Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Văn hóa “dưới gầm bàn”

Cha ông ta không có văn hóa phong bì. Văn hóa ứng xử theo kiểu bánh ú đi bánh chì lại, gái có công chồng không phụ, một ứng xử rất văn hóa, đầy tình người, đã bị lòng tham lợi dụng.


Thay vì hai tiếng cảm ơn, người ta hành xử theo cách “bánh chì lại”, chính cái sự “bánh chì lại” là lý do đẻ ra văn hóa phong bì. Văn hóa phong bì gặp cơ chế quan liêu mệnh lệnh giấy tờ, cơ chế xin-cho đã sinh sôi nảy nở, nhanh chóng trở thành một tệ nạn. Lâu ngày nó trở thành nếp nghĩ, nếp sống của người Việt. Ngày nay nó tồn tại như một lẽ đương nhiên. Rất đáng sợ.


Nói như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc: “Những chi phí không chính thức, chi phí “qua gầm bàn” đối với việc thực hiện thủ tục hành chính là vấn đề mà xã hội vẫn đang rất bức xúc. Vậy ai làm vấn đề đó, ai đã gây ra bức xúc đó? Chính là cán bộ”. ĐB QH Nguyễn Minh Hồng (Nghệ An) đã khẳng định: “Nếu phong bì đi trước thì có muốn mua một mảnh đất cũng sẽ có cán bộ đến tận nơi, tận nhà làm thủ tục cho ngon lành. Còn nếu vẫn không chịu “làm luật” thì còn phải xếp hàng chầu chực để vượt qua cả núi nghị định đang cản trở”. Còn ĐB QH Phạm Thị Hải (Đồng Nai) đã nói thẳng: “Đối với các doanh nghiệp trong quá trình xúc tiến các thủ tục cần thiết cho công việc kinh doanh, việc bôi trơn, lót tay cho cán bộ để được giải quyết nhanh chóng là câu chuyện tuy không nói ra nhưng ai cũng phải biết, phải làm”.


Có thể viết vài trăm trang vẫn chưa hết những lời ca thán về cái gọi là văn hóa phong bì, nó không còn là một tệ nạn, từ rất lâu rồi nó đã trở thành một đại nạn. Câu hỏi là làm sao hạn chế và dẹp bỏ thứ văn hóa phi văn hóa này chứ không phải than thở một thực trạng tồn tại hơn nửa thế kỷ nay. Sự tiến bộ của chúng ta chỉ mới dừng lại ở chỗ không còn che giấu nó tại nghị trường, nhưng đưa ra một giải pháp thì hầu như không có. Chưa thấy ai đưa ra một giải pháp khả thi để yên lòng dân.


Có người cho rằng sở dĩ có nạn phong bì là vì đời sống cán bộ công nhân viên chức ta còn thấp quá, nâng cao đời sống cán bộ là để hạn chế nạn phong bì. Đó là sự ngộ nhận rất nguy hiểm. Bởi vì phong bì sinh ra vì lòng tham chứ không phải sinh ra từ đói nghèo. Vấn đề là ở đạo đức chứ không phải sự thiếu thốn hay đói nghèo. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc khi nói về cải cách hành chính đã khẳng định: “Thủ tục hành chính dù có tốt bao nhiêu đi chăng nữa, nhưng con người không tốt thì cũng không giải quyết được vấn đề gì”.


Ngay từ năm 1952, Bác Hồ đã cảnh báo: “Tham ô, lãng phí và tệ quan liêu là kẻ thù của nhân dân, nó là kẻ thù khá nguy hiểm vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta…”. Chính “tham ô, lãng phí và tệ quan liêu” đã sinh ra đại nạn phong bì, và chính chúng là “kẻ thù của nhân dân”, phải xác định đúng kẻ thù thì mới có thể tìm được giải pháp dẹp bỏ được đại nạn này.


Chúng ta đã vượt qua thời kỳ quan liêu bao cấp chưa? Hay nó đang tồn tại ở mức cao hơn, sâu hơn? Cơ chế xin-cho, mệnh lệnh giấy tờ đã dẹp bỏ được chưa hay nó vẫn tồn tại ngang nhiên dưới gầm bàn? Trả lời câu hỏi này, báo cáo của Ủy ban Pháp luật Quốc hội đã chỉ rõ: “Tình trạng cán bộ, công chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, tiêu cực, tham nhũng còn khá phổ biến”.


Một khi lệnh rỉ tai, lệnh telephone vẫn cao hơn các văn bản pháp quy, luật rừng vẫn mạnh hơn luật pháp thì không thể nói các cơ chế của thời quan liêu đã được dẹp bỏ. Một khi cơ chế quan liêu chẳng những không bị dẹp bỏ mà còn được kín đáo nuôi dưỡng thì không ai có thể đưa ra một giải pháp nào khả dĩ để hạn chế đại nạn phong bì chứ đừng nói dẹp bỏ. Đó là một sự thật đau lòng.


 ( Bài viết cho báo Phụ nữ tp. HCM)

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Ứng xử với phản biện và dư luận xã hội

Thông báo: kể từ trưa 9/11 email của bọ bị trục trặc, không sử dụng được, không rõ có phải bị hack hay không. Vậy bọ thông báo email: bilipmayo@gmail.com không dùng nữa, bà con nếu ai nhận được email từ địa chỉ này đều không phải email của bọ.


Email mới của bọ là: lapquechoa@gmail.com, hoặc:


quanglap52@yahoo.com


Chiều ngày 27/ 10 vừa rồi, trên báo điện tử Vietnamnet có cuộc tranh luận trực tuyến giữa đại diện Bộ Tài nguyên - Môi trường, chủ đầu tư với các chuyên gia,  các nhà văn hoá…về chủ đề : Nên tiếp tục khai thác hay dừng dự án bô-xít Tây Nguyên. Cuộc tranh luận có sự tham gia của khán giả với rất nhiều loại chính kiến đã diễn ra rất sôi nổi. Gần đây báo điện tử Dân trí đã mở các cuộc trưng cầu dân ý về Bauxite ở Tây Nguyên, về Đại lễ Nghìn năm Thăng Long- Hà Nội…với sự tham gia đông đảo của bạn đọc. Những sáng kiến như thế này cho thấy phản biện và dư luận xã hội đã thực sự được coi trọng.


            Sở dĩ nói thực sự được coi trọng vì lâu nay các phản biện và dư luận xã hội nếu không bị qui kết là chống đối, là âm mưu diễn biến hoà bình thì cũng bị nhẹ nhàng bỏ qua, coi như không có gì quan trọng. Đôi khi cũng xảy ra việc thăm dò dân ý, cũng thấy có sự chú ý nghe phản biện nhưng đấy chỉ là cách lấy lòng dân chúng, ít ai thực bụng nghe dân. Khẩu hiệu Dân biết dân bàn dân kiểm tra tuồng như chỉ là nói dzậy mà không phải dzậy. Điều đó làm cho dân chán nản, niềm tin theo đó cũng bị sa sút nghiêm trọng.


            May thay gần đây đã có những tín hiệu đáng mừng về sự cầu thị và biết lắng nghe dân ý. Việc đình chỉ bắn pháo hoa trên diện rộng của Hà Nội nhân Đại lễ Nghìn năm là một ví dụ. Việc Quốc hội dành một phút mặc niệm những người dân miền Trung bị chết trong trận lũ vừa rồi là một ví dụ khác cho thấy tiếng nói của dân đã được lắng nghe và những góp ý đúng đắn đã được tiếp thu nhanh chóng, cho dù chỉ là sự lặng lẽ tiếp thu.


             Có lẽ Hà Nội là nơi đi đầu bước trước trong ứng xử với phản biện và dư luận xã hội. Họ  chăm chú lắng nghe phản biện và dư luận xã hội, không chỉ ở những tờ báo chính thống, ngay cả trong các blog cá nhân. Không ít lần Hà Nội đã quyết định làm theo ý của  dân. Từ việc chợ 19/12, khách sạn trong công viên Thống Nhất đến việc lát gạch Hồ Gươm, dựng 5 cổng chào, tên trường Amsterdam… khi lẳng lặng sửa sai khi công khai thay đổi, trước sau Hà Nội đều nghe theo dân cả. Thực ra Hà Nội có thể viện ra cả ngàn lý do để phân bua, họ có cả chục tờ báo để “ đập” lại những phản biện. Nhưng Hà Nội đã không chọn cách ấy, họ quyết định nghe theo dân. Đó là ứng xử đúng đắn nhất, văn minh nhất đối với phản biện và dư luận xã hội.


            Còn nhớ trận lũ lịch sử ở Hà Nội hai năm trước đây, năm 2008, trận lũ đã làm hai chục người chết, hàng triệu người bị kẹt trong lũ. Dân kêu ca cơ sở hạ tầng yếu kém cũ nát, cán bộ xử lý chậm chạp quan liêu. Ông Phạm Quang Nghị khi đó mới về làm bí thư Thành uỷ Hà Nội đã trả lời phóng viên ViêtNamnét rằng  “Tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm”, “cứ chờ trên về, cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia”… lập tức bị một làn sóng dư luận phản ứng dữ dội. Khi đó, nói như nhà báo Huy Đức, ông có thể “đổ lỗi” cho phóng viên và gây sức ép để tờ báo này rút bài báo xuống. Nhưng ông Phạm Quang Nghị đã không chọn cách ấy, ông quyết định xin lỗi dân.  Vẫn trên ViêtNamnet ông đã nói lời thành khẩn:”Tôi thực sự lấy làm tiếc và muốn chân thành xin lỗi bạn đọc, xin lỗi mọi người”. Lời xin lỗi kịp thời và sáng suốt, ông Nghị lập tức lấy điểm được lòng dân.


            Từ những gì kể trên có thể dễ dàng rút ra bài học giản đơn, rằng một khi biết ứng xử có văn hoá, với cái tâm thành khẩn với phản biện và dư luận xã hội thì chẳng những dân không còn oán giận mà lòng dân khi đó đã thuộc về chúng ta. Tiếc thay bài học đó đến nay vẫn không ít người chịu thấm nhuần.


(Bài viết cho báo Phụ nữ Tp.HCM)


 Mời đọc một bài viết hay và xác đáng:

PHẢN BIỆN XÃ HỘI


Nguyễn Trần Bạt


Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Cty Invest Consult Group


Quan sát cuộc sống chúng ta có thể thấy phản biện là một hoạt động diễn ra hàng ngày. Phản biện là một nhu cầu của cuộc sống bởi nhờ có nó con người có thể loại bỏ những yếu tố sai để tiệm cận tới sự hợp lý trong các quyết định, các hành vi của mình. Trong khoa học, phản biện cũng là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học. Còn trong đời sống xã hội phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ. Phản biện xã hội là một vấn đề hoàn toàn không mới, loài người đã làm quen với khái niệm này từ rất sớm và biến nó trở thành công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ, tạo sự phát triển về chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến.


Trong thời đại ngày nay, phản biện xã hội vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng, là đối tượng cần nghiên cứu, nhất là đối với các quốc gia đi sau, các quốc gia đang phấn đấu cho nền dân chủ.


I. Phản biện xã hội là một hoạt động khoa học


 Phản biện là một hành vi xác định tính khoa học của hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó. Nếu không có phản biện có nghĩa là con người mặc nhiên hành động mà không thèm đếm xỉa đến sự xác nhận của xã hội về tính phù hợp, tính đúng đắn của hành động đó. Phản biện xã hội là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc trưng chuyên nghiệp nhất của cái gọi là đời sống dân chủ. Phản biện trong một xã hội dân chủ là môt loại phản hành động (phản hành động chứ không phải là phản động). Nó xuất hiện song song cùng với các hành động, nó xuất hiện đối lập với tất cả các hành động.


