Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

LÁNG GIỀNG ĐIỂM TIN - Thứ Bảy - 2/11/2013



1 - BA SÀM 
CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
- Truyền thông về quyền con người: Cần chủ động, tích cực, gắn “xây” với “chống” (QĐND). “Trong một số trường hợp, việc đấu tranh phản bác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá cách mạng của các thế lực thù địch còn bị động, một số bài viết trên báo, tạp chí chưa sâu sắc, thuyết phục” . - AFR Dân Nguyễn: Ai nuôi hacker? (Quê Choa).
- Bùi Văn Phú: Oriana Fallaci gặp Đại tướng Giáp (DĐXHDS).
- BNS Tự do Ngôn luận: Ưu quyền và độc quyền!!! (DLB).
Phan Châu Thành – Đảng CSVN: Thu hồi đường phố? (Dân Luận). “ Ngay cả Cụ Tôn được họ 'thờ …hờ' trong Nhà Bảo tàng chắc cũng muốn kêu oan: Đừng lấy tên tôi để tham nhũng nữa, để hành dân nữa, để bôi nhọ Lịch sử dân tộc nữa, để đưa dân tộc đi ngược Thời đại nữa! Tôi sống làm 'lãnh tụ bù nhìn' cũng đã nhục lắm rồi, nay tôi chết rồi hãy đế tôi yên ở quê Long Xuyên, đừng 'thờ hờ' tôi trong chùa bà đanh thế này, khổ tôi và đau lòng con cháu tôi lắm các đồng chí đảng viên cộng sản ơi! ”
- Thư ngỏ của TS Vũ Duy Phú: QUỐC HỘI CÓ THỰC SỰ LÀ ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN? (Bùi Văn Bồng).
Nguyễn Văn Thạnh – Những sai lầm “thơm ngon” (Dân Luận). - CHẾT CHẲNG ĐƯỢC CHÔN! (Nguyễn Tường Thụy). – Mời xem lại phát biểu của ông Nguyễn Sinh Hùng năm 2010: Phó thủ tướng: Vinashin có thể có lãi từ 2013 (VnEconomy). “ Vinashin vẫn tiếp tục lỗ, nhưng nếu thị trường tốt, quản trị tốt, quản lý tốt thì sang năm có thể tiếp tục lỗ ít, và năm 2012 có thể sẽ đứng vững được và giảm lỗ. Từ năm 2013-2014 sẽ trở lại lãi “.Lẽ ra ông Nguyễn Sinh Hùng nên nói rằng: Vinashin có thể có lãi từ năm 2017, vì đến năm 2016 ông mới xong cái chức Chủ tịch Quốc hội, lúc đó ông đã “về vườn” rồi.
Ma quái giữa ban ngày – chuyện các nhà “ngoại cảm” (Chu Mộng Long). - Đạo Hồ và những nhà Ngoại cảm Việt Nam (DLB). - 'Cậu Thủy' và 'Cậu Hồ' (Blog VOA). - Trung tâm tìm kiếm hài cốt liệt sỹ “hạ nhiệt” sau vụ nhà ngoại cảm rởm (DT). - Giao lưu trực tuyến “Sự thật của nhà ngoại cảm” (PT). “ TS Vũ Thế Khanh: Về câu chuyện của Bích Hằng, tôi có thể khẳng định chắc chắn Bích Hằng là một trong những nhà ngoại cảm thật sự …” Làm sao ông tiến sĩ chứng minh được đâu là các nhà ngoại cảm “thật”, đâu là các nhà ngoại cảm “dõm”? - Vì sao người Việt nhẹ dạ tin ngoại cảm? (KP). - Thủ cấp tướng Phùng Chí Kiên được tìm thấy như thế nào? (ĐSPL).
Thánh Lễ Giỗ 50 Năm (Phay Van). - 'Tưởng niệm ông Diệm cho hy vọng hòa giải?' (Cùi Các). - Câu nói “thà giết lầm còn hơn bỏ sót” có phải của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm? (FB Tin Không Lề). “ Theo như mình được biết thì câu nói này không phải của ông Diệm mà có lẽ xuất phát từ câu nói của LS Nguyễn Mạnh Tường, trong bài phát biểu ngày 30 tháng 10 năm 1956 sau vụ cải cách ruộng đất. Nguyên văn câu nói đó như sau: 'Thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch'. LS Nguyễn Mạnh Tường nói câu đó là để phê phán những người CS trong vụ cải cách ruộng đất “. – Mời xem lại bài phát biểu của LS Nguyễn Mạnh Tường ngày 30/10/1956, phần phụ lục trong sách của GS Lê Xuân Khoa: Qua Những Sai Lầm Trong cải Cách Ruộng Đất (Ba Sàm).
50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: Xét lại nguyên nhân và hậu quả (Phần 1) (Da Màu). - Mấy lời ngắn ngủi về Ông (Nguyễn Tường Thụy). “ Rồi tôi lại được nghe người lớn nói chuyện rằng, Bác Hồ đến kẻ thù nó cũng phải nể phục. Ta gọi là thằng Ngô Đình Diệm, chứ phía chúng nó đâu có dám gọi Bác là thằng. Lớn lên, có học, có chút kiến thức văn hóa, tôi mới hiểu tại sao miền Bắc gọi ông Diệm là thằng, còn miền Nam không gọi ông Hồ là thằng. Tôi xấu hổ “. – Video Tổng thống Mỹ Eisenhower đón tiếp tổng thống Ngô Đình Diệm: NgoDinhDiem 1954-1956 (molang2).

KINH TẾ

VĂN HÓA-THỂ THAO 
TƯỢNG THẰNG CU ĐÁI (Nguyễn Trọng Tạo).
Cũ, mới (Nhị Linh).
Chơi TÂY MỖ (Vũ Nho).

GIÁO DỤC-KHOA HỌC

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG

QUỐC TẾ
This entry was posted on Saturday, November 2nd, 2013 at 02:00 and is filed under Điểm báo/ Điểm tin . You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.
Comments are closed.
BA SÀM is powered by WordPress | Design by Andreas Viklund | Ported by Ainslie
----------------

Trung Quốc - CON SỐ 5 GIỮA HÀ ĐỒ - Kỳ 5

* BÙI VĂN BỒNG
(tiếp theo - Kỳ 5)
5 – Quân Cờ Đen và quân Quảng Tây
* Trận cửa Thuận An
Cuối tháng 7 năm 1883, tại Hà Nội, toàn quyền Harmand họp với các tướng lĩnh Pháp và quyết định phải hành động gấp rút. Thời cơ đang rất thuận lợi vì chỉ hai tuần trước đó, ngày 17 tháng 7 năm 1883, vua  Tự Đức băng hà, triều đình Việt Nam đang bối rối trong việc chọn người kế vị, vì người cháu được vua Tự Đức chọn lên, tức vua Dục Đức, bị quan Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết lật đổ vì nghi vua Dục Đức chủ trương "thỏa hiệp" với Pháp.
