Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2009

Nhớ Nguyễn Minh Châu

minhchau[2] Mình quen anh Châu ( Nguyễn Minh Châu) đã lâu lắm rồi, hình như từ thủa mới ti toe viết văn đã biết anh. Nói thật đọc văn  anh cứ hình dung anh hoành tráng lắm, nếu không oách thì cũng linh lợi hoạt bát, sắc sảo có thừa, té ra không.


Khoảng năm 1980 gì đó mình đến Hội nhà văn chơi với mấy ông nhà văn quen. Hồi này Hội  nhà văn còn ở 65 Nguyễn Du. Mình ra nhà tiểu đúng lúc mọi người tan họp, chen nhau đi vào. Mình thấy một ông nhà văn đội mũ bê rê đen, mặc áo đại cán màu cháo lòng, dáng lọ mọ khóm róm, biết ngay là ông nhà văn xứ Nghệ, đoán mãi không ra nhà văn nào.


 Anh đứng thập thò ở cửa nhà vệ sinh, rụt rè như đứng trước cửa quan, có người vừa ra, anh định vào, người khác nhanh chân hơn tót vào, anh lại đứng vậy, cái mặt vừa lo sắp vãi ra quần vừa ngượng khi tính phải chen ngang người khác. Có người tre trẻ nhác thấy anh, nói Châu vào đi, gớm, đi đái mà cũng rụt rè. Anh nhoẻn miệng cười, cái mặt đỏ kè xấu hổ, y chang ông con rể chuẩn bị ôm vợ bỗng gặp ông bố vợ.


Phải nói mình quá ngạc nhiên, không ngờ người viết Dấu chân người lính, Cửa sông, Miền cháy lại là anh. Mình chào, bắt tay anh, anh nhìn mình  cái nhìn dè chừng, nói xin lỗi ông viết gì nhỉ. Nói xong anh cười ngượng ngập như nói năng thất thố với cấp trên. Khi đó mình chỉ là thằng con nít, dăm ba bài thơ làm vốn, có gì mà anh làm như mình nhà văn lớn, gọi mình bằng ông bằng vai phải lứa, lại ngượng ngập khi chưa đọc cái gì của mình.


Mình nghĩ anh diễn vai khiêm tốn vậy thôi, người viết văn cao sâu đâu phải tay vừa, trong làng văn ai ai cũng kiềng nể, nếu chọn 5 nhà văn viết truyện ngắn hay nhất chắc chắn có tên anh, riêng mình thì mình xếp anh số 2 sau Nam Cao, sau mới biết tính anh vậy, ngồi đâu cũng rụt rè cả thẹn như gái mới về nhà chồng.


Ngồi đâu anh cũng chỉ lắng nghe, ít khi tranh luận đôi co, có ai nói gì  thì mắt trố miệng há, nói a thế a, rồi gật gù, rồi im lặng lắng nghe bất luận người ta nói hay dở thế nào. Có người nói gì đó hay, hơi độc chiêu một chút,  kìm không nổi anh cười phá lên rồi ngay lập tức ngậm ngay tiếng cười. Thật tinh ý mới thấy thái độ của anh qua ánh mắt khi vụt sáng khi tối sầm khi lờ đờ như kẻ mất ngủ, nếu thoáng qua dễ thấy anh nhạt, khó chơi nữa.


Xưa mình ở quê, lâu lâu ra Hà Nội, gặp anh lần nào cũng vậy, cái bắt tay nhẹ không, nói ông mới ra à, rồi im, tuồng như anh chẳng có gì mà nói nữa. Mình có mời anh vô quán thì anh vô, anh chẳng bao giờ mời. Quen tính anh rồi, mình nói anh hay nhỉ, khi nào cũng sợ mình nói chẳng ai nghe, mình có mời vào quán cũng chẳng ai vào. Anh cười khì khì, nói cáí tính mình nó khỉ  thế, sợ từ con giun con dế sợ đi, đã thế lại còn đi viết văn, bố khỉ.


Mấy anh văn trẻ đi cơ sở nói chuyện văn thơ rất thích kéo Nguyễn Minh Châu đi, có tên anh trong đoàn mới oách. Chèo kéo năm lần bảy lượt anh mới đi cho một lần. Trước khi đi bao giờ cũng ra giá trước, nói các ông nói nhé, tôi không nói đâu nhé. Xe dừng, mọi người chạy ra đón, mặt mày nhớn nhác nhìn quanh, nói Nguyễn Minh Châu đâu Nguyên Minh Châu đâu , mắt cứ tìm kiếm nơi mấy ông hoành tráng, có khi đứng trước mặt anh rồi vẫn cứ nhớn nhác nói Nguyễn Minh Châu đâu Nguyễn Minh Châu đâu.