Trong mỗi một xã hội bao giờ cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Các nhóm lợi ích bao giờ cũng có nhu cầu tiến hành hành động vì một mục tiêu nào đó. Nhưng trên mỗi khía cạnh hay mỗi lĩnh vực của đời sống con người bao giờ cũng có những cách lý giải khác nhau và do đó có những cách hành động khác nhau để đạt được mục tiêu như vậy. Phản biện tạo ra một giai đoạn đệm cho quá trình hành động tự nhiên của các nhóm lợi ích, đó là giai đoạn thảo luận và thỏa thuận. Phản biện làm cho các hành vi chính trị, kinh tế và xã hội trở nên ít chủ quan hơn, tức là sự xung đột của các nhóm lợi ích đã được điều chỉnh thông qua thảo luận và thoả thuận. Nói cách khác, phản biện làm cho những cuộc xung đột trên thực tế trở thành cuộc xung đột của thảo luận, tức là biến sự xung đột lợi ích trong hành động thành các xung đột lợi ích trong thảo luận.


Nếu một xã hội không có phản biện và mỗi hành động đều được đương nhiên tiến hành thì đấy là cách thể hiện rõ rệt nhất tính chất phi dân chủ của xã hội. Bởi vì mỗi một hành động chính trị bao giờ cũng là kết quả thỏa thuận của các khuynh hướng chính trị, một hành động chính trị chỉ có thể được tiến hành khi nó là sự thúc bách của nhu cầu đời sống và để cân đối các nguyện vọng khác nhau của đời sống. Ví dụ trong đời sống hằng ngày của tôi chẳng hạn, nếu tôi luôn cố gắng tạo ra các không gian chính trị trong khuôn khổ tổ chức mình để các phản biện được thực hiện một cách tự nhiên thì chính các phản biện này sẽ làm cho các hành động của tôi trở nên có chất lượng khoa học và do đó kéo theo cả chất lượng chính trị của chúng, làm cho các hành động ấy trở nên đúng đắn. Chính vì vậy, để có một xã hội có chất lượng hành vi đúng đắn cần phải khẳng định tầm quan trọng của các hoạt động phản biện. Phản biện là một đòi hỏi khách quan của đời sống. Nói một cách khái quát, phản biện là một thể hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó mỗi con người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình. Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hoá, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn.


Cho đến lúc này, ở nhiều nơi, trong một số hệ thống chính trị dường như vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về cái gọi là phản biện. Tất nhiên, trong bất cứ một hệ thống chính trị nào người ta cũng không thể bỏ qua nhân dân được, cho nên tất cả mọi chính sách trong khi xây dựng đều được hỏi ý kiến nhân dân. Nhưng hỏi ý kiến nhân dân là việc trưng cầu dân ý một cách không chuyên nghiệp và hoàn toàn không phải là phản biện. Phản biện là một hoạt động khoa học, phản biện là tranh luận một cách khoa học chứ không phải là hỏi xem anh có đồng ý với tôi hay không. So với trưng cầu dân ý, phản biện hoàn toàn khác về chất. Trưng cầu dân ý là hỏi dân. Phản biện không phải là hỏi dân. Phản biện không phải là nhân dân trả lời mà là nhân dân nói tiếng nói của mình. Và tiếng nói ấy được chuẩn bị một cách chuyên nghiệp bằng trí tuệ, bằng sự thông hiểu lẫn cả dự đoán về sự xung đột lợi ích khi tiến hành một hành động xã hội. Về bản chất chính trị, phản biện là một quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận. Nếu không xác lập quyền phản biện tức là quyền tự do ngôn luận mà trưng cầu dân ý thì chỉ có hai khả năng: gật và lắc. Nhưng cả gật và lắc đều diễn ra trong im lặng. Im lặng không phải là ngôn luận. Ngôn luận là bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học. Đấy là một hoạt động của xã hội dân sự, nhưng không phải là hoạt động nhân dân đơn giản mà là hoạt động thông qua một hệ thống tranh luận chuyên nghiệp.


Nếu trưng cầu dân ý là đi tìm sự đồng thuận đơn giản thì phản biện là đi tìm sự đồng thuận có chất lượng khoa học. Đấy là sự khác nhau về chất lượng giữa phản biện và hỏi ý kiến nhân nhân. Để có được sự đúng đắn thì trong mọi quyết sách nhà nước phải đo sự đồng thuận của xã hội thông qua phản ứng của nhân dân. Để đo được tính đồng thuận xã hội cần phải xây dựng thiết chế cho nó trước. Không thể ngẫu hứng được. Nếu nhân dân chưa biết gì về dân chủ thì không thể trưng cầu ý kiến nhân dân về dân chủ. Trong một xã hội không dân chủ thì nhân dân không có trách nhiệm, mỗi một người không có trách nhiệm mà chúng ta lấy ý kiến của những người không có trách nhiệm thì ý kiến ấy cuối cùng phản ánh cái gì? Đấy chính là căn cứ để các nhà chính trị bỏ qua ý kiến của nhân dân. Sở dĩ không có sự đồng thuận trong các xã hội không phát triển là do người ta vẫn nhầm lẫn giữa phản biện và hỏi ý kiến nhân dân. Muốn có sự đồng thuận có chất lượng, chúng ta buộc phải xây dựng thiết chế phản biện. Các chính sách trước khi thực hiện không những cần phải được đo đạc rất cẩn thận, mà còn phải được xử lý về mặt số liệu một cách cẩn thận, từ đó chúng ta mới có được những chính sách phù hợp với đòi hỏi của cuộc sống. Sẽ rất mất thì giờ nếu chúng ta chỉ biểu diễn sự đồng thuận bằng các phương pháp trưng cầu dân ý một cách không chuyên nghiệp.


II. Từ phản biện đến phản đối


 Như đã nói ở trên, phản biện là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận, cho nên, nếu không xây dựng nền văn hoá thảo luận thì không thể có nền văn hoá phản biện mà chỉ có nền văn hoá chống đối. Cần phải hiểu rằng phản biện không phải là chống đối. Khất lần phản biện tức là khuyến khích chống đối. Chống đối phát triển thêm một chút là thành phá phách, phát triển thêm chút nữa thành cách mạng. Tự do ngôn luận chính là năng lực đau và kêu đau. Đau và kêu đau là năng lực của cuộc sống để thể hiện tất cả các khuyết tật, các vấn đề bên trong của nó. Nếu không có những quyền như biểu tình và ngôn luận thì con người không có năng lực kêu đau. Biểu tình và ngôn luận là hai cấp độ khác nhau của năng lực kêu đau của đời sống xã hội đối với các chính sách. Biểu tình là phản ứng trực tiếp của người dân, ngôn luận không phải là phản ứng trực tiếp từ người dân mà chủ yếu là phản ứng của bộ phận chuyên nghiệp của xã hội, tức là có những bộ phận điều tra chuyên nghiệp về các cơn đau của xã hội đối với các tác động khác nhau của chính sách. Trong một xã hội phi dân chủ, con người không có các quyền như vậy, không có quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình, quyền lập hội... tức là quyền đề kháng những trạng thái thái quá hay những biểu hiện của trạng thái lộng hành của nhà nước đối với xã hội. Nhưng ngay cả khi nhà nước không ủng hộ, không khuyến khích, thậm chí chống lại, thì những phản ứng như vậy vẫn luôn tồn tại mà không hề biến mất. Trong trường hợp đó, bản năng kêu đau của cuộc sống vẫn tồn tại, nó tích tụ lại ở bên trong và đến một mức nào đó tạo thành những cơn bùng nổ được gọi là cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội không phải là cuộc cách mạng chính trị. Cách mạng chính trị là bề mặt của các cuộc cách mạng xã hội, là khía cạnh chuyên nghiệp, khía cạnh bị kích động và khía cạnh được tổ chức của cách mạng xã hội. Còn cách mạng xã hội là nỗi uất ức tồn tại bên trong lòng xã hội, sau khi được các nhà chính trị khai thác và tổ chức mới trở thành các cuộc cách mạng chính trị. Khi đã xuất hiện các cuộc cách mạng xã hội tức là xã hội đã đi quá giới hạn chịu đựng của nó.


Xã hội có thể trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nếu hệ thống chính trị nào không ý thức được rằng chính sách nào thì sinh ra xã hội ấy. Xã hội có thể không vĩnh viễn trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nhưng những trạng thái của nó là hệ quả của hệ thống chính trị ấy. Ví dụ, có những xã hội mà trong suốt một thời kỳ rất dài im phăng phắc, không ai dám nói to tên các nhà lãnh đạo cả. Nếu cứ tiếp tục duy trì như thế thì có thể nói rằng tất cả các trạng thái sợ hãi ấy tạo ra một xã hội sợ hãi. Một xã hội sợ hãi là một xã hội sợ phát triển, sợ thay đổi, một xã hội yên phận thủ thường. Vấn đề đặt ra là chúng ta muốn gì? Với tư cách là các lực lượng xã hội, chúng ta muốn gì thì phải nói rõ, và nhà nước cũng phải tỏ rõ quan điểm là nhà nước muốn gì, tức là phải tạo ra quá trình đối thoại. Không có một xã hội đối thoại giữa các nhóm lợi ích khác nhau thì không thể có phản biện xã hội bởi vì xã hội không có thói quen thảo luận. Khi đó, năng lực phản biện đáng ra xã hội cần có để làm cho đúng đắn hơn các quyết định chính trị của nhà cầm quyền được thay thế bằng sự phản đối xã hội. Sự phản đối xã hội và sự phản biện xã hội là hai cách thể hiện những trạng thái chính trị khác nhau của xã hội đối với nhà nước. Phản biện là hoạt động thân thiện, là hoạt động có trách nhiệm, là sự kết hợp giữa trí tuệ xã hội với trí tuệ của hệ thống chính trị để tạo ra tính chính xác, tính đúng đắn của các quyết định chính trị. Còn phản đối là các phản ứng cực đoan ở những cấp độ khác nhau, cùng phát triển với sự sai lầm của các quyết định chính trị. Nếu không tổ chức phản biện xã hội một cách chuyên nghiệp, một cách đúng đắn và một cách thân thiện thì chắc chắn chúng ta sẽ hướng dẫn xã hội biến hoạt động phản biện trở thành hoạt động phản đối. Khi sự phản đối ấy được chuẩn bị một cách âm thầm cùng với tốc độ tăng trưởng của các sai lầm chính trị thì nó có thể trở thành sự chuẩn bị cho một cuộc cách mạng. Đó là tất yếu.


Phản biện xã hội chính là biện pháp thay thế sự chống đối xã hội, hay nói cách khác, cần phải thay thế tự do cãi cọ bằng tự do ngôn luận. Ở nước Anh, trong công viên Hyde Park người ta dành riêng một khu cho những người muốn nói xấu Nữ hoàng và Thủ tuớng. Ở đấy người ta có thể nói thoải mái để xả hết cơn tức. Do sự bức xúc của đời sống nên con người có những nhu cầu như vậy. Sự va chạm tự nhiên của các nhóm lợi ích hay của các lợi ích tạo ra sự cãi cọ. Cần phải hướng dẫn những sự cãi cọ bản năng trở thành những cuộc thảo luận chuyên nghiệp mà biểu hiện cao nhất của nó là phản biện thì mới có thể có một xã hội ổn định và phát triển.