Ngày 16 tháng 8 năm 1883, một hạm đội nhỏ gồm 7 tàu chiến, trong đó có hai tàu bọc thép, chở hơn một ngàn quân Pháp do Đô đốc Amédé Coubert chỉ huy tiến vào cảng Đà Nẵng. Hai ngày sau, quân Pháp dùng thuyền đi ngược lên sông Hương bắn phá pháo đài Trấn Hải của quân Nam. Quân Nam bắn lại suốt ngày hôm đó, nhưng do vũ khí quá thua kém nên đến cuối ngày các pháo lũy đều bị phá hủy, lực lượng phòng thủ bị tổn thất hết mà quân Pháp không bị thiệt hại gì, quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận, Lâm Hoành, Trần Thúc Nhân nhảy xuống sông tự tử. Quân Pháp chiếm được cửa Thuận An (Huế). Dưới sức ép quân sự của Pháp, ngày 25 tháng 8, nhà Nguyễn phải chấp thuận ký hòa ước với Pháp, theo đó chấp thuận sự bảo hộ của Pháp. Tuy nhiên các quan chủ chiến của nhà Nguyễn vẫn còn ở miền Bắc, và quân Cờ đen còn rất mạnh, nên chiến sự tiếp diễn.    >>+ Mời xem từ: > Kỳ 1  Kỳ 2   Kỳ 3  ;   Kỳ 4  
* Trận thành Sơn Tây
Ngày 15 tháng 8, 1.500 quân Pháp do tướng Bouet chỉ huy chia làm ba cánh mở chiến dịch tấn công. Quân Pháp dự định tấn công quân Cờ đen đóng ở phủ Hoài Đức(nằm ở vị trí sở Dịch Vọng huyện Từ Liêmphủ Hoài Đức, ngày nay là đường Nguyễn Phong Sắc quận Cầu Giấy) và làng Vệ (làng Vẽ (xã Đông Ngạc Từ Liêm)), rồi đánh về Sơn Tây. Cánh quân bên phải bị quân cờ Đen trong làng đánh lại quyết liệt và bị hệ thống chiến lũy quanh làng cản bước tiến. Đêm hôm đó quân Cờ đen bỏ phủ Hoài Đức rút về cố thủ ở đồn Phùng (quân Pháp gọi là làng Phong), xây dựng rất nhiều chiến lũy bắn vào quân Pháp. Sau ba ngày giao chiến đẫm máu, quân Pháp vẫn chưa chiếm được làng Vệ và làng Phong, mất 42 lính bị giết, phải rút về Hà Nội.
Ngày 1 tháng 9, được tin thắng trận ở Huế, quân Pháp lại tiến về Sơn Tây đánh quân Cờ đen. Lần này quân Pháp vào được làng Ba Giang (Pháp gọi là Palan và gọi trận này là trận Palan) thuộc huyện Đan Phượng (nằm tại ngã ba sông Đáynhận nước sông Hồng), nhưng khi đó nước lũ lên rất to, đê bị vỡ, khiến Lưu Vĩnh Phúc phải tưởng rằng quân Pháp phá đê cho nước tràn vào. Lưu Vĩnh Phúc cũng nhận được lệnh của Hoàng Kế Viêm rút về củng cố phòng thủ Sơn Tây. Triều đình Huế cử Nguyễn Trọng Hợp truyền lệnh cho Hoàng Kế Viêm (đóng ở Sơn Tây) và Trương Quang Đản (đóng tại Bắc Ninh) phải về kinh, các quan lại khi đó người thì tuân lệnh, người thì nộp bỏ ấn tín, bỏ về mộ quân phối hợp với quân Thanh để chống lại quân Pháp.
Tình hình quân Cờ đen tại Sơn Tây cũng không sáng sủa hơn nhiều. Thanh triều yêu cầu quân Vân NamQuảng Tây phối hợp hoạt động chặt chẽ với Lưu Vĩnh Phúc. Ngân khố tỉnh Quảng Tây cũng được chỉ thị cấp cho quân Cờ đen 100.000 quan bằng bạc làm quân phí, nhưng quân Cờ đen vẫn chưa nhận được đồng nào. Quân Quảng Tây dù được lệnh tiến về Sơn Tây, chỉ tiến đến Bắc Ninh rồi dừng lại, vì các sỹ quan Quảng Tây cho rằng thành Bắc Ninh mới có tầm quan trọng chiến lược như tuyến đầu phòng thủ tỉnh Quảng Tây, còn vai trò chủ yếu của Sơn Tây là bảo vệ tuyến đường thủy đi về Vân Nam. Kết quả là tham gia phòng thủ Sơn Tây, ngoài 5.000 quân của Hoàng Kế Viêm, chỉ có khoảng 3.000 quân Cờ đen, 1.000 quân Vân Nam và chừng 500 quân Quảng Tây[5].
Trong khi đó, Đô đốcCoubert vẫn tiếp tục củng cố lực lượng, quân Pháp nhận thêm nhiều đơn vị quân Ả rậpvà quân Lê Dương. Tới đầu tháng 12 năm 1883, thêm 4.000 quân Pháp đổ bộ vào Bắc kỳ, nâng tổng số quân Pháp ở Bắc kỳ lên 9.000 người. Ngày 11 tháng 12, 5.500 quân Pháp, trong đó có một đội lính bản xứ mộ tại Nam kỳ và một đại đội lính Bắc kỳtuyển từ những người theo công giáo, rời Hà Nội đi đánh thành Sơn Tây. Khoảng một nửa quân Pháp đi theo đường bộ, nửa còn lại theo đường thủy đổ bộ gần Sơn Tây (huyện Phúc Thọ). Thành Sơn Tây được xây dựng theo kiểu Vauban, nằm giữa thị xã Sơn Tây. Xung quanh thành Sơn Tây quân Nam đã xây một chiến lũy cao gần 20 bộ, dày 5 bộ[6], xung quanh có hào nước. Phía bờ sông Cáiquân Nam củng cố đê bối rất kiên cố, biến nó thành một chiến lũy mang tên Phù Sa (nay thuộc phường Viên Sơn thị xã Sơn Tây) vì đoán quân Pháp từ đường sông sẽ đổ bộ vào đây.
