách Trăm hoa, được thể hiện qua lời nói của Khrushchev. Khrushchev rất khó chịu trước việc người Trung Quốc “giỏi tìm ra những cụm từ hấp dẫn” và rằng họ “biết cách đưa ra khẩu hiệu thích hợp vào lúc thích hợp”. [26] Nhớ lại sự bối rối gây nên bởi khẩu hiệu của Trung Quốc ở Liên Xô, ông nói: 
“Các vị tuyên huấn của chúng tôi hỏi tôi cách thức phản ứng. ‘Nhân dân ta đọc báo về chiến dịch mới này ở Trung Quốc’, họ bảo. ‘Cái trò Trăm hoa này đang len lỏi vào xã hội Liên Xô’. Chúng tôi hướng dẫn cho các tổng biên tập bỏ đi chủ đề Trăm hoa, không đụng đến nữa. Quan điểm của chúng tôi là Trăm hoa là khẩu hiệu để tiêu thụ trong Trung Quốc thôi, và nó không áp dụng ở Liên Xô. Chúng tôi tránh phê phán trực diện chiến dịch nhưng cũng không cổ vũ... Bất kì người nông dân nào cũng biết có những khóm hoa có thể hái, nhưng có những cái phải bỏ. Một số cây ra quả đắng chát, có hại cho sức khoẻ, và có những cây mọc loạn lên và bóp nghẹt đời sống các hạt mầm quanh chúng.” [27] 
Khrushchev đã từng gặp rắc rối vì chiến dịch chống Stalin, vì thế ông không thể cho phép có thêm chiến dịch cởi trói, mặc dù ông hiểu là Mao “muốn kích thích nhân dân bày tỏ tư tưởng” để phát hiện những người ông xem là “có hại”. 
Khrushchev cũng bác bỏ luận điểm của Mao về mâu thuẫn trong nhân dân ở các nước xã hội chủ nghĩa, một luận điểm được tán thưởng ở Đông Âu. Ngày 2-6-1957, trong cao trào chiến dịch chỉnh huấn và ngay trước chiến dịch chống phái hữu, Khrushchev trả lời phỏng vấn của đài Mỹ CBS tại Moskva. Khi được hỏi về thái độ đối với tuyên ngôn gần đây của Bắc Kinh rằng tại các nước xã hội chủ nghĩa “có thể tồn tại mâu thuẫn giữa quần chúng và lãnh đạo”, Khrushchev trả lời nhát gừng: “Chúng tôi tin rằng chúng tôi không có thứ mâu thuẫn như thế.” [28] 
Toàn bộ các chương hồi này chứng tỏ một ảnh hưởng mạnh của Trung Quốc ở Đông Âu và ngay cả ở Liên Xô trong năm 1957. Sự bất đồng và cảnh báo của Moskva và nỗ lực ngăn trở sự cởi trói ở Đông Âu và Liên Xô cho thấy hai lo lắng lớn. Thứ nhất là sự lo ngại về ổn định chính trị ở các nước vệ tinh của Liên Xô; thứ hai là sự cảnh giác của Liên Xô trước thách thức của Trung Quốc đối với vai trò lãnh đạo trong khối cộng sản, đặc biệt khi mà vị trí của Moskva đã bị suy yếu sau quá trình giải ảo Stalin và khủng hoảng Ba Lan – Hungary. 