III. Điều kiện để phản biện xã hội trở thành một hoạt động có chất lượng khoa học


Muốn có phản biện xã hội thì trước hết xã hội phải có thói quen thảo luận, mà muốn tạo thói quen thảo luận cho xã hội thì nhất thiết phải trả lại cho xã hội cảm hứng nói, tức là trả lại cho xã hội quyền tự do ngôn luận để khích lệ xã hội tham gia vào những cuộc thảo luận hoặc tranh luận trên quy mô xã hội về tất cả các vấn đề. Khi xã hội được huấn luyện thông qua những cuộc thảo luận như vậy thì xã hội mới có đủ năng lực để phản biện những vấn đề hệ trọng khác, vì khi nói đến phản biện xã hội tức là phản biện những vấn đề hệ trọng của đời sống chính trị. Cho nên, điều kiện thứ nhất là cần phải thực thi tự do ngôn luận. Phản biện là biểu hiện chuyên nghiệp của việc người ta thực thi quyền tự do ngôn luận nên phải khẳng định quyền tự do nói trước. Tự do ngôn luận là quyền đầu ra của mọi ý kiến phản biện. Nếu không có tự do ngôn luận thì không có cách gì để phản biện. Không có quyền nói thì anh cứ nghĩ mãi và anh có nghĩ kiểu gì, nghĩ hay đến mấy mà không nói được thì cũng vô ích vì anh không có cách gì để thể hiện được ý nghĩ ấy. Nếu hạn chế quyền tự do phổ biến các quan điểm thì có nghĩa là dành toàn bộ các quyền tự do cho một loại quan điểm và nếu xã hội chỉ được hướng dẫn bằng một loại quan điểm thì vô cùng nguy hiểm vì nó tất yếu sẽ dẫn đến sự đơn điệu và lệch lạc của đời sống. Cho nên, tự do ngôn luận chính là một trong những chìa khoá cực kỳ quan trọng để làm cân bằng tất cả các khuynh hướng, để mỗi một điểm trong đời sống xã hội nhận được nhiều thông tin khác nhau giúp cho các thành viên trong xã hội có năng lực lựa chọn. Bản chất của tự do là quyền được lựa chọn và sự phong phú để lựa chọn. Muốn có sự phong phú để lựa chọn thì con người phải có quyền phổ biến quan điểm, tức là quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là tiền đề, là điều kiện cơ bản để con người thực thi các quyền tự do lựa chọn.


Thứ hai, phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận cho nên nó cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách chuyên nghiệp. Trước khi nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức và nói chuyên nghiệp là giới báo chí. Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi một hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện xã hội.


Vấn đề của những nước chậm phát triển là cần phải xây dựng một đội ngũ trí thức. Tại sao lại đặt ra vấn đề này? Bởi vì với chất lượng con người ở những nước này thì chưa thể có đội ngũ trí thức tiên tiến được. Đội ngũ trí thức ở đó mới đạt đến trạng thái hơn nhân dân và họ tự hào là mình hơn nhân dân. Đó là nỗi đau khổ lớn nhất và là chỉ tiêu tập trung nhất để mô tả tình trạng chậm phát triển của xã hội. Khi nào giới trí thức nhận thức được rằng trí thức là tội đồ của nhân dân, có sứ mệnh nghĩ hộ nhân dân, nghĩ trước nhân dân và biết biến nhân dân trở thành đồng minh của sự suy nghĩ của mình thì đấy là dấu hiệu bắt đầu của sự phát triển. Vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi cách đây gần ba chục năm đã nói điều này, đó là người trí thức phải nói hộ nhân dân. Tuy nhiên, người trí thức nói hộ nhân dân thì vẫn chưa đủ để tạo ra sự đồng thuận xã hội. Người trí thức không chỉ nói hộ nhân dân mà quan trọng hơn là phải hướng dẫn nhân dân để tạo cho nhân dân thói quen nói lên tiếng nói của chính mình.


Khi người trí thức yêu nhân dân của mình thì thành đạt bao nhiêu cũng không đủ, cũng không làm cho người ta thoả mãn bởi lý tưởng của tri thức nằm trong nỗi khổ, trong sự suy nghĩ của nhân dân chứ không phải nằm trong sự thành đạt của cá nhân. Những trí thức Pháp ở thời kỳ Khai sáng chính là những ví dụ về tầng lớp trí thức coi mình là tội đồ của nhân dân. Nhà nước Pháp truy bắt Diderot, truy bắt Montesquieu, truy bắt Voltaire. Voltaire phải trốn lên biên giới trong các nhà thờ lớn của nước Pháp, ở đấy ông ta viết những tác phẩm về tự do. Montesquieu và Diderot cũng thế. Cho nên, xã hội muốn phát triển thì việc đầu tiên là phải phát triển đội ngũ trung lưu của xã hội mà ở những nước chậm phát triển thì tầng lớp trung lưu của xã hội là những người trí thức, chứ không phải là những kẻ buôn bán lắm tiền.


Bộ phận nói chuyên nghiệp là giới báo chí ở những quốc gia chậm phát triển cũng có những vấn đề của nó. Do sự bức xúc của đời sống nên giới báo chí thường có xu hướng cứ đòi hỏi, cứ làm to tất cả những thứ thực ra rất khiêm tốn, rất gần gũi với đời sống con người. Đấy chính là một trong những nhược điểm của giới báo chí. Tôi cho rằng chúng ta không nên đao to búa lớn, không nên gạch chân dưới những đòi hỏi của mình. Chẳng hạn, trong một chế độ chính trị chịu sự chi phối của quá khứ mà đòi hỏi các nhà chính trị phải thay đổi hay phải cắt bỏ ngay những bộ phận đã được mã hoá bởi quá khứ ra khỏi cơ thể chính trị thì đó là đòi hỏi khó chấp nhận. Nhưng nếu chúng ta đưa ra những đòi hỏi về xã hội dân sự thì đấy lại là quyền rất chính đáng. Chúng ta hãy đòi hỏi một cách từ tốn tất cả những gì cần cho đời sống con người. Hãy chia nhỏ tất cả những đòi hỏi lớn. Chúng ta xây dựng nền dân chủ bằng việc xây dựng các quyền nhỏ nhoi liên quan đến thân phận con người trước. Và chúng ta thấy rằng tất cả những thứ nhỏ nhoi khiêm nhường ấy không chỉ chúng ta cần, mà con cái những nhà chính trị cầm quyền cũng cần. Họ thấy sự gần gũi của những đòi hỏi của chúng ta so với những đòi hỏi của con cái họ và họ không thấy nguy cơ chính trị nào trong những đòi hỏi ấy cả, hay nói cách khác, chúng ta sẽ có được sự cảm thông chính trị rất con người giữa chúng ta và họ, đấy chính là mục tiêu và là phương thức tối ưu của hoạt động báo chí.


Có nhiều người cho rằng chức năng thức tỉnh cảm hứng xã hội cũng như thức tỉnh nhận thức xã hội là của báo chí, nhưng báo chí lại không có đủ quyền tự do thì làm thế nào để xã hội có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn ấy được. Xét về mặt định tính thì có vẻ như ý kiến ấy là đúng, nhưng trên thực tế thì không đúng. Anh có tự do đến đâu thì anh hãy tận dụng cho hết cái không gian ấy đi. Nói to quá trong một căn phòng bé thì chỉ làm váng tai người nghe, cho nên, hãy nói những điều vừa phải trong một không gian thích hợp, hãy khích lệ mọi người và dần dần họ sẽ đòi một không gian lớn hơn. Các không gian tự nó nở ra cùng với thời gian, cùng với trí tuệ của con người chứ không phải nở ra bằng sự nói to của bất kỳ ai. Chúng ta có nói to mấy cũng không làm thủng được bức tường chính trị, nhưng nếu người dân đòi hỏi thì bức tường ấy sẽ tự giãn. Cho nên phải kiên nhẫn. Nếu chúng ta xem chính trị là một cuộc đấu tranh thì chúng ta hiểu sai toàn bộ giá trị của đời sống chính trị. Chính trị không phải là đối lập, không phải là đối kháng, không phải là đấu tranh, chính trị là quá trình xã hội thuyết phục lẫn nhau về sự hợp lý cho sự phát triển. Và phản biện xã hội chính là một trong những cách thức để thực hiện quá trình ấy.


Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể tiếp tục xem động lực phát triển của xã hội là đấu tranh giai cấp mà phải xem sự phát triển dân trí là động lực của sự phát triển. Trước khi làm cho dân chúng trở thành những người có chất lượng chính trị tốt thì phải giúp họ trở thành người tốt đã. Bởi vì những người muốn làm người tốt có số lượng lớn hơn rất nhiều so với những người muốn tham gia tốt vào đời sống chính trị. Chúng ta hãy góp phần làm cho con người trở thành người hơn đã. Trên nền tảng ấy, con người mới có điều kiện để nhận thức về sự phải chăng của đời sống chính trị. Chính trị phải được phán xét bởi chất lượng con người, chứ không chỉ bởi chất lượng của nhà chính trị. Chúng ta có một nghìn nhà chính trị tốt nhưng chúng ta có một triệu người dân tồi thì xã hội cũng không thể tốt lên được. Nhưng chúng ta có một triệu người dân tốt mà chúng ta chỉ có 10 nhà chính trị tốt và có 90 nhà chính trị tồi, thì xã hội vẫn tốt lên. Cách mạng tháng Tám là một ví dụ về một xã hội như thế. Các nhà chính trị dựa vào chất lượng tử tế của xã hội Việt Nam thời đó đã tạo ra được cuộc cách mạng tháng Tám. Cho nên, để hướng dẫn người dân làm chính trị tốt, trước hết cần phải hướng dẫn họ làm người tốt. Đấy là lời khuyên của tôi với tư cách là một phản biện xã hội đối với báo chí. Báo chí cần phải góp những tiếng nói có hệ thống để xã hội thức tỉnh về câu chuyện tổ chức và rèn luyện nền dân chủ một cách từ tốn, một cách yên tĩnh để khi con người già rồi, ngẩng đầu lên, thấy trên đầu mình có nền dân chủ.


 Thứ hai ngày 8/11/2010


(Nguồn: Webssite Trần Nhương)

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

Ca dao bờ lóc bờ leo

Lâu quá rồi bọ không có entry nào cho Thư giãn cuối tuần. Từ nay bọ cố gắng mỗi tuần có một entry để bà con thư giãn. Cuộc sống vốn lắm sự nhiêu khê, buồn chán đau khổ bất bình thì nhiều nhưng không lẽ không có cái để cười vui. Cứ cười đại đi, rồi đến đâu thì đến, hi hi.


Chùm ca dao về bờ lóc bờ leo bọ chỉ mới sưu tầm một ít, bà con ai có xin gửi email cho bọ để bổ sung thêm, nhé nhé. Email của bọ: bilipmayo@gmail.com


Mẹ ơi chớ đánh con đau


Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ


Thôi đừng có đánh bài lờ


Dẹp ngay bờ lóc tao nhờ, được không?


 


Ai bảo chăn trâu là khổ


Tôi canh còm còn khổ hơn trâu.


 


Qua cầu ngả nón trông đình


Đình bao nhiêu ngói bấy người rình bờ leo.


 


Bầm ra ruộng cấy bầm run


Con làm bờ lóc còn run hơn bầm.


 


Người còm mỗi lúc mỗi đông


Thạch sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều.


 


Gió mùa thu anh ru em ngủ.


Em ngủ rùi......anh vào mạng buôn dưa


Bờ lóc có lắm gái tơ


Vừa buôn vừa đợi đến giờ gặp nhau....


 


Chàng ơi buông áo em ra


Để em tìm đến Quê choa re còm.


 


Sông dài Osin lội biệt tăm


Chừng nào hết cớm hỏi thăm thì về.


 


Anh Ba Sàm! Anh Ba Sàm!

Mau mau dẹp tiệm, công an tới rồi

Chúng mày tuyền nói buồn cười

Bạn tao không lẽ lại đòi hại tao!

 


Sao em không chịu lên giường


Hay là em vẫn vấn vương re còm?