Ngày 14 tháng 12, quân Pháp theo đường sông đánh vào bờ đê sông Hồng. Có ưu thế cả về quân số và hỏa lực, quân Pháp tấn công dữ dội và tới chiều đã chiếm được đê bối. Tới tối, quân Cờ đen mở một cuộc phản kích để chiếm lại đê, nhưng một phần nhờ trời sáng trăng, quân Pháp đẩy lùi cuộc tấn công đó. Trong suốt ngày hôm sau, quân Pháp củng cố các vị trí chiếm được, rồi chuyển pháo lên bắn vào thành từ sáng đến tối ngày 16, quân Cờ đen đánh lại rất quyết liệt. Trời sẩm tối, quân Pháp mở cuộc tiến công chiếm chiến lũy đối diện bờ đê thì phát hiện quân Cờ đen đã rút vào thành. Đêm đó quân Nam và quân Thanh rút chạy, quân Cờ đen cũng phải rút lui theo lên thành Hưng Hóa thuộc Hưng Hóa ở mạn ngược sông Hồng. Quân Pháp mất 83 người bị giết và 380 người bị thương. Về phía quân Cờ đen và quân Nam mất chừng một nghìn người. Đến thế kỷ 20, khi làm thủy lợi ở vùng này (trạm bơm Phù Sa (Sơn Tây)), người ta vẫn còn thu thập được hài cốt hàng trăm quân (Việt Nam và Trung Quốc) chết trận.
Trong trận này, lần đầu tiên quân chính quy nhà Thanh trương kỳ hiệu đối đầu với quân Pháp. Tin thất trận truyền về Trung Quốc thoạt tiên làm nhà Thanh hoảng hốt, vì tưởng Lưu Vĩnh Phúc chết trận. Chỉ vài ngày sau khi thành Sơn Tây thất thủ, tuần phủQuảng Tây Trương Thụ Thanh dẫn một đoàn quân lớn tiến vào Lạng Sơnrồi cho củng cố thành Bắc Ninh. Khắp miền Bắc Việt khi đó đâu đâu cũng có quân Thanh và quân Việt đóng. Tháng 1 năm 1884, 12.000 quân Thanh do Sầm Dục Anh chỉ huy từ Vân Namtiến vào Lào Cai, rồi tiến vào Hưng Hóa hội binh với Lưu Vĩnh Phúc. Quân Cờ đen được tăng cường lực lượng, lên đến 3000 người trở lại. Tổng số quân Thanh ở Bắc Việt khi đó lên tới chừng 50.000 người[8], kể cả quân Cờ đen, đóng thành một vòng cung từ Hưng Hóa, Thái Nguyênđến Bắc Ninh.
* Trận thành Bắc Ninh
Trong khoảng thời gian 3 tháng sau trận Sơn Tây, quân Pháp được tăng cường lên 16.000 người, trong đó khoảng một phần tư là lính tập, và 10 đội pháo thủ. Tướng Millot được cử lên thay Đô đốc Courbet vào tháng 2 năm 1884. Quân Pháp định đánh thành Hưng Hóa trước, nhưng do đường sông cạn nước, pháo thuyền và thuyền tiếp tế không lên được, nên quân Pháp phải chuyển hướng sang chuẩn bị tấn công Bắc Ninh. Quân Thanh cho rằng quân Pháp sẽ theo con đường cái quan đánh vào Bắc Ninh, nên tổ chức rất nhiều vị trí phòng thủ dọc theo hướng đó. Quân Pháp chia làm hai cánh, cánh thứ nhất do thiếu tướng Brière de l'Isle đem quân qua sông Hồng, rồi theo sông Đuống (sông Thiên Đức) đi về phía đông. Cánh quân của thiếu tướng De Négrier ở Hải Dương, đi tàu đến Phả Lạilên bộ, sau khi hội quân với thiếu tướng Brière de l'Isle, cả thủy bộ theo sông Cầu(sông Nguyệt Đức) tiến đánh Bắc Ninh.
Quân Cờ đen đến Bắc Ninh một tuần trước đó đã tổ chức phòng thủ trên các ngọn đồi phía ngoài thành Bắc Ninh, nhưng sự chuẩn bị của quân Thanh nhìn chung rất sơ sài. Pháo thủ quân Thanh không biết sử dụng hiệu quả pháo binh, dù quân Thanh được trang bị khá đầy đủ, quân Thanh không bố trí trên các cao điểm xung quanh thành phố. Thêm vào đó quân Thanh cướp phá, nhũng nhiễu dân chúng, cưỡng bức đàn bà con gái nên dân chúng địa phương có thái độ rất thù nghịch với quân Trung Quốc.
Quân Pháp bắt đầu tấn công từ ngày 11 tháng 2 (âm lịch) và nhanh chóng chiếm đóng các điểm cao nhìn vào thành phố. Khi Đáp Cầu thất thủ, quân Quảng Tây thấy mất đường về Lạng Sơn, hoảng hốt bỏ chạy toán loạn về Thái Nguyên, quân Cờ đen lại rút chạy về Hưng Hóa. Quân Quảng Tây trong lúc hoảng loạn bỏ lại 10 khẩu pháo Krupp và 200.000 dollar bằng bạc, mang vác theo đàn bà con gái và của cải cướp bóc được, bị dân địa phương truy đuổi. Tối ngày 6 tháng 2 (âm lịch), quân Pháp vào được thành Bắc Ninh. Trận Bắc Ninh là trận thua chiến lược của quân Thanh, nên do thất bại nhục nhã này mà hai viên chỉ huy của quân Thanh bị chặt đầu, Hsu Yen-hsu (Từ Diên Húc) bị bắt về Bắc Kinh xử tội và chết trong ngục. Quân Pháp trận này chỉ mất 8 người chết và 40 người bị thương. Thiếu tướng Brière de l'Isle thừa thắng đem quân lên đánh Yên Thế, rồi một tuần sau đánh hạ thành Thái Nguyên.
*Trận thành Hưng Hóa
Thiếu tướng Brière de l'Isle cùng lữ đoàn thứ nhất theo con đường Sơn Tây lên Hưng Hóa, rồi dàn trận ở bên này sông Đà. Hai bên đánh nhau từ sáng ngày 15 tháng 3 (âm lịch), đến 2 giờ chiều thì quân Pháp sang sông ở chỗ gần huyện Bất Bạt. Chín giờ sáng ngày 16 tháng 3 (âm lịch), thiếu tướng De Négrier đem lữ đoàn thứ nhì tiếp đến, cả hai lữ đoàn cùng hợp lực tiến lên đánh. Chỉ chừng sau một giờ, quân Cờ đen và quân Thanh thấy không chống cự nổi, đốt hết phố xá, rồi bỏ chạy lên mạn ngược. Hoàng Kế Viêm kéo quân lên mạn núi, rồi đi đường thượng đạo rút về Kinh. Trưa ngày 12 tháng 4 (tức 17 tháng 3 âm lịch), quân Pháp vào thành Hưng Hóa, rối thiếu tá Coronnat đem một toán quân lên đánh phá đồn Vàng.