Vào cuộc người ta nói đông nói tây, anh cứ ngồi khóm róm, nơm nớp  sợ người ta gọi đến tên mình, y chang cậu học trò không thuộc bài.


Anh nói ông ạ, trên đời này tôi hãi nhất là người ta bắt tôi đi nói chuyện. Có lần tôi về Nghệ An, người ta nói mãi mình cứ chối thì người ta cho mình kiêu, nhận lời rồi thì lo mất ăn mất ngủ, không biết nói cái gì, cái đầu khi đó như cục vôi sống, không nghĩ ra được cái gì, khỉ thế.


 Nghe nói Nguyễn Minh Châu nói chuyện người ta kéo đến đông lắm, mình hãi quá, nhìn đâu cũng thấy mắt là mắt, giống như người ta sắp ăn thịt mình, hãi chết. Mình nói năng ngậm rờ, người ta chán, nói chuyện riêng ồn ào như vỡ chợ. Mình ngồi nhăn răng cười. Mấy ông tổ chức lo hoảng, sợ mình buồn, buồn cái gì, người ta không nghe mình là phúc chứ buồn cái gì. Anh cười khì khì, nói bố khỉ.


Mình kể cho anh nghe có ông ở Đà Nẵng đóng vai Nguyễn Minh Châu đi nói chuyện nhiều nơi, bất kì tác phẩm nào của Nguyễn Minh Châu ông này đều thuộc nằm lòng, ông nói rất hay, ra giá với nơi nói chuyện cũng rất tài, mỗi lần nói chuyện chí ít  một tạ gạo dăm bảy cân đường. Nói chuyện cả năm trời người ta mới phát hiện ra Nguyễn Minh Châu giả. Anh Châu cười khì khì, xuýt xoa nói chà chà, cái thằng tài, mình không bằng cái móng tay của nó.


Thành ra khi anh viết bài Ai điếu, đọc sướng rêm, gặp anh mình ôm chầm lấy liển, nói trời ơi không ngờ Nguyễn Minh Châu nói năng dũng mãnh thế này. Anh mặt mày nghiêm trọng, kéo mình vào một góc, nói trong kia có ai nói gì mình không. Mình nói không ai làm gì anh đâu, thời buổi đổi mới rồi anh ơi.


 Anh cười, thở hắt ra, nói không viết thì không nhịn được, mà viết rồi lại cảm thấy mình có lỗi, dù sao mình ăn nằm với người ta quá nửa đời.  Hiếm nhà văn nào đựơc như anh, phẩm tiết trước sau như một nhưng cái lòng thương người thương chế độ thật mênh mông.


Xưa nay ai anh cũng thương, kể cả những người ghét anh, chỉ chực anh hở ra câu gì là nhảy lên cục lên ban tâu liền, anh cũng  chả thù hằn, ghét bỏ gì. Tính anh vốn cả nể, sợ mất lòng. Con kiến cắn anh cũng chỉ phủi đi chứ không giết, nghĩ mà thương.


Nguyễn Minh Châu nhút nhát nhưng nghịch ngầm, năm 1984 anh vào Huế, một hôm gặp mình anh nói tôi vừa phát hiện ra quán cháo gân bò hay lắm. Mình nói ngon hả anh, anh cườì khì khì, nói không ngon lắm nhưng mà hay.


Mình đi theo anh, chị bán cháo gánh béo trắng mượt mà, ngực lớn trắng hồng phồng căng, quần lụa mỏng đứt một đường thẳng khít đũng quần. Chị làm như không hay biết gì, cứ múc múc chan chan, khi cúi xuống khi ngước lên, ngực rất vừa tầm mắt người ngồi ăn, cặp đùì khi khép lại khi xoè ra, đường chỉ đứt đũng quần nứt ra một đường trắng bóng. Anh ghé tai mình cười khì khì, nói hay không hay không, tụi mình viết văn đéo câu khách giỏi bằng bà này.


Đến khi anh đi xa rồi, mỗi lần nhớ anh, không nhớ gì chỉ nhớ mỗi chuyện ấy. Anh ra đi năm 1989, đúng năm đất nước đổi mới thế giới đổi thay, suốt đời viết văn khóm róm chỉ mong có một ngày nhìn thấy cái sướng nó méo hay tròn, đúng lúc sướng rồi thì anh lại ra đi, nghĩ mà ứa nước mắt.