 


Bốc giơ có mấy người hiền


Trai cu teo tóp gái tiền mãn kinh.


 


Nich nêm không mất tiền mua


Thay tên đổi họ để lừa lọc nhau.


 


Tin tặc là tin tặc ơi


Mau mau đi chỗ khác chơi, anh nhờ


Không không em đứng trên bờ


Khi naò có lệnh mới rờ đến anh.


SAU ĐÂY LÀ CA DAO CỦA CÁC CÒM SĨ QUÊ CHOA


(Xin phép các còm sĩ không đưa nickname)


Bờ lóc là cái bờ leo


Lề phải định hướng, sao leo trái lề?


 


Trâu ơi ta bảo trâu này


Cướp đêm là giặc cướp ngày tặc tin


 


“Lũ”lên Bọ lặn biệt tăm


Khi mô lũ rút lăn tăn Bọ về


Sạch bùn CHIẾU rượu dọn ra


Để Choa lại được hai tay rê còm…


 


Xin thôi bờ lốc bờ leo


Về nhà giúp vợ nuôi heo cho nó lành


 


 Thân lươn bao quản lấm đầu


Chút tình bờ lốc từ sau xin chừa


Không còn đi sớm về trưa


Không còn còm kiết buôn dưa buôn bè


 


Anh đi anh nhớ quê nhà


Nhớ cái chiếu rượu quê choa lắm còm


Cái còm hom hỏm hòm hom


Thương cho bọ Lập đọc còm mà run


 


Bờ lốc mà để còm măng


Thì chủ Bờ lốc hàm răng chẳng còn


Anh Lập mà thương bà con


Chỉ vì anh nghĩ " ta còn cần nhau"


En tri đưa đẩy vài câu


Hàng trăm còm sĩ bốc đầu tán vung


Anh Lập vừa canh vừa run


Đôi khi đái són, ẻ đùn tại nơi


Thôi thôi Lập chẳng dám chơi


Cắt còm cho khỏe, thảnh thơi ngủ bù


 


Trên trời có đám mây đen


Dưới đất mây xám đan xen mây vàng


Tụi nó vô lóc của chàng


Còm măng loạn xạ, tai mang chủ nhà!


 


Dí dầu bờ lóc đóng đinh


Người ta giám sát rập rình khó còm men!


 


Cá không ăn muối cá ươn


Ai mà viết lóc ngược đường, hack nha (cưng)!


 


Oép-xai thương lấy Lóc cùng,


Tuy rằng khác chí (*) nhưng chung một luồng (**).


(*) Báo chí


(**) Luồng thông tin


 


Ngồi buồn chẳng muốn nói ra,


Lên anh-tẹc-néc chẳng cha nào cho còm.


 


Hắc ơi buông áo em ra


Để em còm đã kẻo mà thành câm.


 


 


Một thương: bờ lóc là nhà

Hai thương: lại biết la đà còm măng


Ba thương: lại biết nói năng


Bốn thương: biết lỏng biết căng lúc nào


Năm thương: biết khép cửa ra vào


Sáu thương: sẵn sàng "tư thế" phải chào hắc cơ


  


Thân em như lóc giữa đàng.

Người khôn lịch sự , người phàm chửi vung!

 

Có công làm lóc có ngày…… tra tay

 

Một con ngựa đau cả tàu bỏ chạy

 

Một người vô net cả nhà kẹt phone

 

Mấy đời bánh đúc có xương

Mấy đời chơi lóc không vương tơ tình

 

Còn duyên vô lóc re còm

Hết duyên ra quán om xòm mày tao

 

Eng tri  là chiếc quan tài

Ca mần (Comment) là chiếc áo dài màu đen

Kỷ niệm là lọ bình nhang

Tương lai là chiếc khăn tang quấn đầu

 

Lóc đâu cho thiếp re còm

Hay thì thiếp ở, dở thì thiếp ... bye

 

Chồng giận thì vợ lầm bầm

Ông mà mê lóc tui bầm ông ra

 

Em cứ giận nhưng em đừng phá lóc

Để anh còm xả trét nha em

 

Lên non mới biết non cao

Có còm mới biết là mau hết giờ

 

Yêu anh hổng phải vì ham

Mà là anh hổng tham lam re còm

 

Gió đưa bụi chuối sau nhà

Lỡ mê làm lóc vợ nhà vẫn thương

 

Chồng người bờ lốc bờ leo

Chồng em xó bếp, chăm heo nuôi gà

Mời anh vào quán Quê Choa

En try em đã mở ra sẵn sàng

 

Nick name không mất tiền mua.

Một ngày một cái cho vừa lòng em.

 

Muốn sang thì bắc cầu Kiều.

Muốn con hay chữ còm nhiều nghe con.

 

Anh mèo đi chợ đường xa.

Hỏi thăm chị chuột đi đâu vắng nhà.

Đang bận bờ lốc đó cha.

Chuột bận rà rà đâu rãnh bò ra

 

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ.

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.

Anh về anh vọc Ya hu.

Chín thu em đợi, mười thu anh còm

 

Thiếu vợ thì thấy bình thường

Thiếu còm mới thấy vấn vương đêm ngày

Còm là chân, lóc là tay

Thiếu 2 thứ ấy như cầy thiếu trâu

Ai ơi có thấu lòng nhau

Càng đe bờ lóc, càng đau nhân tình

 

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

Văn hoá nghị trường, mừng và lo

Bài ni bọ viết theo đặt hàng của một tờ báo. Chẳng ngờ sáng ni được một biên tập viên cho biết bài báo đã bị ách lại. Biên tập viên thư giải thích cho bọ: "Cụ thể là sau khi báo TT ngày 2/11 tường thuật vụ bùng nổ Vinashin tại QH, hoan hô ĐB Nguyễn Minh Thuyết, bề trên triệu tập ngay một cuộc họp khẩn cấp để chấn chỉnh. Các TBT sợ thót dái, không dám ho he gì về chuyện ông Thuyết với Viashin nữa. Ôi, cái đất nước mình!". Một bài báo không được đăng không có vấn đề gì, nhưng mà buồn, buồn quá cho đất nước mình.


Bài phát biểu của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết tại Quốc hội hôm 1/11 vừa rồi gây một tiếng vang trong công chúng, không phải chỉ vì tính trung thực và thẳng thắn mà nó còn chạm đến những vấn đề cốt lõi của văn hoá nghị trường.


Chọn vấn đề Vinashin cho 7 phút phát biểu của mình, ông Nguyễn Minh Thuyết đã khẳng định Vinashin “thực sự là nó đã sụp đổ” và ông truy cứu trách nhiệm:Các thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm và nhận kỷ luật trước Quốc hội, cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình; không thể chỉ nhận khuyết điểm một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là rũ xong trách nhiệm.” Ông còn đề xuất: “Quốc hội biểu quyết thành lập Uỷ ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này, trên cơ sở đó, vào thời gian cuối kỳ họp, bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng và một số thành viên Chính phủ có liên quan”. Quả thực từ trước tới nay chưa ai dám nói và nói được như ông.


 Văn hoá nghị trường bao gồm minh bạch thông tin, thông tin minh bạch, văn hoá tranh luận, truy cứu trách nhiệm và văn hoá từ chức. Có thể nói Quốc hội ta đã có một bước tiến dài trong văn hoá nghị trường. Từ chỗ chỉ biết đồng thuận, hình ảnh những cánh tay đồng thuận đồng loạt dơ cao được coi như mẫu mực của tính ưu việt, đến việc chấp nhận tranh luận, công khai việc tranh luận và đi đến những cuộc bỏ phiếu thực chất đã cho thấy  Quốc hội đang dần thực sự là của dân, do dân và vì dân. Rất đáng mừng.


 Chúng ta không còn sợ “địch lợi dụng” khi minh bạch thông tin. Thực tế một khi mọi thông tin đều minh bạch, không có gì là úp mở, giấu đầu hở đuôi thì khi đó “địch” mới khó bề lợi dụng, chứ không phải ngược lại. Các cuộc tranh luận tại Quốc hội được truyền hình trực tiếp trong nhiều năm qua đã chứng minh điều đó, “ địch” đã hết đường xiên xỏ còn niềm tin dân chúng ngày một củng cố và nâng cao.


 Tuy nhiên để tiến tới một văn hoá nghị trường như mong muốn, một văn hoá nghị trường đích thực, chúng ta cần phải nổ lực nhiểu hơn nữa. Minh bạch thông tin đã có nhưng chưa nhiều, còn thông tin minh bạch thì hãy còn là một ẩn số. Trong vụ Vinashin chẳng hạn, con số  nợ là 80 nghìn tỉ, 100 nghìn tỉ hay 120 nghìn tỉ? Vì sao 8 lần thanh tra không phát hiện được sai lầm của Vinashin? Vì sao bận trăm công nghìn việc nhưng Thủ tướng vẫn cứ phải quản lý các doanh nghiệp lớn như vậy” như câu hỏi của đại biểu Phạm Thị Loan đưa ra khiến ta chưa thể an tâm về cái gọi là thông tin minh bạch.


Có hai vấn đề cốt lõi của văn hoá nghị trường mà chúng ta  chưa làm được, ấy là việc bỏ phiếu tín nhiệm chưa là việc bình thường và văn hoá từ chức hảy còn quá xa vời. Qui định phải có đủ 20% đại biểu Quốc hội đề nghị mới tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đã làm cho việc bỏ phiếu tín nhiệm tuồng như không xảy ra khi có đại biểu yêu cầu. Trong khi đó văn hoá từ chức hầu như không có trong “từ điển” của các ông quan lớn nhỏ, ngay cả việc bãi nhiệm, cách chức cũng rất khó xảy ra. Có lẽ vì thế mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận “ Ba năm nay tôi không kỉ luật một ai”, thủ tướng Phan Văn Khải thì than thở: “Công tác cán bộ nhiều khi vượt khỏi tầm tay”.


Cho nên với phát biểu của ông Nguyễn Minh Thuyết, văn hoá nghị trường nước nhà chưa bao giờ sáng tỏ như lúc này. Thật đáng mừng. Mừng đó rồi lo đó khi một đại biểu phản bác lại bằng thứ lý lẽ cũ kĩ, lạc hậu: “Không nên làm rối tình hình, dễ khiến kẻ xấu lợi dụng”. Nếu đây không phải là tiếng nói lạc lõng giữa nghị trường, nếu văn hoá tranh luận lấy quy chụp và suy diễn làm căn bản vẫn còn được  số đông ủng hộ, thì văn hoá nghị trường vẫn còn kẹt cứng, đóng băng, chưa mong có ngay khai thông, mở cửa. Đó chính là nỗi lo lớn.


CHUẨN "CHÂU PHI" CHO BÔ- XÍT VÀ... TIVI CHO VINASHIN?


Phương Loan


Dù không hề muốn, Phát ngôn & Hành động tuần này vẫn buộc phải tiếp tục hai chủ đề đã đề cập từ tuần trước, bởi cả hai vẫn giữ nguyên sức nóng như lửa đốt từ trong diễn đàn quốc hội lẫn ngoài vỉa hè xã hội.


Bô-xít và chuyện chuẩn... châu Phi?


Không được đưa vào chương trình nghị sự chính thức của kỳ họp lần này, nhưng không vì thế mà chủ đề bô-xít bị lãng quên. Cử tri sẽ "ghi điểm" cho ĐBQH Dương Trung Quốc, bởi ông (hình như là ĐBQH duy nhất) đã viết thư cho Chủ tịch Quốc hội đề nghị "tại kỳ họp này Chủ tịch cần bày tỏ một thái độ rõ ràng đối với những ý kiến quan ngại của nhân dân; các ủy ban của QH có liên quan cần có những hoạt động giám sát theo quy định của pháp luật và bày tỏ ý kiến rõ ràng". Cũng chính ông (hình như lại là ĐBQH duy nhất) đã dành gần như trọn 7 phút quý giá trong thời gian thảo luận kinh tế - xã hội ở hội trường sáng 2.11 chỉ để nói về bô-xít, bỏ qua cả chục vấn đề nóng hổi khác.