Quân Pháp đánh chiếm thành Hưng HóaTuyên Quangrồi ký Hòa ước Patrenôtre với triều đình Huế. Theo Hòa ước này, Triều đình Huế công nhận quyền Bảo hộ của Pháp. Phía Pháp cũng buộc Triều đình Huế từ bỏ thần phục nhà Thanh bằng cách giao nộp biểu tượng quyền lực của nhà Thanh là chiếc ấn bạc nặng gần 6 kg khắc hình lạc đà mà nhà Thanh dùng để phong vương cho vua Gia Long. Triều đình Huế không chấp nhận, kết quả là hai bên thỏa hiệp nấu chảy chiếc ấn đi để phá hủy nó.
*Trận Bắc Lệ
Tại Thiên Tân, trong các ngày 11 tháng 5 và ngày 9 tháng 6 năm 1884, nhà Thanh ký các thỏa thuận với Pháp chấp thuận Hòa ước Huế. Theo Hiệp ước này, quân Thanh sẽ rút khỏi Bắc Việt và bàn giao lại địa bàn này cho quân Pháp. Tướng Pháp Millot phái một cánh quân dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Dugenne gồm 800 binh lính và khoảng ngần ấy dân phu vận đồ lên tiếp nhận Lạng Sơn. Ngày 19 tháng 6 năm 1884, quân Pháp đến làng Bắc Lệ, chỉ cách Lạng Sơngần 30 km, thì phải dừng lại do mưa lũ. Ngày 23 tháng 6, khi quân Pháp tiếp tục tiến lên, họ bị quân Thanh mai phục ở hai bên đường bắn chặn lại làm vài người bị thương. Chỉ huy quân Thanh tại Lạng Sơn thông báo cho phía Pháp biết họ chưa có lệnh rút quân, dù rằng thời hạn 20 ngày để hoàn tất việc rút quân theo Hiệp định đã hết, và yêu cầu phía Pháp điện về Bắc Kinh để thúc giục chỉ thị giúp họ. Chỉ huy Pháp từ chối và đòi quân Thanh phải rút khỏi các vị trí trong vòng một giờ. Khi thời hạn hết, quân Pháp tiến lên liền bị quân Thanh mai phục sẵn, vũ trang bằng súng trường Remington, bắn chặn lại quyết liệt. Quân Pháp không tiến lên được, phải rút lui. Trận này quân Pháp mất 22 người chết và 60 người bị thương. Cuộc chiến tranh không tuyên bố giữa Pháp và nhà Thanh bùng nổ.
Các sỹ quan hải quân và lục quân Pháp tại chiến trường muốn đánh thẳng vào Bắc Kinh, nhưng Thủ tướng Pháp Jules Ferry chỉ chấp thuận tiến hành các hoạt động quân sự tại Đông Dương và vùng Biển Đông, vì ông lo ngại một cuộc tấn công vào Bắc Kinh sẽ chọc giận các cường quốc Âu châukhác, đặc biệt là Anh quốcNga. Hải quân Pháp dưới sự chỉ huy của Đô đốc Amédée Courbet phong tỏa các cảng biên Cơ LongĐạm Thủy của Đài Loan và tiến hành đổ bộ đánh các lực lượng quân Thanh trên đảo. Trong số những người tham gia chiến dịch có cả đại úy công binh Joseph Joffre, thống chế tương lai của nước Pháp.
* Trận Phúc Châu
Ngày 23 tháng 8 năm 1884, trong trận Phúc Châu, hải quân Pháp gồm 7 tàu chiến và hai tàu phóng lôi nhỏ loại 30 tấn, với hỏa lực vượt trội tấn công hạm đội Thanh bỏ neo tại cảng, (điều trớ trêu là hạm đội này được ông Prosper Giquel, một công dân Pháp xây dựng). Hạm đội Thanh có 9 tàu chiến, bao gồm cả tàu vận tải vũ trang và pháo hạm, chia làm hai cụm bỏ neo tại bờ tây bắc và tây nam của khúc quanh sông Mân, ngoài ra còn có một số ghe vũ trang, ca nô phóng lôi và 2 tàu vận tải nối liền hai cụm. Trận đánh diễn ra không quá 30 phút, quân Pháp tiêu diệt hoàn toàn hạm đội Thanh. Ngày hôm sau, thuyền chiến Pháp pháo kích và phá hủy công xưởng hải quân Thanh. Tới ngày 25 tháng 8, hạm đội Pháp hướng ra biển, trên đường đi họ bắn phá và dễ dàng tiêu diệt tất cả các pháo lũy của nhà Thanh bố trí dọc theo bờ sông, vì tất cả các pháo lũy này đều hướng ra phía biển. Kể từ mồng 1 tháng 10 năm 1884 đến tháng 6 năm 1885, quân Pháp chiếm đóng Cơ Long, và từ ngày 29 tháng 3 năm 1885 chiếm luôn Bành Hồ.
Tuy nhiên tại Bắc kỳ, quân Pháp không triển khai chiến dịch được vì mùa mưa đến. Điều này giúp cho quân Thanh tiến đến tận vùng châu thổ sông Hồng. Trong quá trình chiến dịch, quân Thanh vây hãm thành Tuyên Quang, được bảo vệ bởi một tiểu đoàn quân Lê-dương Pháp. Trận này cho tới giờ vẫn được ca tụng trong khúc quân hành của quân đoàn Lê-dương.
* Trận Shipu
Trong trận này, hải quân hạm đội Nam Dương nhà Thanh xuất phát từ Thượng Hải từ tháng 12, định phá vòng phong tỏa của hải quân Pháp. Lực lượng đặc nhiệm Thanh gồm có 3 tàu tuần dương hạm, 1 tàu khu trục và 1 thuyền buồm loại nhỏ, chỉ huy bởi Đô đốc Wu An-k'ang. Tới mãi tận giữa tháng hai, quân Thanh mới đến Shipu và chạm trán hạm đội Pháp, nhưng vì hạm đội Pháp có ưu thế vượt trội về hỏa lực nên quân Thanh quyết định nhanh chóng tháo lui. Chiếc khu trục hạm Yu-yuen và thuyền buồm Teng Ch'ing vì chạy chậm hơn nên bị rớt lại, phải quay lại bỏ neo tại cảng Shipu. Trong đêm ngày 14, rạng sáng ngày 15 tháng hai năm 1885, quân Pháp sử dụng 2 tàu phóng ngư lôi để tấn công quân Thanh. Khu trục hạm Yu-yuen bị đánh chìm, còn chiếc Teng Ch'ing có lẽ bị thủy thủ đoàn tự đánh đắm. Trận này thường bị nhầm với trận Foochow, vì trong trận đó quân Pháp cũng dùng ngư lôi để đánh chìm 2 tàu chiến của quân Thanh, trong đó có cả kỳ hạm của quân Thanh. Trận này còn được gọi là trận "Shei-poo".