Cứ tưởng anh sống như thế thì bạn bè anh, những người sống cùng anh dọc cả đời lính lẫn đời văn nghe anh mất thì đau lòng lắm, hoá ra cũng có kẻ không như thế. Buổi tối anh ra đi ti vi đang phát phim Đơn giản tôi là Maria, phim này một thời hút hồn cả nước, đám nhà văn cũng bị hút hồn theo.


Anh Đỉnh ( Trung Trung Đỉnh) nghe tin anh mất chạy ào xuống báo, nói anh Châu mất rồi. Không một cái đầu nào ngẩng lên. Anh Đỉnh tưởng người ta không nghe, lại nói anh Châu mất rồi. Vẫn không ai ngẩng đầu lên, phim đang đến đoạn hay. Anh Đỉnh nói to hơn, gay gắt hơn, nói ơ kìa anh Châu mất rồi mọi người không nghe à. Có người nhăn mặt cáu kỉnh, nói biết rồi, và lại dán mắt vào ti vi.


Bài đọc thêm


HÃY ĐỌC AI ĐIẾU CHO MỘT GIAI ĐOẠN VĂN NGHỆ MINH HOẠ


Nguyễn Minh Châu


Là một người sáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thói quen vừa viết vừa tự quan sát, nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy hào sảng có lúc lại đầy đắn đo hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấy định mệnh.


Chao ôi, để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nó vui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có đôi khi buồn đến thối ruột! Thú thật chừng ba bốn năm trở lại đây tôi cứ nổi lên nhũng cơn ngán giấy bút, hay so sánh mình với những anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trời đất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận và luật lệ văn học, họ thật sướng, viết ra trang giấy mà trong bụng chẳng bao giờ có điều gì phải sợ sệt, lo lắng, như một người bao giờ cũng sống đĩnh đạc, cứ thẳng đường chính rộng lớn mà đi; còn mình thì y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu giấu cái gì quốc cấm trong cạp quần hay dưới áo. Nghĩ mà buồn quá, nghề giấy bút nó chẳng nuôi gì được mình mà chỉ thấy nó hành mình.


Có lúc - nói ra thật lẩm cẩm - tôi lại hay đem so sánh mình với các nhà văn của những đất nước hàng trăm năm bình ổn, các nhân vật của họ phải chịu đựng nỗi đau khổ dằn vặt thật là sang trọng, chứ đâu như cái đám nhân vật của mình, không những cái đau khổ, hoạn nạn mà cả cái vui, cái hạnh phúc của họ nó cũng nhem nhuốc, nhớn nhác, tội nghiệp quá! Hỡi ôi, bao giờ nhân vật của mình mới được sang trọng, để cho mình cũng sang trọng lây!


Có lúc tôi lại đem công việc của chúng ta so sánh với công việc của các nhà tiền chiến cầm bút trước cách mạng, gọi là các nhà văn hiện thực phê phán. Ví dụ như ông Nam Cao chẳng hạn. Có lần ông ấy la lối, hô hoán ầm lên rằng thiên hạ bít hết lối của ngòi bút ông ấy. Viết cây chuối hay con chó hoặc kẻ say rượu đều phạm húy, đều có người đe đánh, đe đốt nhà. Bị o ép đến vậy tưởng không viết được gì, thế mà cuối cùng, cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu, vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người đời thực đến thế. Chí Phèo thực đến thế. Thật là vừa được viết vừa được nói. Chứ như đám chúng tôi, từ nhà văn trẻ đến lớp nhà văn già được chăm sóc chăn dắt kỹ lưỡng quá đi mất. Sao lại như vậy nhỉ, sau bốn chục năm nhìn trở lại những nhà văn tiêu biểu của nền văn học phần đông nếu không phải là tất cả, đều có tì vết trong lịch sử đời cầm bút? Rồi thì từ đấy bắt buộc sinh ra một cái thói quen không biết bắt đầu từ lúc nào mà tôi nghĩ nó rất thảm đối với tư cách của một người nghệ sĩ, hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó. Có vẻ tuồng như mỗi nhà văn mỗi khi ngồi trước trang giấy là cùng một lúc phải cầm hai cây bút: một cây bút để viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây bút khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc. Mà cái ngòi bút thứ hai này – buồn thay – các nhà văn cầm lâu ngày để tự bảo vệ mình cho nên cũng lắm kinh nghiệm, mà cũng tài hoa lắm!