Đại biểu Dương Trung Quốc: "Tại kỳ họp này Chủ tịch cần bày tỏ một thái độ rõ ràng đối với những ý kiến quan ngại của nhân dân..."


Dù rằng trước ông, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên đã "xin phép phát biểu dài hơn một chút" để trấn an Quốc hội về sự an toàn của môi trường khi khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, bởi các chỉ tiêu, các tiêu chuẩn là tiêu chuẩn hiện đại của thế giới, các chỉ tiêu về môi trường nghiêm ngặt nhất của Việt Nam quy định và với các yêu cầu cân đong, đo đếm rất cụ thể là cơ sở khoa học.


Nhưng ĐB Quốc đã chỉ ra một "thiếu sót" mấu chốt trong giải trình có vẻ như đã kỹ càng của Bộ trưởng Nguyên, rằng "việc triển khai xây dựng báo cáo về môi trường diễn ra cách đây đã 1 năm, không biết sau sự cố Hungary, đoàn giám sát của bộ đã đi chưa, như thế vẫn là những thông tin cũ.


"Đã một lần trên phương tiện thông tin đại chúng, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên nói rằng đó là về lý thuyết còn trên thực tiễn là chưa rõ. Người ta đặt dấu hỏi về khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn như thế nào". Thông tin cũ nên ĐB Quốc không an lòng, và người dân cũng chưa thể an lòng.


Ấy là chưa kể, khi Bộ trưởng bảo các chỉ tiêu về môi trường nghiêm ngặt nhất của Việt Nam quy định thì người dân bỗng dưng cảm thấy hơi... rùng mình. Nói quốc tế xa xôi thì người dân còn "ù ù cạc cạc" không biết quốc tế nào, bởi quốc tế có 5, 7 đường quốc tế, chuẩn châu Âu châu Mỹ cao vời vợi hay chuẩn... châu Phi thì cũng hiển nhiên phải gọi là quốc tế thôi.


Quốc tế còn chưa chắc chắn, đằng này Bộ trưởng lại nhắc chỉ tiêu môi trường của Việt Nam thì thật không biết phải nghĩ thế nào. Môi trường của Việt Nam đang "sạch" thế nào thì người dân hoàn toàn có thể tự cảm nhận (bởi cũng rất tùy nơi), nhưng chuyện chuẩn Việt Nam thế nào thì cứ đi dọc Việt Nam xem các... trường chuẩn quốc gia là Bộ trưởng sẽ thấy chuẩn của mình còn thấp ra sao.


Nhớ lại chính những ngày này năm ngoái, Hà Nội còn được công nhận là đô thị sạch hẳn hoi, được công nhận mà chẳng người Hà Nội nào thấy vui, thậm chí họ còn trách những người trao danh hiệu là trao nhầm.



"Đã một lần trên phương tiện thông tin đại chúng, Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên nói rằng đó là về lý thuyết còn trên thực tiễn là chưa rõ. Người ta đặt dấu hỏi về khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn như thế nào".


Lan man một tý chuyện chuẩn, chuyện sạch, để Bộ trưởng sẽ không ngạc nhiên khi người dân sẽ tỏ ý nghi ngờ khẳng định môi trường sẽ sạch "trên lý thuyết" của Bộ trưởng.


Chưa hết, Bộ trưởng bảo Hội đồng thẩm định của Bộ có tới 21 thành viên, nhiều gấp ba lần các hội đồng khác (thường chỉ có 7 - 9 thành viên), "gồm tới 18 nhà khoa học, bao gồm các GS, PGS và TS, chủ yếu là các đồng chí là viện trưởng, viện phó, giám đốc trung tâm khoa học, hiệu trưởng, hiệu phó các trường đại học, phải mời các đồng chí này vào, bởi vì đứng đằng sau các nhà khoa học này là cả các viện nghiên cứu, là hệ thống các trường đại học, các giáo sư đứng đằng sau, để thẩm định tất cả các lĩnh vực có liên quan". Giá như Bộ trưởng có thể công bố cụ thể tên của 18 nhà khoa học này, để xem đứng đằng sau họ có tổng cộng bao nhiêu viện nghiên cứu, bao nhiêu trường đại học, bao nhiêu giáo sư, đã bao quát đủ tất cả các lĩnh vực chưa?


Rồi phải đi hỏi một vài GS trong đó (nếu hỏi được tất cả thì còn gì bằng) xem họ đã bao giờ được mời tư vấn về những vấn đề liên quan đến dự án bô-xít này chưa. Chỉ khi họ đều bảo họ đã có tham gia rồi, và họ khẳng định là an toàn, thì may ra người dân mới tin, và có lẽ ĐB Dương Trung Quốc cũng tin.


Còn bây giờ, cũng như ĐB Quốc, người dân chỉ thấy rất nhiều nhà khoa học lên tiếng lo âu về dự án, cũng toàn những nhà khoa học lớn, thuộc các đại học hay viện nghiên cứu lớn cả. Vậy thì phải suy luận thế nào đây? Vì viện trưởng của họ, hiệu trưởng của họ chưa được mời vào hội đồng thẩm định của Bộ, hay được mời vào rồi mà chưa hỏi ý kiến họ, hay hỏi rồi mà lại...?


Vì quá thiếu dữ liệu nên không dám đưa ra kết luận gì, chỉ biết rằng thêm một cơ số lý do để người dân chưa thể tin chắc "như đinh đóng cột" như Bộ trưởng rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là an toàn.


Chỉ phân tích vài ý chứ chưa đi sâu vào những nội dung chuyên môn trong phát biểu của Bộ trưởng, đã thấy có nhiều điểm đáng quan ngại, nên chỉ xin phân tích thêm một điểm "nho nhỏ" nữa thôi. Trong kiến nghị của các nhân sĩ trí thức có nhắc chuyện Trung Quốc đã đóng cửa cả trăm mỏ khai thác bô-xít trên khắp đất nước vì ảnh hưởng đến môi trường. Còn trong phần trình bày của Bộ trưởng lại có nhắc việc đã tổ chức cho đoàn của Hội đồng thẩm định đi thăm Trung Quốc, để học tập kinh nghiệm. Giá như đoàn của Hội đồng thẩm định đến chính những nơi chính phủ Trung Quốc đã cho đóng cửa mỏ thì hay biết mấy? Bởi trăm nghe không bằng một thấy mà. Họ đóng cửa mỏ của họ, rồi lại sang khai thác mỏ của mình thì có đáng tin không?



Khai thác bo xit và Vinashin đang là vấn đề nóng nhất trong quốc hội, Ảnh Dân Trí


Không lẽ phải dùng từ "vô cảm"?


Đến đây thì xin dừng phân tích những phát ngôn của Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường Phạm Khôi Nguyên, để trở về với ĐBQH Dương Trung Quốc.


Không chỉ tỏ ra chưa an lòng với giải trình của Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường, ĐB Quốc còn thẳng thắn "nhắc" chính phủ rằng, đến ngày Chính phủ hoàn tất báo cáo kinh tế xã hội để trình Quốc hội thì sự cố vỡ đập bùn đỏ ở Hungary đã diễn ra được nửa tháng, để đặt ra một câu hỏi "đau đáu": Không lẽ Chính phủ, tôi dùng chữ "vô cảm" đến mức không hề đả động trong nội dung báo cáo trước Quốc hội và Quốc hội cũng không yêu cầu Chính phủ giải trình trước hết để làm an lòng dân, sau nữa thể hiện tính nhạy bén và trách nhiệm giám sát thường xuyên của mình. Người dân quan sát thấy dường như cả Quốc hội và Chính phủ đều coi câu chuyện bôxít đã là chuyện "ván đã đóng thuyền".


ĐB Quốc không ngại ngần khi đưa ra sự so sánh có thể sẽ làm mất lòng nhiều người: "Những ý kiến mang tính chất phản biện khoa học và đầy tinh thần trách nhiệm của những người yêu cầu phải dừng hay xem xét lại dự án khai thác bôxit ở Tây Nguyên ngày càng nhiều về số lượng, càng có sức nặng thuyết phục về chất lượng. Trong khi đó, trả lời các quan chức có trách nhiệm của Chính phủ lại càng bộc lộ những vấn đề đáng lo ngại hơn về hiệu quả kinh tế trong khai thác và tiêu thụ, về sự thiếu đồng bộ giữa dự án khai thác và điều kiện hạ tầng để vận chuyển, về sự lựa chọn công nghệ và địa điểm chế biến tối ưu, về những rủi ro về sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài".


Ông Quốc không trốn tránh trách nhiệm của một đại biểu dân cử khi khẳng định sự tự phê phán của Quốc vẫn chưa tương xứng với trách nhiệm của Quốc hội, trong đó có mỗi ĐBQH chúng ta trong việc này.


Quốc hội vì là cơ quan quyền lực cao nhất nên sẽ phải chịu trách nhiệm cao nhất, "Bài học về sự đổ vỡ của Vinashin hoàn toàn có thể soi vào dự án bô-xít nên chúng ta buông lỏng quyền giám sát của Quốc hội, bỏ ngoài tai những ý kiến đóng góp của nhân dân không loại trừ sự lặp lại".


Xin không bình luận nhiều về những phát biểu này của ĐB Dương Trung Quốc, bởi ông Quốc đã nói quá thẳng thắn và thấu đáo suy nghĩ của ông, bình luận thêm có khi lại thành thừa. Chỉ xin "nhắc" thêm ĐB Quốc, rằng các quan chức có trách nhiệm của Chính phủ mà ĐB Quốc nhắc đến, phần đông trong số họ cũng chính là ĐBQH. Nghĩa là, họ sẽ phải chịu trách nhiệm kép cơ đấy.


Nhưng phải chăng chính vì "vừa đá bóng vừa thổi còi" mà người dân chẳng thấy bóng dáng người đại diện của mình trong các quan chức chính phủ.


Người dân lo thì cứ lo, còn các vị không ngừng khẳng định và tái khẳng định sự an toàn. Chỉ ĐB Quốc không phải thành viên Chính phủ mới đề nghị "Có thể dừng lại Dự án bôxít để bàn bạc cho thấu đáo. Dự án Dung Quất đã kéo dài nhiều năm vì sự lựa chọn phương án tối ưu và cái tối ưu phải thuộc về lợi ích dân tộc của mình, vì thế việc dừng lại để bàn thêm dự án bôxít là điều không trái với lòng dân".



Con tàu Vinashin đang làm đất nước tròng trành, Ảnh Pháp luật Việt Nam


Sẽ có Ủy ban lâm thời Vinashin?


Chỉ mình ĐBQH Dương Trung Quốc đã làm "nóng" vụ bô-xít, đủ biết Vinashin sẽ nóng đến mức nào, khi đây là cái tên riêng được nhắc đến nhiều nhất trong 2 ngày thảo luận kinh tế - xã hội, đến mức nếu Vinashin là một con người, chắc chắn người ấy sẽ liên tục "hắt hơi". Liên tiếp các ĐBQH đại diện cho cử tri của miền Bắc đến miền Nam, miền xuôi lên miền ngược, nhắc đến Vinashin trong những hoàn cảnh khác nhau. Nhắc nhiều quá đến mức các ĐB sau đó chỉ cần đề cập "trường hợp Vinashin như nhiều ĐB đã đề cập sáng nay, hoặc đề cập hôm qua" là quá đủ.