Ba tuần dương hạm còn lại của Nam Dương hạm đội chạy về đến Ninh ba, cùng với 2 tàu hộ vệ của Phúc Kiếnbị hải quân Pháp phong tỏa trong cảng và không có bất kỳ một đóng góp quân sự gì cho tới khi chiến tranh kết thúc. Lực lượng Bắc Dương hạm đội cũng án binh bất động dù sở hữu một số tàu chiến hiện đại và có hỏa lực mạnh đủ để đương đầu với tàu chiến Pháp, nên dù hải quân Pháp bị dàn trải mỏng vẫn có thể phong tỏa bờ biển miền nam và tây nam Trung Quốc. Tuy bị nhiều thất bại, nhưng với cuộc chiến ở vào thế giằng co, nghịch lý là uy tín hải quân Thanh trên trường quốc tế dường như lại tăng lên một chút, vì đây là lần đầu tiên Trung Quốc đối đầu với một siêu cường Châu Âu và cuộc chiến ở vào thế bất phân thắng bại[9].
* Trận Ải Nam Quan và Lạng Sơn
Một đạo quân viễn chinh Pháp gồm 2 lữ đoànhành quân lên miền bắc xứ Bắc kỳ và chiếm Lạng Sơn vào tháng 2 năm 1885. Một lữ đoàn sau đó tiến về giải vây Tuyên Quang, nên tại Lạng Sơn chỉ còn lại một lữ đoàn không có lực lượng yểm trợ. Chỉ huy đơn vị này vì muốn tiêu hao sức mạnh tấn công của quân Thanh nên tổ chức tấn công quân Thanh dọc biên giới và bị đánh bại tại trận Trấn Nam Quan. Quân Pháp rút lui về Lạng Sơn và đánh bại cuộc tấn công của quân Thanh trong trận Kỳ Lừa. Tuy nhiên trong khi giao chiến, viên chỉ huy Pháp bị thương, và người thay thế ông ta, có lẽ bị hoảng hốt, vội vã hạ lệnh bỏ Lạng Sơn vào ngày 28 tháng 3. Lữ đoàn rút chạy hỗn loạn về vùng châu thổ sông Hồng, mất hết các chiến quả thu được trong chiến dịch năm 1885, khiến cho chỉ huy quân viễn chinh Pháp, Henri Briere de l'Isle, tưởng là tình hinh vùng trung châu đã trở nên hết sức nguy kich. Ông ta đánh điện báo về Paris, và hậu quả là chính phủ của thủ tướng Jules Ferry sụp đổ.
Vài ngày sau, Briere de l'Isle nhận ra là tình hình không đến nỗi xấu như ông ta tưởng, tuy nhiên Nội các mới lên thay ở Pháp đã quyết định chấm dứt chiến tranh.
Trận thua này, mà người Pháp gọi là "Sự kiện Bắc kỳ", là một scandal chính trị lớn cho những người ủng hộ chủ nghĩa việc bành trướng thuộc địa. Mãi cho đến cuối thập niên 1890 họ mới giành lại được sự tín nhiệm trên chính trường.
Hệ quả
Mặc dù phải rút khỏi Lạng Sơn, nhìn tổng thể thì quân Pháp vẫn chiếm ưu thế, cộng với các chiến thắng trên biển, khiến cho Lý Hồng Chương phải ký một hiệp ước gây nhiều tranh cãi ngày 6 tháng 9 năm 1885. Theo hiệp ước này, nhà Thanh chấp nhận Hòa ước Huế và từ bỏ quyền bá chủ trên lãnh thổ Việt Nam. Không lâu sau An-nam (Trung kỳ) và Bắc kỳ bị sát nhập vào miền Nam kỳ thuộc Pháp. Ảnh hưởng đáng kể nhất của cuộc chiến với Pháp là nó hạ bệ chính phủ lâu năm của Ferry. Ông Ferry không bao giờ có thể lại trở thành Thủ tướng được nữa.(Tai sao?)
Bản Hiệp ước này gây nhiều tranh cãi đến mức Lý Hồng Chương và chính quyền nhà Thanh phải chịu nhiều chỉ trích nặng nề, đồng thời tạo ra một làn sóng ái quốc khắp Trung Hoa. Cuộc chiến tranh là một bước quan trọng trong quá trình sụp đổ của nhà Thanh, do bị mất uy tín và do sự hủy diệt Nam dương Hạm đội. Nó cũng chỉ ra những yếu kém trong hệ thống quân sự cuối đời nhà Thanh, khi mà các đơn vị địa phương quân, cũng như bắc quân (gồm cả hải-lục quân) từ chối tham chiến. Tuy không bị thất bại trên chiến trường, nhưng các mục tiêu chính trị mà nhà Thanh đặt ra đều không thực hiện được, như ngăn chặn sự hiện diện quân sự của Pháp ở Bắc Việt, nhà Thanh phải chấp nhận mất nước chư hầu Việt Nam và chấp nhận tất cả các hòa ước mà Pháp đã ký với nhà Nguyễn. Về mặt quân sự, tuy các tổn thất nhân mạng có thể chấp nhận được, thì các thiệt hại vật chất rất to lớn và khó bù đắp. Hạm đội Phúc Kiến (tức Nam Dương hạm đội) bị hủy diệt, cảng Phúc Châubị phá hủy, tổn thất về khí tài, chi phí quân sự, thiệt hại kinh tế của nhà Thanh lên đến 100 triệu lạng bạc, đồng thời mắc nợ thêm 20 triệu lạng bạc nữa[10].
Hệ quả chính trị là phái cải cách trong chính phủ nhà Thanh hoàn toàn mất uy tín và bị gán trách nhiệm cho thất bại. Phong trào Tự cường thực hiện được hai mươi năm nay bị phá sản. Việc mất Việt Nam cũng mở đường cho Đế quốc Anh đặt yêu sách lên nhà Thanh đòi tách Miến Điện khỏi vùng ảnh hưởng của Trung Quốc vào năm 1885 (dù vẫn chấp thuận để Miến Điện tiếp tục triều cống), và Nhật Bản nhân cơ hội bắt đầu tỏ ý nhòm ngó Triều Tiên. (TL: WKP-TV)...
(còn tiếp)
------------------

QUỐC HỘI CÓ THỰC SỰ LÀ ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN?