Cuối cùng và cũng trớ trêu, ảnh hưởng của Trung Quốc cũng được phản ánh từ phía ngược lại. Khi Mao ra dấu về chiến dịch chống phái hữu đầu tháng Sáu 1957, những người bảo thủ ở Đông Âu cảm thấy nhẹ nhõm. Một số người có phản ứng nhanh chóng, thậm chí có hành động tương tự. Ví dụ, ở Đông Âu phóng viên báo Đảng Neues Deutschland tường thuật từ Bắc Kinh ngày 12-7: “Trọng tâm chính hiện nay là nhắm vào ‘phái hữu’… Nay những người cổ vũ cho ‘phái hữu’ đang bị lột trần”. [29]Vài tháng sau, đầu năm 1958, Ulbricht mở chiến dịch chống “xét lại” trong Đảng với việc loại bỏ Karl Schirdewan (thành viên Bộ Chính trị), Fred Oelßner (thành viên Bộ Chính trị và nhà tư tưởng lâu năm của Đảng), Ernst Wollweber (Thứ trưởng An ninh), và Paul Wandel (một kinh tế gia Marxist có ảnh hưởng). Họ đều từng có thiện cảm và muốn áp dụng các chính sách của Trung Quốc, đặc biệt là Chính sách Trăm hoa. Chiến dịch ở Đông Đức cũng trừng phạt nhiều trí thức đọc nhầm thông điệp từ Trung Quốc và đã để lộ mình, giống như những nhân vật phái hữu ở Trung Quốc bị sập bẫy của Mao. ..
---------------
·        Chú thích -1:
[23]Như trên, trang 104
[24]Chen Qingquan, "Làm sao Lục Định Nhất lại cổ vũ chính sách ‘Trăm hoa’?”, Yenhuang chunqiu, tháng Chín 2000, trang 6
[25]Li Yueran, The Leaders of the New China on the Stage of Foreign Affairs (Beijing: People's Liberation Army Press, 1990), trang 127–128
[26]Nikita Khrushchev, Khrushchev Remembers (Boston: Little, Brown, 1974), trang 275
[27]Như trên, trang 271
[28]Hudson, "China and the Communist 'Thaw,'" trang 307
[29]Griffith, Communism in Europe, 1: 78–79, 105
Nguồn: Yinghong Cheng, "Beyond Moskva-Centric Interpretation: An Examination of the ChinaConnection in Eastern Europe and North Vietnam during the Era of De-Stalinization", Journal of World History
--------------
Trường hợp Việt Nam 
Ảnh hưởng của Trung Quốc ở Việt Nam cần được xem xét theo một ánh sáng hoàn toàn khác. Nếu ảnh hưởng Trung Quốc ở Đông Âu đến muộn (sau khi Stalin chết) và chỉ ở mức hạn chế so với ảnh hưởng của Liên Xô tại khu vực, thì mối quan hệ thân cận – được thúc đẩy nhờ liên hệ truyền thống và văn hoá giữa hai nước – giữa những người cộng sản Việt–Trung sâu sắc hơn và có từ thập niên 1920. Nhiều người cộng sản Việt Nam, gồm cả Hồ Chí Minh, từng tham gia phong trào cộng sản Trung Quốc và ẩn náu ở Trung Quốc trong thập niên 1930 và đầu 1940. Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 không chỉ đẩy mạnh hỗ trợ bằng hình thức cố vấn và vật chất cho cách mạng Việt Nam, mà còn cung cấp một mô hình cạnh tranh. Tháng Ba 1951, tại Đại hội Hai của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng của Mao được đặt chung với chủ nghĩa Marx–Lenin làm kim chỉ nam cho cương lĩnh mới của Đảng. Hình của Mao được treo ngang hàng với hình của Marx, Engels, Lenin và Stalin. [1] 
Trong khung cảnh lịch sử này, những phát triển ở Việt Namtrong giai đoạn hậu Stalin có nhiều liên hệ với Trung Quốc hơn là với Liên Xô. Với các nước Đông Âu, các vấn đề lớn nhất của họ lúc này xuất phát từ việc thực thi mô hình Stalin như quá nhấn vào công nghiệp nặng, thiếu các vật phẩm căn bản hàng ngày, sự phẫn uất vì các đợt thanh trừng, sự tàn nhẫn của công an, và lại thêm cả kiểm soát chính trị từ Moskva. Khác với Đông Âu, những vấn đề khó khăn nhất của Bắc Việt là do bắt chước mô hình Trung Quốc. Trong số các hành động mượn của Trung Quốc, có ba cái đặc biệt gây bức bối. Thứ nhất là cải cách ruộng đất: bất kì một nông dân giàu có nào cũng có thể bị gán là “địa chủ”, bị đưa ra “toà án nhân dân” và bị hành quyết mà không cần tiến trình pháp lý nào, và những ai thông cảm thì có thể bị phạt nặng. Thứ hai là cải tạo tư tưởng: các trí thức, ngay cả những vị đã đồng lòng tham gia cách mạng, bị bắt tham dự các trường, lớp học đặc biệt để cải tạo và bị buộc thú tội. Thứ ba là kiểm soát trí thức bằng một chính thể quân sự. Điều này là vì cho đến tháng Hai 1955, Bắc Việt không có Bộ Văn hoá, và đa số trí thức tham gia kháng chiến chống Pháp – đặc biệt là văn nghệ sĩ – đều nhập ngũ và chịu kiểm soát của Tổng cục Chính trị, một cơ quan hình thành theo mẫu của Liên Xô, và trực tiếp hơn, của Trung Quốc. Nhiều chính trị viên đã học ở Trung Quốc và chỉnh huấn hoạt động của trí thức thông qua kỷ luật quân đội: ví dụ, khi họ muốn ra khỏi doanh trại thì cũng phải có thẻ, giống như những người lính. 