Ấy vậy nhưng lắng nghe phát biểu của các ĐBQH, sẽ thấy rất khác nhau, và có thể chia thành nhóm hẳn hoi. Chỉ xin chọn nhắc lại một vài phát biểu trong số đó, không dám khẳng định đã là tiêu biểu nhất hay chưa.


ĐB Nguyễn Minh Thuyết tiếp tục thể hiện bản lĩnh khi bấm nút phát biểu sớm và dành toàn bộ thời gian "có hạn" để chỉ nói độc nhất chuyện Vinashin. Thời gian dành cho mỗi ĐB tối đa là 7 phút quy định, nhưng chắc chắn ĐB Thuyết không dùng hết 7 phút này, bởi phần phát biểu của ông khá ngắn gọn, lại là một bài đã chuẩn bị sẵn. Có điều, tập trung chỉ một vấn đề là chủ đích của ông, "để ngay sau buổi họp này trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội như một kiến nghị chính thức của đại biểu. Trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương xem xét và cho biểu quyết về kiến nghị của tôi".



ĐB Lê Văn Cuông: "nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế thì vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở ta thì chưa". Ảnh VietNamNet


Bởi là kiến nghị nên ông không phân tích nhiều về sự khổng lồ của con số 86 ngàn tỷ, mà tập trung vào câu hỏi "còn những ai nữa sẽ phải chịu trách nhiệm về những sai phạm này?".


Nhắc lại vụ án Lã Thị Kim Oanh ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cách đây hơn 6 năm, vì nuông chiều, luôn áp dụng những siêu cơ chế cho công ty của Lã Thị Kim Oanh dẫn đến thất thoát trên 100 tỷ đồng mà một vị Bộ trưởng đang rất được lòng dân, được lòng đại biểu Quốc hội đã phải từ chức và 2 vị Thứ trưởng đã phải ra trước vành móng ngựa. 100 tỷ đồng ngày ấy khiến một Bộ trưởng từ chức, 2 thứ trưởng ra trước vành móng ngựa, còn 100.000 tỷ hôm nay thì sao?


ĐB Thuyết bảo "Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần" có thể "hơi quá", vì 6 năm qua mức độ trượt giá cũng nhiều rồi, nhưng vẫn chắc chắn một điều là vụ việc Vinashin nghiêm trọng hơn vụ việc Lã Thị Kim Oanh ngày xưa.


Vậy nên theo ĐB Thuyết, "trong trường hợp này các thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm và nhận kỷ luật trước Quốc hội - cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình. Không thể chỉ nhận khuyết điểm một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là rũ xong trách nhiệm".


Đề xuất của ĐB cực kỳ cụ thể, đề nghị UBTVQH tổ chức để Quốc hội biểu quyết thành lập Ủy ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ có liên quan.


Đây là lần đầu tiên có một ĐB đề xuất lập Ủy ban lâm thời, sau này thế nào cũng sẽ được ghi lại trong lịch sử của Quốc hội.


Không chỉ ĐB Thuyết mà rất nhiều ĐBQH có những đề xuất liên quan đến trách nhiệm của các thành viên chính phủ trong "vụ Vinashin", họ lập thành một nhóm những ĐBQH mạnh mẽ và quyết liệt.


Nhắc chuyện ở các nước, "nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế thì vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở ta thì chưa", ĐB Lê Văn Cuông tán thành việc thành lập Ủy ban lâm thời, thậm chí còn tiến thêm một bước là phải lập "ngay trong kỳ họp này".


Một nhân vật quan trọng của Quốc hội vì mang hàm bộ trưởng là Chủ nhiệm UB Quốc phòng - An ninh Lê Quang Bình cũng phải đưa vào nhóm này, vì ông cũng ủng hộ việc thành lập ủy ban lâm thời, ủng hộ một việc "chưa có tiền lệ", dù biết thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc hội rất ngắn nhưng ông chỉ đưa ra đề xuất "Có thể sẽ phải mời rất nhiều chuyên gia độc lập và sử dụng kết quả của các cơ quan khác như kết luận của Ủy ban Kiểm tra TƯ, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các bộ, ngành"


Khác với những lo âu về bô-xít là câu chuyện của tương lai, giải quyết hậu quả Vinashin là câu chuyện đã có hậu quả nặng nề (quá khứ), nên không thành viên Chính phủ nào thể hiện thái độ lạc quan trong tuần này (chỉ trong tuần này thôi, xin không nhắc lại chuyện của những tuần trước).


Vinashin sẽ giãi bày trên tivi?


Vinashin đã "hỏng", ĐBQH thì quyết liệt đòi quy trách nhiệm, đòi phải có người từ chức, đòi phải xử lý nên các thành viên chính phủ chỉ nhẹ nhàng giải trình để Quốc hội hiểu rõ hơn mà thôi.


Tổng thanh tra Chính phủ thì "phân tích chứ không đổ lỗi" chuyện chưa hề có một cuộc thanh tra toàn diện nào, là do ba lần định thanh tra nhưng năm thì do trùng lặp với Bộ Tài chính nên phải dừng, năm thì các tập đoàn tập trung khắc phục khủng hoảng kinh tế và suy thoái nên phải giảm áp lực thanh tra, năm nay thì lại phải "chờ" Ủy ban kiểm tra xong việc.


Vậy là "11 lần thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát mà không phát hiện được yếu kém, vi phạm của Vinashin" vì 11 lần làm việc với Vinashin từ đầu năm 2006 đến đầu năm 2010 là do các cơ quan khác nhau, hoạt động theo các quy định pháp luật khác nhau, thực hiện.


Bộ trưởng Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng thì "thấy có trách nhiệm của mình, thấy có khuyết điểm của mình" trong việc "nhiều vấn đề không phát hiện được, nhiều vấn đề phát hiện chậm, thậm chí tất cả những vấn đề cố ý làm sai trái là hoàn toàn không phát hiện được" nhưng cũng nói rõ thêm là "chúng tôi rất lúng túng" trong việc thực hiện chức năng giám sát khi không còn chế độ bộ chủ quản, Bộ chỉ còn chức năng quản lý ngành nên không thể can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của tập đoàn.


Ngoài ra, còn thêm Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Kế hoạch - đầu tư Võ Hồng Phúc cũng giải trình trước Quốc hội, nhưng xin không nhắc đến những phát biểu ấy, bởi cả hai bộ trưởng đều đưa ra bài học kinh nghiệm về cơ chế nhiều hơn là trách nhiệm của chính bộ mình.


Dễ nhận thấy cách phát biểu trước QH của nhóm các thành viên Chính phủ trực tiếp liên quan đến "con tàu Vinashin". Nhưng xin được dẫn thêm phát biểu của một vài ĐBQH khác.



Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết: "Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần" Ảnh VietNamNet


ĐBQH Trần Bá Thiều (ĐBQH Hải Phòng, Tổng Cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng, Bộ Công An) dường như là người có phát biểu tươi sáng nhất, rằng "Hiện nay chúng ta vẫn ở trong tầm kiểm soát được Vinashin, nhiều đại biểu Quốc hội chưa hình dung hết được Vinashin như thế nào, thực sự Vinashin hiện nay nhiều con tàu vẫn đang xuất xưởng, vẫn đang được đóng mới, còn đám sai phạm thì ta xử lý hết sức nghiêm túc, chứ không phải Vinashin u ám và thất vọng như một số đại biểu phát biểu. Cơ quan điều tra đã làm việc hết sức nghiêm túc, tất cả những đối tượng sai phạm, những con người sai phạm ở đây đều được xử lý một cách nghiêm minh. Bộ Chính trị cũng giao cho Ủy ban kiểm tra Trung ương tiếp tục kết hợp với các cơ quan chức năng để làm rõ trách nhiệm của các bộ, ban, ngành liên quan".


Trong phát biểu của mình, dường như ông Thiều đã "vô tình" quên hẳn món nợ khổng lồ mà cả đất nước đang phải gánh chịu vì những sai lầm ở Vinashin.


Nhóm ĐB quyết liệt muốn các thành viên chính phủ có liên quan phải nhận trách nhiệm trước Quốc hội, trước dân, rõ ràng như ĐB Nguyễn Minh Thuyết là Quốc hội biểu quyết thành lập Ủy ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này. Nhưng xem trong phát biểu của ĐB Trần Bá Thiều, có cảm giác ông không muốn Quốc hội vào cuộc, mà cứ để Ủy ban kiểm tra làm việc mà thôi.


Sẽ có người băn khoăn, tại sao ĐB Thiều lại không muốn Quốc hội thực hiện tốt hơn chức năng giám sát của mình?


Liệu khi phát biểu, ông Thiều đang là một ĐBQH, hay là một Tổng Cục trưởng thuộc Bộ Công an, ông đang là ĐBQH hay thành viên chính phủ? Chỉ xin ghi nhận kiến nghị của ông Thiều: "Tôi kiến nghị với Quốc hội yêu cầu lãnh đạo Tập đoàn Vinashin có một buổi báo cáo truyền hình trực tiếp trước Quốc hội để cho nhân dân và cho đại biểu Quốc hội tường tận về Vinashin hiện nay, không phải là để ù ù, cạc cạc, không biết gì cả thì cứ nói làm sao rất khó".


Nếu kiến nghị ấy được thực hiện, có khi đây sẽ là buổi truyền hình trực tiếp được đông đảo bà con đón xem nhất.


Xin chọn nhắc thêm phát biểu của một ĐBQH nữa, ĐBQH Nguyễn Đức Kiên (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng). Phát biểu của ông được chú ý "hơn người", bởi trong chưa đầy 2 tuần, ông đã có hai cách phát biểu rất khác nhau. Ngày 21/10, trao đổi với báo chí, ông Kiên khẳng định "Đứng về mặt khoa học kinh tế thì Nhà nước đã cho Vinashin phá sản rồi, có điều không tuyên bố thôi", còn hôm 2/11, phát biểu tại hội trường Quốc hội, ông lại bảo "Theo các báo cáo hiện nay tổng tài sản có của Vinashin là khoảng 103.000 tỷ, tổng tài sản nợ ghi trên sổ sách kế toán là khoảng 86.000 tỷ. Như vậy nếu đứng về mặt kinh tế cân đối của Vinashin là vẫn còn, vốn của chủ sở hữu vẫn còn, nó không phải mất đi nhưng vấn đề ở đây chúng ta nói với nhau là hiệu quả vốn đầu tư của vốn vay đối với Tập đoàn Vinashin như thế nào, chứ không phải Tập đoàn Vinashin đã phá sản".


Trong chưa đầy 2 tuần, một tập đoàn từ phá sản rồi lại thành không phá sản, chính xác theo lời của ông là "không phải đã phá sản". Người dân chịu chết không biết vì lý do gì ông lại thay đổi quan điểm 180 độ như thế? Cũng lại phải băn khoăn, không biết khi nào ông Kiên là ĐBQH, còn khi nào ông đang là Phó Chủ tịch UBND của một tỉnh?


Một câu hỏi xưa cũ nhưng buộc phải đặt ra, liệu một ĐBQH tham gia chính quyền có bị "xung đột lợi ích" khi phát biểu không? Không cần là Bộ trưởng mới khó, cứ "dính" đến chính quyền là khó rồi. Đành rằng, chính quyền của ta cũng là chính quyền "do dân, vì dân", nhưng khái niệm ai là dân thì mênh mông ghê lắm


(Nguồn :VNN)

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Ngôi nhà ma

Tan Dinh


Ngôi nhà Ma. Chắc lại ăn theo “Ngôi nhà Điên” của Bà Đặng Việt Nga ở Đà Lạt?


Còn lâu mới ăn theo nhá! Điên là điên mà Ma là Ma, không thể lẫn lộn khái niệm được, đây là nhà Ma hẳn hoi, nhà Ma xịn, không điên, hehe!