Thư ngỏ của TS VŨ DUY PHÚ
Kính gửi - Quốc hội
 - Đồng kinh gửi Trung ương đảng,
 - Bộ Chính trị và Chính phủ
I. Đôi lời thật ngắn về cái “gốc”.
Từ xưa đến nay, mọi vĩ nhân về tư tưởng đều đã biết đứng trên vai của những vĩ nhân sống ở những thời đại trước mình. Các Mác đã biết tổng kết, chắt lọc những tư duy vĩ đại của “CNXH không tưởng” của thế kỷ 17,  tư tưởng Cách mạng vô sản Pháp thế kỷ 18 , và triết học Đức thế kỷ 19 . . . ..để đưa ra học thuyết Mác.
Ấy vậy mà, trên cơ sở diễn biến nhanh của thực tiễn (là chân lý) chỉ ngay trong thời đại của ông, Mác cũng tự cho là trí tuệ - tư duy của mình chưa được hoàn chỉnh, cần phải thay đổi, nên vẫn cố hoàn thiện từng bước, thậm chí tự bác bỏ nhiều phần của cái cũ (thời QTCS I) , đề xuất tư tưởng mới (dẫn tới QTCS II- XHDC ). Nhưng Lênin thì khác và thực chất là cuối cùng đã thất bại, vì ông hầu như chỉ bám chặt lấy “Tư tưởng vĩ đại” giai đoạn đầu còn nông nổi của chỉ một mình chàng thanh niên Các Mác (“Chế độ xưa ta mau đập tan tành”,mặc dù có lúc Lênin đã ngộ ra, đã làm “Chính sách kinh tế mới”, nhưng sửa sai không kịp (vì Stalin còn lâu mới hiểu nổi đường lối, chiến lược mới của Lênin khi đó) ! Mao Trạch Đông thì lại càng tự phụ, thiếu am hiểu và tham khảo rộng rãi nhiều vĩ nhân thế giới. Riêng Hồ Chí Minh của Việt Nam, nói một cách ngắn gọn, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn biết đứng trên vai của rất nhiều những Nhà tư tưởng khổng lồ: Đức Phật Thích ca, Thánh Giê su, Khổng tử, Các Mác, Lênin, Tôn Dật tiên, Găng đi . . .và nhiều tinh hoa khác của nhân loại, chính vì vậy Người đã chiến thắng được mọi trở ngại để đưa đất nước đến độc lập, tự do (cho cả nước, như một tổng thể). Vì vậy, nếu chúng ta tự nhận xứng đáng là học trò của Hồ Chí Minh, thì chúng ta không thể “bám lấy” chỉ riêng có một Người khổng lồ nào đó, hay một Chủ nghĩa nào đó, trường hợp của ta hiện nay, là Chủ nghĩa hỗn hợp Mác – Lê ! Nếu giả dụ, CN Mác – Lê mà là đúng với mọi thời đại, thì cùng lắm cũng chỉ như các Định luật của Niwtơn vĩ đại hay Einstein thiên tài: Người đời chẳng cần nói rằng tôi đang vận dụng đinh luật của các Ông Niwton và Einstein, khi thiết kế các công trình, dù chúng vĩ đại đến mấy, trên Trái đất này. Nhưng nếu chúng ta dương cao ngọn cờ tư tưỏng đường lối học thuyết Hồ Chí Minh, thì cũng tức là chúng ta cùng một lúc đã dương cao tư tửong của tất cả những Nhà hiền triết khổng lồ của Nhân loại mà Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh tuý của họ và tinh hoa nhân loại truyền đạt lại cho chúng ta hôm nay. Đó là tư tưởng “Lấy Dân làm gốc”, là “tình yêu nhân loại bao la như đại dương”, là Đại đoàn kết, là Dân chủ, không Độc quyền, Người không câu nệ sự khác biệt, hơn nữa, chính từ khác biệt, đối lập . . . sẽ nẩy ra sáng tạo, đổi mới, và đột phá ! Với học thuyết Hồ Chí Minh, Việt Nam không thể rơi vào “Vết ngứa 70 năm” mà Larry Diamond (*) đã tổng kết. Vinh dự thay dân tộc Việt Namđã có học thuyết của chính mình – Học thuyết Hồ Chí Minh - để mà . . .thoát mọi khó khăn và vươn tới !
-- (*) Larry Diamond đã nghiên cứu tổng kết đi đến kết luận rằng: Các chế độ độc tài đảng trị (dù “XHCN” hay không XHCN”) cũng đều chỉ tồn tại được tối đa là 70 năm, mà Liên Xô là điển hình.

II. Việc dễ, có thể làm ngay
Đảng ta đã quen với tâm niệm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Đảng chỉ lãnh đạo bằng chủ trương đường lối đúng đắn chung, chăm nom công tác cán bộ, kiểm tra và gương mẫu thực hiện. Còn mọi thắng lợi trước đây đều là do toàn dân góp công sức, trí tuệ và xương máu vào mà thành tựu.
Nhưng trong thực tế từ khi hoà bình lập lại, mọi việc lãnh đạo của Đảng diễn ra trên toàn quốc đã mở rộng một cách sai lầm ra tất cả trong sự ôm đồm, độc quyền toàn diện của Đảng, mà trên thực tế là dưới sự lãnh đạo toàn diện chỉ của các cấp uỷ Đảng, thậm chí là quyền quyết định cuối cùng chỉ của đ/c bí thư đảng, từ trung ương đến mọi cấp uỷ đảng ở từng cơ sở. Như vậy thực chất là trái với quy luật tự nhiên “Đảng với Dân như cá sống trong nước” và đường lối “Lấy dân làm gốc” của Đảng.  
(Hãy thử điểm nhanh qua những sự việc vẫn diễn ra hàng ngày có thực ở mọi nơi từ xưa đến nay làm thí dụ :
Tại xã X, Chủ tịch xã xin ý kiến chỉ đạo và quyết định của Bí thư đảng uỷ xã: Mấy xuất đất chân đê, đảng uỷ đã quyết định thu hồi,bán đi lấy tiền xây lại hội trường và nhà văn hoá. Doanh nghiệp xây dựng thì thúc đẩy, nhưng nông dân đang phản đối. Vậy xin anh cho ý kiến quyết định ?