Sau cái chết của Stalin, giống như các nước khác trong thế giới cộng sản, các tiếng nói chống đối cũng xuất hiện trong giới trí thức Bắc Việt ngay từ năm 1955. Vào tháng Hai, khoảng 30 nhà văn, hoạ sĩ trong quân đội viết “Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá”, bao gồm ba đòi hỏi: 1) trao lại sự lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ; 2) thành lập một hội văn nghệ bên trong cơ cấu quân đội; 3) bãi bỏ cơ chế quân sự kiểm soát văn nghệ sĩ phục vụ trong quân đội. [2] Nhân vật hàng đầu trong nhóm phản kháng này là Trần Dần. Cùng tháng ấy, Trần Dần dẫn đầu khoảng 20 nhà văn, hoạ sĩ đến nói chuyện với tướng Nguyễn Chí Thanh, người đứng đầu Tổng cục Chính trị. Họ đề đạt ba yêu cầu tập trung vào tự do sáng tạo cho nhà văn và nghệ sĩ. Thỉnh cầu chính trị này bị viên tướng từ chối và ông lên án các trí thức bộ đội, rằng hành động của họ “chứng tỏ ý thức hệ tư bản đã bắt đầu tấn công các đồng chí”. [3] Thất bại của thỉnh nguyện này làm các trí thức bực bội, những người ngây thơ tin rằng sự đóng góp của họ cho cách mạng đã chiếm được niềm tin của Đảng, và điều này chuẩn bị cơ sở cho thách thức quyết liệt hơn của giới trí thức vào năm sau. 
Đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn, Trần Dần và nhóm của ông góp một phần vào phong trào “Tan băng” trong thế giới cộng sản hồi giữa thập niên 1950, do các nhà văn, nghệ sĩ thúc đẩy và nhắm vào học thuyết “hiện thực xã hội chủ nghĩa” của Stalin và sự kiểm soát của Đảng đối với trí thức. [4] Nhưng trường hợp Trần Dần cũng thể hiện một liên hệ với Trung Quốc. Ông có mặt ở Trung Quốc năm 1954, khi vụ Hồ Phong xảy ra. Hồ Phong, một nhà phê bình văn học và là đảng viên lâu năm, gửi một lá thư dài cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng Bảy 1954, chỉ trích sự thống trị của các cai tổng văn nghệ, rằng việc ép buộc xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa đã không để cho sáng tạo có tự do, và thái độ quan cách của các lãnh đạo văn nghệ càng làm cho nhà văn và trí thức bực bội. Mặc dù ông không có ý định thách thức quyền uy của Đảng, nhưng hành động của Hồ Phong phản ánh sự bực bội trong nhiều trí thức, nghệ sĩ và được xem là bằng chứng sớm nhất của sự phân rẽ giữa Đảng và trí thức sau ngày thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nhưng đến cuối năm 1954, cánh văn nghệ của Đảng mở cuộc phản kích và buộc Hồ Phong làm tự kiểm, và đến tháng Năm 1955, chiến dịch chống Hồ Phong đã trở thành rầm rộ. Ông bị bắt tháng Sáu 1955 và bị giam cho đến cuối kỳ Cách mạng Văn hoá …
(còn tiếp)
--------------
** Chú thích – 2:
[1]Hoàng Văn Hoan, My Memoir (Beijing: People's Liberation Army Press, 1987), trang 277
[2]Như Phong, "Intellectuals, Writers and Artists", trong North Vietnam Today, P. J. Honey chủ biên (New York: Praeger, 1962), trang 81
[3]Kim N. B. Ninh, A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam 1945–1965 (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2002), trang 130–131
[4]Để đọc một mô tả chi tiết về một trong các ví dụ “tan băng” ở Đông Âu, xem bài "Poland's Literary 'Thaw': Dialectical Phase or Genuine Freedom?" của Magnus J. Krynske, in trong The Polish Review, mùa Thu 1956, trang 8–21.