Ngôi nhà ma mà tôi đang nói đến chính là ngôi nhà chung của tất cả chúng tôi – dân yêu văn chương gốc Việt gốc Choa trên toàn Quả Đất, còn ở hành tinh khác thì chúng tôi chưa thống kê được. Đó là một ngôi nhà có chủ, một người gốc quê choa xịn, rất hiếu khách, rất đào hoa, và cũng rất nhát gái, keke!


Chủ ngôi nhà đó có tên là Bọ Lập. Bọ đặt tên ngôi nhà của mình là Quê Choa. Trong ngôi nhà đó, bằng nghệ thuật sắp đặt, Bọ cho bày một Chiếu Rượu với đầy đủ mồi nhậu để khách đến chơi vừa có thể uống rượu vừa đàm đạo về…mồi một cách thoải mái!


Đồn rằng ngôi nhà này có ma. Tin đồn loang ra, khách đến ngày càng đông. Lúc đầu nhiều người do tò mò thử ghé qua xem con ma nó thế nào, hôm sau ngồi nhà thấy bồn chồn không đến Quê Choa không chịu được, thế là lại đến. Có khi chỉ đến đứng ngoài cửa, ghé mắt nhòm vào một cái rồi về, vậy mà không đến không chịu nổi, thế thì bị ma ám rồi còn gì! Hay là trong rượu có ngâm rễ thuốc phiện, loại rượu 138 ma mị của gã “tửu tặc” Văn Công Công? Hay Bọ nêm ma túy vào mồi? Chịu, không ai giải thích được. Chỉ biết là ngôi nhà có một sức hút ma quái, không thể không ghé qua, có khi ngày ghé chục lần, có ngày còn nhiều hơn.


Có điều lạ là ai đã từng ghé qua Quê Choa đều có cảm giác là đang trở về nhà mình, cứ tưởng đó là nhà mình. Và thế là cười nói râm ran, tự nhiên như ruồi vô chủ, chê mồi này nhạt khen mồi kia mặn, khi chê ít lúc kêu nhiều, làm cho lắm lúc khách tưởng mình là chủ mà chủ cứ ngỡ mình là kẻ đầu bếp nấu ăn! Vì vậy mà lúc nào cũng vui như Tết, ra về ai cũng hớn hở hài lòng, chậc chậc tấm tắc xuýt xoa, thật xứng danh là ‘Chiếu Rượu vui vẻ’!


Vậy mà chiều qua lúc tôi vừa đến, ngước nhìn phía cửa thấy con số 113 hiện lên nhấp nháy, giật bắn cả mình. Thần hồn nát thần tính, cứ tưởng có cảnh sát đặc nhiệm đến làm việc. Té ra không phải, 113 là con số thống kê số lượng khách đang ngồi trên Chiếu Rượu. Khách đông kinh hoàng. Nhưng sao nghe lặng ngắt, không một lời trao đổi bàn tán, không một tiếng cười hay trêu chọc tếu táo như mọi khi. Ngó vào Chiếu thấy khách khứa vẫn miệt mài nhắm mồi cụng ly, vẫn khoa chân múa tay nhưng tuyệt nhiên không có một tiếng động phát ra, cứ như là mình đang xem phim câm vậy.


Thấy lạ, tôi vẫy Mục Đồng ra ngoài. Lạ thật, đứng ngoài sân thì nói nghe oang oang, nói thoải mái nghe soải mái, vậy sao trong kia lạ vậy? Tôi thắc mắc “Bọ cấm bà con nói chuyện phải không?”. Mục Đồng giải thích “Đâu có, bác xem bà con vẫn nói chuyện thoải mái đấy chứ. Bọ chỉ cho lắp thiết bị khử âm thôi”. À, ra thế!


Bỗng có mấy “Mụ” đi ra, mắt đẫm nước đầy vẻ bi tráng. Tôi lại gần Bạch Dương, hỏi “Sao thế, ai bắt nạt bọn em?”. Bạch Dương vẻ bức xúc “Đâu có, nỏ ai dám. Bọn em tức là cố nói to mà chẳng ai nghe bọn em nói gì”. Nói xong ôm chầm lấy tôi khóc òa lên tu tu. Eo ơi, ngượng chết đi được!


Đợi các mụ đi xa, tôi nói Mục Đồng đủ nghe: “Tôi không đứng về phe nước mắt! Về mặt lý thuyết thì Bọ có thể làm như vậy, nhưng than ôi, bà con sẽ nghĩ gì, sẽ bức xúc, sẽ ức chế, sẽ vưn vưn. Như mấy mụ vừa rồi đấy, bức xúc như thế về nhà chỉ khổ chồng khổ con thôi!”.


Mục Đồng có vẻ đồng tình, hắn nói: “Thực ra thì cách làm này không có gì mới, bác ạ. Nhưng theo em, cũng phải suy nghĩ tìm ra giải pháp gì đó thích hợp hơn với văn hóa quê choa. Và cũng cần quyết định càng sớm càng tốt!”.


Tôi định ăn theo mụ Thanh Chung, viết một lá thư tung lên mạng như một thứ thư ngỏ người ta vẫn thường làm, có thể giật tít thật kêu như “Thư gửi những linh hồn đau khổ” chẳng hạn. Mục Đồng mới nghe tôi trình bày qua, đã gạt đi “Thôi bác ạ, nói mãi rồi họ có nghe cho đâu, bây giờ thì không còn gì để nói nữa. Bác bảo, cứ bức xúc lên là họ nói cho sướng mồm, nói vung chí mẹt, khua trúng cả vào vùng nhạy cảm, chả để ý gì đến sự an bình của gia chủ. Nói thì bảo sao nói nhiều, không nói thì có người lại phê phán là nhiễm văn hóa Makeno, khổ thế!”.


Tôi kéo Mục Đồng lại gần rồi cả hai cùng quay nhìn về phía Quê Choa: khách khứa vẫn ra vào tấp nập đông đúc, mồi nhậu trên các mâm vẫn đầy đặn thơm ngon, cuốc lủi trong be trong hụ vẫn đầy bặp tràn cả ra chiếu, chỉ có cái khác lạ là tất cả đều lặng câm, không một tiếng động vọng ra ngoài. Chẳng khác gì những bóng ma đang ăn cỗ.


Một ngôi nhà Ma chính hiệu, một cõi đi về của những kẻ ghiền văn chương!


Chú thích: Tất cả những cụm từ viết chữ nét màu xanh dương trong bài là đầu đề của các entry gần đây trên Quê Choa.


(Nguồn: Blog TanDinh)

THỜI ĐẠI ĐI NHẸ NÓI KHẼ


Mr. Do


Sự kiện Cô Gái Đồ Long bị bắt được đưa tin một cách dè dặt trên báo chí chính thống, trong khi các trang báo ngoại quốc và trang mạng không thuộc dòng chính thì bình khá nhiều chuyện “hậu trường”. Căn đều Hai bên Chẳng biết thực hư, đúng sai trong vụ Cô Gái Đồ Long ra làm sao. Mà vụ này theo tôi cũng chẳng dính dáng mấy gì tới dân chủ, nhân quyền hay là những cái tương tự thế, có điều sự vụ diễn ra vào một giai đoạn có quá nhiều sóng gió với giới blogger nên vô hình trung đã tạo ra một không khí tê lạnh trên thế giới mạng.


Cách phản ứng của các blogger có tiếng cho thấy điều đó.


Blogger Beo, một nhân vật vô cùng phức tạp, đã xóa bài viết của mình về vụ Cô Gái Đồ Long. Nghe nói blogger này (tôi chỉ nghe nói thôi) mới đây có nhắn với blogger Quê Choa là hãy cẩn trọng với các lời bình.


Blogger Đông A mới có bài viết rất thú vị về vụ Cô Gái Đồ Long, nhưng cái phần “tái bút” ở cuối bài “Entry này không nhận comment. Bất kỳ comment nào cũng sẽ bị xóa” cho thấy vị học giả này cũng ý thức được những nguy cơ tiềm ẩn đối với mình.


Blogger Osin từng có một bài viết – trước khi phải đóng cửa blog của mình không lâu – với nhan đề: “Các bạn thì ảo, còn tôi thì thực“, trong đó kêu gọi khách viếng thăm hãy cẩn trọng với từng còm men.


Lời nhắn của Beo, “tái bút” của Đông A hay bài tâm tình của Osin là điều dễ hiểu, bởi theo luật pháp Việt Nam, chủ nhân blog phải chịu trách nhiệm đối với tất cả các nội dung đăng tải trên trang của mình. Một còm men “nhạy cảm” của một “anh hùng nặc danh” (khổ thay, dạng “anh hùng” này ngày càng nhiều) nào đó có thể đẩy chủ nhân blog vào tù.


Tôi nhớ, cách đây ít lâu, hôm sau ngày luật sư Lê Công Định và vài người nữa bị bắt, tôi và mấy người bạn ngồi trong quán Serenata sau Nhà tang lễ TP.HCM. Một chuyện thời sự như vậy là đề tài một cách tự nhiên bên ly cà phê nhàn nhạt. Nhưng khi chuyện mới khởi đầu, một người bạn tôi đã lên tiếng: “Thôi, đừng nói mấy chuyện ấy nữa. Không thì rắc rối đấy”. Tôi cười: “Ơ, thời đại này là thời đại nào?!”. Người bạn kia cũng cười: “Thời đại đi nhẹ, nói khẽ”.


————


Hôm trước đi uống bia, nàng thỏ thẻ: “Không hay đâu. Có gì viết thì đưa cho em đọc thôi nhé. Đừng có pót linh tinh”. Tôi cười. Làm sao có thể cưỡng lại đề nghị của nàng chứ


(Nguồn: BLog Mr. Do)

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

Văn hoá Mackeno

Trước khi đọc bài này, bọ xin nhắc bà con lần nữa: Que choa chỉ là chiếu rượu vui vẻ thôi, không phải diễn đàn dân chủ mô, bà con đừng có vô lộn. Bà con nên chuyện trò vui vẻ, nhã nhặn. Ch có miệt thị, thằng nọ con kia, chúng nó chúng mày rất không hay.  Đặc biệt là chửi bới, lũ này ngu lũ kia điên... thì lại càng nên tránh.  Bà con c làm như rứa thì các đồng chí tin tặc sẽ đồng thuận với chiếu rượu của bọ thôi.


Ngày 12/10 trên đường Kha Vạn Cân - TP HCM, một chiếc xe bồn chở hóa chất bất ngờ sụp “hố tử thần" lật ngang đè lên một chiêc ôtô khác đi ngược chiều.  Trước đó 3 ngày, ngày 9/ 10, cũng trên đường Kha Vạn Cân, chị Hà Thị Tuyết Mai chở con đi học về, va phải hố ga ngã ra đường bị xe tải cán chết. Chỉ trong thời gian ngắn, trên đường Kha Vạn Cân nói riêng và địa bàn TP HCM nói chung đã có hơn chục tai nạn giao thông do các “hố tử thần” gây ra.


“Hố tử thần” là các ống thoát nước bị vỡ, các hố ga bị mất nắp, vỡ nắp tạo ra những cái hố sâu hoắm, biến thành những “cái bẫy” giết người, đặc biệt khi đường phố bị ngập lụt, bị mất điện. Các hố ga xây cao hơn mặt đường, nhô ra lòng đường cũng là những “ cái bẫy” giết người. Cái chết của Chị Mai là một ví dụ. Không phải bây giờ mới có những cái “hố tử thân”, nó có từ nửa thế kỉ nay. Từ khi đất nước vào kì đổi mới, đường sá cầu cống được xây cất ngày càng nhiều thì “hố tử thần” xuất hiện ngày càng nhiều, những cái chết thương tâm cũng theo đó mà nhiều lên.