Tại huyện Y, giám đốc phòng giáo dục huyện xin ý kiến quyết định cuối cùng của Bí thư huyện uỷ: Có ý kiến đề nghị huyện hãy cho xây lại nhà ở đã quá dột nát của giáo viên và nhà nội chú của học sinh, trong khi bên thương nghiệp lại đòi cho sửa chữa chợ huyện trước (và đang “bám riết” Bí thư ! )
Tại tỉnh Z, Phó chủ tịch UB ND tỉnh (được chủ tịch UB phân công) xin ý kiến quyết định cuối cùng của bí thư đảng bộ tỉnh về việc có dứt khoát điều Đ/C bí thư huyện uỷ huyện T lên làm giám đốc sở  thông tin và truyền thông hay không (Đồng chí này được biết là có vấn đề tham nhũng đã bị lộ tại huyện ấy, nên phải điều đi)
Tại xí nghiệp đóng tầu nọ, câu chuyên rắc rối trong việc mua một chiếc tầu cũ về tân trang lại, chưa biết nên khai báo với tài chính theo giá trị mới , hay giá trị mua tầu cũ. Nếu khai theo giá trị mới, như đảng uỷ đã bàn, có thể sau này bên kiểm tra người ta phát hiện ra thì rất phiền. Vậy theo chỉ thị của Giám đốc: tốt nhất là xin ý kiến quyết định cuối cùng của đ/c chí Bí thư  xí nghiệp cho “ăn chắc”. Sau này có chuyện gì thì là “đã có ý kiến lãnh đạo của Bí thư . . .”
Doanh nghiệp D vừa thầu một vùng đất để làm dự án mới. Nếu khai khống từ 100 tỷ lên 500 tỷ, theo quy định thì có thể được vay NH đến 60 %, số tiền dôi ra đó lên tới gần 300 tỷ. Phần chênh lệch này đem gửi ngân hàng với lãi suất 16% để . . .”cùng sử dụng” trong DN và “có đi có lại” với NH, thì rất có lợi. Nhưng việc lớn như vậy, “bố ai mà dám quyết”, tốt nhất là xin ý kiến đảng uỷ, hay để cho đỡ bị dò rỉ thông tin lộ ra, chỉ nên xin quyết định của Bí thư thôi !
Tại trường N, các thày cô cũng thấy dậy thêm lấy tiền như hiện nay là việc làm quá trớn. Mấy vị lớn tuổi luôn luôn đem thí dụ về việc bồi dưỡng vài học sinh yếu kém ở trong lớp (nhưng không đòi tiền thù lao của cha mẹ học sinh) trước đây ra làm dẫn chứng, rằng việc bòi dưỡng học sinh yếu kém vẫn nằm trong phạm trù nhiệm vụ bắt buộc của giáo viên. Nhưng khi xin ý kiến bí thư đảng bộ của trường, thì đ/c bí thư vẫn quyết là cứ làm như cũ cái đã, vì chính đ/c này cũng rất tích cực dậy thêm để “cải thiện”  !
Trong dịp bầu cử HĐNN tại đơn vị nọ, mọi người hỏi nhau nên bầu ai, bỏ ai. Một công dân tuyên bố ráo hoảnh: Đảng đã chọn và quyết cả rồi, việc gì cần phải suy nghĩ cho mệt. Tôi cứ xoá luôn 2 vị cuối cùng. Muốn trúng ai cũng được ! Vậy là, có HĐNN cũng được, mà không có cũng được. Nhưng có thì “đẹp mặt”, nhưng mà lại tốn tiền thuế của nhân dân, ý kiến, ý có lắm chuyện, lại phải “ăn chia” cho bên HĐNN, nên tốt nhất là bỏ quách đi còn hơn !
Bộ Kế hoạch và đầu tư của ta, trước kia thì làm kế hoạch chi tiết cho đến tận sản phẩm, đến từng huyện và doanh nghiệp, làm thay nhân dân (!). Từ khi đi vào kinh tế thị trường, thì quên cả CN Mác – Lê, chỉ nhăm nhăm chạy theo “đầu tư” (chạy theo “mầu”), để cho nền sản xuất chung cả nuớc lộn xộn, nhiều thứ lớn (nguyên liệu, cảng biển, sân gôn, Vinashine, Vinaline, vốn – lãi ngân hàng, đập thuỷ điện, thu hồi đất . . . mất cân đối lớn và sai nguyên tắc nghiêm trọng). Đó là những sai lầm lớn vì ỉ lại vào quyết định của lãnh đạo đảng. Nếu để cho “kinh tế thị trường chính hiệu” và nhân dân tự chủ, được tự  điều tiết thực sự thì lại khác.
Sau khi đi thăm Nam Hàn về, Đ/C Tổng Bí thư Đảng thời đó, học tập nước bạn, cứ nhất quyết quyết định nhập các doanh nghiệp quốc doanh lại lập thành các “tập đoàn DN nhà nước” để tạo “những quả đấm thép”. Cuối cùng bên Chính phủ cũng phải tuân lệnh. Đ/C TBT ấy, không hiểu rằng, các Tập đoàn quả đấm thép của Nam Hàn là của tư nhân, đi lên từ các Doanh nghiệp làm ăn giỏi, lãnh đạo các DN ấy đầy đủ trí thức chuyên môn và dầy dạn kinh nghiệm thương trường, vì vậy chính phủ Nam Hàn đã lựa chọn để có chính sách ưu đãi và cho vay lãi thấp chút ít về tài chính khi cần thiết. Cái chính là các Tập đoàn này họ không được độc quyền và họ không dại gì lại “tham nhũng” của chính họ.
Trong các Hội nghị TƯ Đảng, dường như Đ/C Tổng Bí thư luôn ngăn chặn ngay từ đầu là: Kiên định CN Mác – Lê là đúng đắn, là việc không phải bàn nữa. Trong khi tại cái nôi sinh ra CM Mác – Lê, tại nước Nga Xô viết và khối các nước Đông Âu cũ, và cả bên Trung Quốc anh em, nhân dân đã từ bỏ hoàn toàn CN Mác – Lê vì nó đã hoàn toàn hết vai trò lịch sử rồi. Thực ra, CNXH chính hiệu (Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh) thì các nước văn minh tiến bộ trên thế giới lâu nay họ đều lẳng lặng đặt mục tiêu đó để hướng tới, có điều họ không đại ngôn nói ra, nhưng về biện pháp thực hiện, họ không câu nệ tuân theo riêng một chủ nghĩa nào, một kinh thánh nào. Cứ cái gì có lợi cho nhân dân, cho đất nước họ thì họ cương quyết làm.
Vân vân, và vân vân).