---------------- 

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

KHÁNH THÀNH VÀ KHÁNH KIỆT


 * BÙI VĂN BỒNG
            Báo cáo đánh giá nền kinh tế-xã hội của đất nước thường là rất lạc quan, tăng trưởng, kinh tế đi ên, khả năng đẩy lùi lạm phát. Trong các nghị quyết của đảng, phần kiểm điểm đánh giá măt manh, còn ‘kêu vang’ hơn. Rồi thì rầm rộ, hoành tráng các Lễ khánh thành công trình cầu này, đường kia, khu công nghiệp nọ. Nghĩa là “đất nước vẫn đổi thay từng ngày” phơi phới theo mục tiêu và chí quyết “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XCNXH”.
Nhưng, xét về thực tế, chúng ta đang đi trên những cây cầu hiện đại, đắt tiền, những con đường cao tốc rộng rãi, thấy những đô thị, những khu công nghiệp, dịch vụ  mở tràn ra ruộng lúa, mà không an lòng. Không thể tự hào, mà trái lại: Vô cùng lo lắng! Bởi những công trình lớn, hiện đại đó chưa phải tiền của ta, không phải khả năng, tiềm năng nội lực, không phải hầu bao ngân khố chi ra…mà đang nợ đìa ra.
             Có câu chuyện dạng như ‘trưởng giả học làm sang’. Một anh nhà quê nghèo, nhưng khoái nổ, đã liều lĩnh thế chấp đất, nhà vay tiền ngân hàng, xây nhà cao tầng giữa nông thôn, xe máy, tiện ngi trong nhà toàn hàng xịn, vợ con bỗng nhiên “đổi đời”, ăn mặc xe xua. Anh ta tự xưng là tỉ phú, do biết cánh ‘mạnh dạn, đổi mới làm ăn’. Nhưng nếu ai hỏi làm ăn cách gì mà hay vậy? Anh ta chỉ cười trừ: “Bí mật”. Ai cũng khen. Nhưng một ngày kia, ngân hàng xiết nợ, không lấy đâu ra trả, đành ra toà lãnh án. Vợ con không nơi cư trú.
            Sự “đổi mới” bộ mặt đất nước ta cũng tương tự vậy. Tiền ở đâu? Chạy tứ tán đi vay nước ngoài.
        Một số liệu thống kê không mới, nhưng còn tính thời sự:  Theo báo Dân Trí, tổng nợ công năm 2012 ước tính khoảng 55,4% GDP. Tuy nhiên, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của DNNN và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác thì nợ công Việt Nam lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn 60% GDP. Tại báo cáo nghiên cứu "Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam", Uỷ ban Kinh tế cho biết, tính đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Namvào khoảng 54,9% GDP, trong đó nợ công nước ngoài và nợ công trong nước lần lượt là 30,9% và 24,0% GDP. Các con số tương ứng ước tính cho năm 2012 là 55,4% GDP; 29,6% GDP và 25,8% GDP. Một số liệu mơi shơn: Theo ước tính, với tổng số nợ công gần 70,6 tỷ USD hiện tại, mỗi người Việt Nam đang phải gánh 787,9 USD nợ công. Dù vậy con số này thấp hơn khá nhiều so với các nước trong khu vực.