Ở TP HCM, kể từ năm 2007 dư luận nhiều lần lên tiếng cảnh báo và truy vấn trách nhiệm về tai nạn do các “hố tử thần” gây ra. Thế nhưng cho đến nay  người dân vẫn tiếp tục chứng kiến những tai nạn đau lòng, mà gần đây nhất là hàng loạt vụ sụp hố do tái lập "lô cốt" cẩu thả. Nếu đặt câu hỏi trách nhiệm này thuộc về ai , ta sẽ nhận được những trả lời “ rất có trách nhiệm”, cơ quan nào cũng chứng tỏ họ đã hoàn thành phận sự, để cuối cùng ta ngao ngán nhận ra trách nhiệm này không thuộc về ai cả.


Khi xảy ra tai nạn, lập tức  chính quyền sở tại qui trách nhiệm cho sở giao thông, sở giao thông qui trách nhiệm cho Tổng công ty cấp thoát nước, Tổng công ty cấp thoát nước qui trách nhiệm cho cơ quan quản lý gíao thông đô thị, cơ quan quản lý giao thông đô thị qui trách nhiệm cho nhà thầu, nhà thầu thì bảo công trình đã được chính các cơ quan nói trên nghiệm thu công trình và  bảo quản. Cuộc đổ lỗi đèn cù này cho thấy sự vô trách nhiệm của hết thảy, văn hoá mackeno đã tràn ngập khắp nơi.


Trở lại đường Kha Vạn Cân, nơi các “ hố tử thần” liên tiếp gây ra ba bốn tai nạn. Dân đã cảnh báo nhà thầu thi công xong, sau đó lấy tiền rồi rút lui, còn công trình có bảo đảm  an toàn cho người tham gia giao thông hay không thì mặc kệ.  Khi bị truy vấn Chính quyền có biết chuyện này không thì một quan Quận đã nói: “UBND quận đã có văn bản gửi Công ty Thoát nước đô thị nhưng đơn vị này không điều chỉnh”.  Biết là người ta không điều chỉnh nhưng quan Qụân cũng cho qua luôn, thế là gọi trách nhiệm a?


Theo báo Người lao động, một quan quản lý cấp thoát nước Quận nói:  khi tiếp nhận quản lý hố ga trên đường Kha Vạn Cân, trung tâm đã thấy những bất cập trên. Tình trạng hố ga nhô ra khỏi vỉa hè xuất hiện đầy rẫy khắp các con đường của TP, nhất là sau khi cải tạo, chỉnh trang vỉa hè. Biết thì làm sao? Thì im lặng vì cho rằng không phải việc của mình, mặc kệ chúng nó a? Rõ buồn cười.


Hài hước và cay đắng là một quan quản lý ATGT của TP HCM, địa bàn liên tiếp có những tai nạn vì các “hố tử thần”, chỉ trong vòng sáu tháng hơn chục mạng người tử vong, đã hồn nhiên nói ông chưa từng được các đơn vị liên quan cũng như người dân phản ánh về tình trạng các hố ga nằm nhô ra đường gây nguy hiểm cho người đi đường. Còn một quan QLGT đô thị thì ngơ ngác nói ông không nghe nói vế tình trạng này và chưa hình dung ra được mối nguy hiểm của các hố ga(!)


Thế mới biết văn hóa Mackeno ở xứ ta đã nhiễm vào máu quan chức như thế nào, than ôi!


MỘT SỐ HÌNH ẢNH "HỐ TỬ THẦN"





 


 













1



Đây là hố tử thần mới nhất, nó xuất hiện trưa ngày 20/10 trên đường Hai  Bà Trưng TP HCM

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010

Sự tích cao nguyên Lâm Viên và Đak Nông

Chuyện cổ tích tân trang


Thảm họa vỡ hồ bùn đỏ ở nhà máy Ajka Timfoldgvar, HungGari đã lại dấy lên những tiếng nói khẩn thiết của trí thức Việt đề nghị Quốc hội và Chính phủ ngưng ngay dự án Bauxite ở Tây Nguyên. Các trí thức của IDS lại gửi tiếp kiến nghị và kêu gọi mọi người cùng kí tên. Bọ cũng đã kí tên. Nhân sự kiện này, bọ xin đăng lại cái chuyện này,  coi như đây là  tiếng nói của bọ.  



 


          Ngày xửa ngày xưa ở một làng nọ thuộc huyện Nông Cống- Thanh Hoá bây giờ có một cô gái tên là Triệu Ẩu cao lớn lạ thường, vô cùng xinh đẹp. Cha mẹ mất sớm, Ẩu ở cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt.


 Mới 13 tuổi vú Ẩu đã dài đến rốn. Ẩu sợ, không biết vì sao vú mình lại thế, ngồi ôm vú khóc. 18 tuổi vú Ẩu dài đến đầu gối lại càng sợ hãi khôn xiết. Quốc Đạt nói vú to là phúc lớn của đàn bà sao lại khóc?  Ẩu nói em sợ chị dâu không có vú lại ghen với em.


 Vợ Quốc Đạt, tên gì không biết, người khô quắt, trên dưới phẳng lì, tính tính nhỏ nhen, thường hành Ẩu đủ việc trên đời.  Ẩu tức lắm nhưng không làm gì được. Một hôm Ẩu cùng vợ Quốc Đạt đi tắm sông, Vợ Quốc Đạt nói mày vú to hơn tao nhưng tao lông dài hơn mày, huề, ke ke ke.


  Ẩu nói vú to để chồng bóp sướng, sữa nhiều cho con bú no, chứ lông  nhiều thì để làm gì. Vợ Quốc Đạt tức, nói để cột cổ ba họ nhà mày. Ẩu tức, cầm  vú quất một phát vào mặt vợ Quốc Đạt, chẳng ngờ vợ Quốc Đạt hốc máu mồm, chết tốt.


  Ẩu sợ quá trốn biệt vào rừng, chiêu mộ hơn nghìn tráng sĩ làm thủ hạ, lấy tên là Nhuỵ Kiều tướng quân.


Quốc Đạt lo lắng, chạy vào  rừng gặp em gái nói về lấy chồng đi em, chớ có làm loạn. Ẩu nói không, Quốc Đạt nói thôi về đi em, vú mày to, đàn ông ai không mê?.


 Ẩu nói tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, lấy vú mình đập nát mặt giặc nhà Ngô, chứ không muốn đem vú mình cho lũ ô trọc làm trò khả ố.


Năm Mậu Thìn ( 248 ) vì quan lại nhà Ngô tàn ác, đày ải dân mình  vô cùng khổ sở, Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánh, bị vây khốn ở quận Cửu Chân. Bà Triệu Ẩu đem quân ra giúp anh. Bà vắt vú lên vai, cưỡi voi, mặc áo giáp vàng tả xung hữu đột, quân Ngô thua chạy tan tác.


Thứ sử Lục Dận hớt hãi chạy về dập đầu trước vua Ngô, kêu to  khởi tấu khởi tấu bọn Triệu Ẩu làm loạn ở quận Cửu Chân. Vua Ngô là Ngô Vĩnh An đang xem bọn cung nữ làm trò thoát y vũ, ngoảnh mặt nói Triệu Ẩu là thằng mô gan to rứa hè.


 Lục Dận nói muôn tâu đấy là một con đàn bà. Vua Ngô nói è he, mấy con đó tụi bay không trị được, răng kêu tao? Lục Dận nói muôn tâu con này vú dài ba thước, không lấy chồng, vắt vú lên vai cưỡi voi xông trận, kinh lắm kinh lắm.


Vua Ngô nghe nói vú dài ba thước thì há mồm trợn mắt nói ua chầu chầu hay hè hay hè, rồi lập tức xua quân sang biên giới.


 Vua Ngô nói bớ ba quân, Triêụ Ẩu  vú dài ba thước rất ghê tởm, đã thế còn dám làm loạn, quân sĩ dốc lòng quyết đánh, đứa mô can trường trẫm cho bóp vú nó. Quân sĩ sung sướng reo hò như sấm hoàng thượng vạn tuế vạn vạn tuế!


Giặc Ngô bao vây bốn phương tám hướng, Triệu Ẩu vẫn không hề nao núng, chống trả kiên cường. Vua Ngô nói bớ Triệu Ẩu vú mi mô, chìa ra cho tao coi, tao tha!


Triệu Ẩu lôi hai vú ra, nói bớ giặc già Ngô Vĩnh An, vú ta đây! Rồi bà bóp vú, sữa bắn ra như thác, dòng sữa trắng thơm khi bắn vào lũ giặc bỗng biến thành bùn đỏ như máu trùm lên cả vạn quân Ngô.


Quân Ngô bị bùn đỏ bắn cho tung tóe, kẻ mù mắt đứa hộc máu mồm mà chết. Vua Ngô há mồm trợn mắt, nói chi rứa bay chi rứa bay. Quan quân hét Bô xít Bô xít muôn tâu muôn tâu.


Vua Ngô nói rứa a rứa a, sợ hãi vung gươm hét lớn bớ ba quân không được lui, tụi bay lùi tụi nó được lướt đòi chủ quyền chủ queo, tau lấy ai mà cai trị. Nói rồi xua quân tiến lên.


  Quân Ngô ba bề bốn bên bao vây Bà Triệu. Bà cầm hai vú quất lia lịa, đứa dập mũi, đứa gãy răng, ôm đầu máu bỏ chạy, than khóc như ri.


Về sau sữa hết vú xẹp, quân ít thế cô, bà Triệu tính kế lui  binh cố thủ. Đại tướng Văn Công Hùng nói chúa công chúa công, về ngay Tây Nguyên, Tây Nguyên còn thì Đại Việt ta còn. Bà thấy Tây Nguyên xa xôi, núi non hiểm trở hơi chần chừ. Đại tướng Lê Vĩnh Tài rập đầu dưới chân voi, nói chúa công chúa công lúc này nguy cấp, chúa công còn bỏ tây Nguyên là chúa công mê lầm.


Bà Triệu nói các người là đại tướng Đại Việt, ta không nghe các người thì nghe ai. Không lẽ nghe quan quân nhà Ngô dụ dỗ, bỏ Tây Nguyển về với chúng nó. Dứt lời bà thúc voi kéo đại quân tiến về Tây Nguyên.


Vua Ngô thấy đại quân Bà Triệu rút về Tây Nguyên, tức hộc máu mồm, nói cha tổ cha tổ con đàn bà rứa mà khôn hè, thôi ẻ vô không đánh nữa, bèn xua quân về nước.


Từ đó xã tắc yên ninh, bà Triệu sống với Tây Nguyên cả trăm năm thì mất. Trước khi mất bà ôm chân voi mà khóc, nói ta chết Đại Việt có còn không, nói xong thì tắt thở. Con voi rống lên ba tiếng rồi cũng chết theo, biến thành núi Ngok Linh cao ngất.


Nước mắt bà chảy ra như thác, biến thành hai thác Ialy và Đray Sap. Mái tóc dài của bà chia thành hai ngã, biến thành hai dòng sông Pa và Đak Bla. Thân thể bà biến thành núi Langbian hùng vĩ. Hai bầu ngực của bà biến thành cao nguyên Lâm Viên và Đak Nông màu mỡ và trù phú, có rất nhiều Bô xít.


 


Sử thần Dương Trung Quốc nói: Lâm Viên và Đak Nông là hai bầu sữa mẹ, hãy để dành cho con cháu, quyết không để cho thiên hạ sờ mó.


Văn nô Nguyễn Quang Lập nói: Phải phải! Bầu sữa mẹ ta lại để cho thiên hạ sờ mó bú mớm là cớ làm sao.