Thực ra, theo quy định chung, không phải việc gì mọi người bên chính quyền và đoàn thể cũng phải xin ý kiến quyết định của cấp uỷ hoặc bí thư đảng. Nhưng do cái thể chế “Độc đảng lãnh đạo toàn diện” (đảng chủ) đã kéo dài mấy chục năm, nên trên toàn lãnh thổ đã rất quen cái luật và lệ đảng quyết định ấy rồi. Vì theo cái thể chế đó, thì bên chính quyền và đoàn thể  tha hồ ỉ lại, dựa dẫm, làm ẩu, thậm chí làm liều, tiêu cực, tham nhũng, tuỳ tiện lấy thêm biên chế, v. v. .sau đó khi cần thì đổ vấy cho bên đảng “đã chỉ đạo và quyết định”, vì vậy không ban  kiểm tra, kiểm soát nào dám làm gì cả. Còn bên đảng do có kinh thánh CN Mác – Lê che trở, tự coi mình đã lãnh đạo giành được độc lập, thì cũng tự giành lấy quyền lãnh đạo xây dưng và phát triển đất nước, măt khác, chẳng có chỗ nảo trong Hiến pháp và luật ghi trách nhiệm cụ thê của đảng cả, vậy thì tội gì mà không nắm lấy quyền quyết định tất cả, để các cấp chính quyền và đoàn thể phải vị nể và . . .buộc phải cung phụng để được che chắn và còn phối hợp “làm ăn lâu dài” ? Cái gốc độc quyền quyết định đó – tuy trong chiến đấu vũ trang (cùng nhiều yếu tố khác) đã đem lại thắng lợi to lớn – thì trong xây dựng hoà bình và hội nhập quốc tế đã làm nẩy sinh ra mọi sự tiêu cực, tệ nạn, suy thoái xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nước, mà chúng ta (đảng và chính quyền) – vì quyền lợi của cả hai bên gắn chặt với nhau  - nên đang “bàn mãi” giải pháp khắc phục mà chưa dũng cảm chỉ ra nguyên nhân thực chất và biện pháp có hiệu quả tận gốc. Cần nhớ sự thực sau đây khi bàn luận: Cạnh tranh đa nguyên thì tưởng chừng lộn xộn, nhưng thực tế nếu luật pháp gốc đã đúng đắn, thì xã hội vẫn ổn định, chỉ có các thế lực chính trị muốn lên làm lãnh đạo là phải cạnh tranh thẳng thắn công khai minh bạch với nhau để nhân dân có thể tự do bình đẳng chọn lựa đúng hơn người lãnh đạo. Còn độc quyền một đảng như của nước ta, thì cứ tưởng rằng như thế là ổn định, song trên thực tế đó là chế độ còn dở hơn cả chế độ phong kiến, là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự suy thoái đạo đức mọi mặt toàn xã hội, chính nó đến lượt mình làm vô hiệu hoá hoặc làm méo mó tất cả những chủ trương đúng đắn của TƯ Đảng, của Bộ Chính trị, những sáng kiến, những đề xuất cải cách của nhân dân, của chính phủ và sự giúp đỡ chân tình của các nước tiên tiến, nó đang âm ỉ gây ra sự bất bình trong nhân dân như hiện nay, và nguy cơ bùng phát khi có “giọt nước tràn ly” như đã xẩy ra ở nhiều nước theo thể chế này. Càng cố gắng “chỉ đạo” bàn kế lập mưu dẹp bỏ và dấu diếm sự bất bình của nhân dân, thì sự căm giận của nhân dân ngày càng tăng lên và sự bùng phát nổi loạn của xã hội ngày càng tới gần.
Nói cách khác rõ thêm, lâu nay tại mỗi một đơn vị hành chính hay kinh tế từ nhỏ đến lớn trong cả nước đã có một ông vua (tức là các cấp uỷ đảng và bí thư đảng tại chỗ), ông vua này có quyền trên cả luật pháp (vì có quyền tại chỗ lãnh đạo độc quyền toàn diện và duy nhất, có quyền nhân danh Đảng CS quyết định mọi chủ trương cụ thể và số mệnh chính trị của mọi người, mà cấp trên thì quan liêu, bị bịt mắt ). Vì vậy, ông vua này – vì cũng là con người, như mọi người- do “độc quyền lãnh đạo” nên có thể quyết định thiên về bảo vệ quyền lợi của cái tổ chức “vua” ấy của mình, bằng cách dung túng, bao che cho các cấp dưới để họ có thể an toàn mà vi phạm pháp luật, có thể làm bậy, trong đó điển hình nhất là tham nhũng tiêu cực,  lựa chọn nhân sự thân quen, và được tự phán xét tội lỗi của chính mình và chân tay của minh (phê và tự phê, chỉ đạo xét xử), bằng cách đó, các cấp dưới sẽ trả ơn, sẽ “nuôi” trở lại các cấp uỷ đảng bằng rất nhiều cách thức khác nhau. Tham nhũng, tiêu cực càng dễ trót lọt, hiệu quả tham nhũng tiêu cực càng tăng, thì càng củng cố cái vòng quan hệ “tung – hứng” có đi, có lại gắn bó này, tức là càng củng cố “lòng tin” (của giới chức) vào chế độ độc đảng toàn trị, ở dạng “các cấp uỷ đảng trị” hiện nay. Nói khác đi cái quyền lãnh đạo toàn diện và quyền được quyết định của các cấp uỷ đảng cơ sở chính là nguyên nhân trực tiếp của mọi loại sai trái đã xẩy ra và sẽ tiếp tục xẩy ra tại mỗi đơn vị hành chính kinh tế xã hội của đất nước, cho đến toàn quốc (mà Vinashine, Vinaline, Đoàn Văn Vươn, Thái bình, và rất nhiều những sai trái khác. . . là những ví dụ rõ nhất). Còn Ban Nội chính vẫn sẽ khó khăn, thậm chí bất lực.
Vì vậy, cách khắc phục tận gốc và trực tiếp đầu tiên trong tầm tay của TƯ và QH hiện nay là truất quyền quyết định của mọi cấp uỷ đảng cơ sở, trả quyền đó ngay lập tức về cho nhân dân, mà người có thẩm quyền duy nhất là pháp luật, là Quốc hội và HĐND các cấp. Mọi cấp uỷ đảng cơ sở chỉ có nhiệm vụ duy nhất là lãnh đạo nhân dân và tất cả các tổ chức chính quyền và đoàn thể tại cơ sở mình nghiêm chỉnh thực hiện đường lối của đảng là “lấy dân làm gốc” , “Tất cả cái gì có lợi cho dân, cho nước thì làm, cái gì có hại cho dân, cho nước thì chống”, lãnh đạo và kiểm tra nhân dân và các tổ chức chính quyền tuân thủ nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật mà nhân dân đã phúc quyết. Bước đầu, hãy bỏ cái quyền lãnh đạo toàn diện và duy nhất của các cấp uỷ Đảng ở mọi cơ sở là việc làm đầu tiên để bước đầu trả lại trực tiếp quyền làm chủ của Nhân dân, coi Luật pháp, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là người đại diện.
            Cải cách dứt khoát và dần từng bước là một trong những cách tốt nhất, dễ quyết định nhất để xây dựng và bảo vệ Đảng, Chống lại những tư duy đổi mới tương tự, chính là vô tình đẩy Đảng đến ngõ cụt, càng làm Đảng mau chóng mất vị trí lãnh đạo cách mạng và làm mất ổn định, dẫn đến xung đột toàn xã hội.
V.D.P
---------------