Tỷ lệ này rõ ràng đã vượt xa so với ngưỡng an toàn (60% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Đồng thời, cao hơn nhiều so với tỷ lệ được công bố trên Đồng hồ nợ công thế giới của Economist. Uỷ ban Kinh tế của Quốc Hội cho rằng, thách thức đầu tiên trong việc quản lý nợ công Việt Nam đó là việc xây dựng một hệ thống cung cấp và quản trị thông tin nợ công/nợ nước ngoài một cách minh bạch và nhanh chóng. Điều này cần có sự nhìn nhận đúng đắn của các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Việt Nam về vấn đề quản lý rủi ro nợ công hiện nay.
Còn đáng lo lắng nhiều hơn nữa, nợ nước ngoài tính bằng nội tệ tăng với tốc độ chóng mặt. Các chủ nợ lớn của Chính phủ Việt Nam bao gồm Nhật (chiếm 34,3% tổng nợ) và các tổ chức quốc tế như IDA (24,9%) và ADB (15,0%). Mỹ và khối EU chỉ chiếm lần lượt 0,3% và gần 6,9% tổng nợ của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên nợ theo đồng tiền của các nước/khu vực này lại chiếm tỉ trọng lớn.
Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã phát hành được 7 kỳ Bản tin nợ nước ngoài, bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ và nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Thế nhưng, con số cũng chưa thể tin được, khả năng lớn hơn, rà lại các lần công bố đèu không khớp, khả năng con số ảo là không tránh khỏi.
Tính đến thời điểm 15 giờ ngày 17/1/2013, tổng số nợ công của Việt Namtheo tính toán của “Đồng hồ nợ công toàn cầu” là 70.576.229.508 USD. Với dân số 89.539.016 người, trung bình mỗi người Việt Nam đang gánh số nợ tương đương 787,9 USD. So sánh với GDP, số nợ công của Việt Nam tương đương khoảng 49,5% với tốc độ tăng hàng năm là 13%. So với các nước trong khu vực, Việt Nam có mức nợ công tính theo đầu người khá thấp. Con số này ở Indonesialà 917,69 USD/người, ở Philippine là 1213,74 USD/người, ở Thái Lan là 2640,8 USD/người trong khi ở Malaysiacon số này lên tới 5936,87 USD/người. Số liệu của các quốc gia khác trong khu vực không được công bố. Nếu xét theo tỷ lệ nợ công trên GDP, Indonesia là nước có tỷ lệ này thấp nhất trong khu vực, chỉ khoảng 24,8%, chưa bằng một nửa tỷ lệ của Malaysia (56,8%) hay Philippine (49,5%). Con số này của Thái Lan là 48%. Đối với Việt Namnợ công hiện được định nghĩa bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. 
            Phát triển kinh tế đất nước, bài toán cho ngân sách quốc gia bằng ‘công nghệ đi vay, chịu nợ dài hạn’, rồi lấy tiền đó vẽ ra các dự án, công trình, để  tham nhũng, thì chắc rằng trên thế gới chỉ có Việt Nam dám ‘chơi’ độc  đáo và liều lĩnh như vậy. Thành thử, ‘khánh thành’ một công trình nào đó là thêm một hồi còi báo động về ‘kháh kiệt’.  Không thể vơ vào những công trình mới khánh thành là “thành tựu đổi mới” dưới sự lãnh đạo của Đảng! Cho nên, với kiểu ‘độc nhất vô nhị’ này, với đà này, Tổng bí  thư Nguyễn Phú Trọng đã dự báo rất thật lòng:  “Đến hết thế kỷ 21, Việt Năm chưa hẳn đã có CNXH hoàn thiện!”.

BVB 
-----------------