Quả thật tôi không có tài rào đón, che chắn nhưng cầm bút viết văn đến một lúc ngồi nghĩ lại cũng tự nhiên sinh ra giận mình đến phát chán mình, chán cả cho đồng nghiệp, bè bạn. Điều đáng buồn nhất là những người phải xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tác giả nhiều nhất là những nhà văn có tâm huyết, có tài, muốn văn học phải có cái gì của văn học, chứ không muốn văn học chỉ là một sự minh họa. Trong khi đó những cây bút minh họa, những tác phẩm minh họa hoặc ca ngợi một chiều thì lại thoải mái, người viết cầm bút thoải mái mà chẳng có gì phải luồn lách, phải đắp đậy, rào đón, chỉ phải cái nó công thức và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy nó giả, mỗi ngày người đọc càng thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều một sự giả dối không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời thực bên ngoài.


Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó là cái mới, là hoàn cảnh "lột xác"). Từ đấy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp vừa thấp. Lần lượt bắt đầu là các nhà văn tiền chiến rồi hết lớp người cầm bút này đến lớp người cầm bút khác, với một khả năng thích nghi hết sức ghê gớm, các nhà văn đã thích nghi với văn học minh họa như thích nghi với cách sống gian khổ, thiếu thốn trong chiến tranh. Những nhà văn tuy đều cảm thấy thiếu thốn và bức bối nhưng lại tự dụ dỗ mình và khuyên nhủ lẫn nhau tự bạt chiều cao cho thấp đi khỏi chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng, để đi lại được thoải mái trong cái hành lang kia.


Tuy vậy, cứ mỗi lần hết chiến tranh chuyển sang hòa bình hoặc cứ lâu lâu sau một số năm, đường hướng minh họa và tình hình mất dân chủ trong văn nghệ lại làm dấy lên những vụ này vụ khác. Những người "lính gác" lại có dịp "khép lại" và không rời mắt khỏi từng người, đặc biệt là những người có tài hay có tật và không ngừng thuyết phục với tất cả cũng như với từng người rằng cái hành lang kia là tất cả thế giới của văn nghệ cách mạng. Không khí để thở, bầu trời để ngắm, đất dưới chân để đi lại chỉ có thế và đấy là tất cả thế giới minh họa, ở trong đó nhà văn tha hồ vùng vẫy, sáng tạo và phát huy tài năng. Trong nghệ thuật hội họa châu Âu chẳng đã từng để lại những tác phẩm danh họa về lịch sử tôn giáo và đời các thánh, thực sự những tác phẩm hội họa cổ điển sẽ sống đời đời ấy là những tác phẩm minh họa. Tôi nghĩ rằng đường lối chính sách của Đảng, kể cả những cái sáng suốt đúng đắn cũng như cái sai lầm đang được điều chỉnh trong từng thời kỳ bao giờ cũng có thể soi rọi, giúp nhà văn nhìn thấy những vấn đề thực tế rất sâu xa của đất nước, gợi ý cho nhà văn những suy nghĩ, chiêm nghiệm quý báu. Nhà văn như một người trinh sát cuộc đời, vậy thì việc tìm hiểu sự hình thành những đường lối chính sách chính là sự tìm hiểu việc đời từ trong quá trình.


Ý nghĩa tác dụng của đường lối, chính sách đối với văn nghệ là như vậy. Tôi nghĩ rằng khi nhà nghệ sĩ đứng trước một sự vật, nảy ra ý tưởng minh họa khi tìm thấy ở nó tràn ngập cảm xúc về cái chân lý và cái đẹp.


Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng, – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn. Như một người đánh mất phần hồn chỉ còn phần xác, hoặc chỉ còn cái phần hồn do nhà nước bao cấp. Chúng ta không thiếu những nhà văn có lòng và có thực tài nhưng cũng không vì thế hàng chục năm qua có khi họ phải ôm hai thứ đó trong người như hai thứ tội nợ, vì thế mà đâm ra sợ chính mình. Sau một vài lần viết ra bị vấp váp, bị thổi còi, bị phê phán trên báo, được tập thể góp ý xây dựng, nhà văn ngồi một mình giữa vắng vẻ ngâm nga: "Chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa", nhưng làm sao mà chừa được. Con người nghệ sĩ là thế đấy, dù cho rằng anh ta hèn đớn vẫn không chừa được thói quen khao khát sáng tạo, lời nói thật và chút lòng với đời. Nó như một thứ bản chất thiên phú, hay một thứ bản chất giời đày?


Rồi vẫn được viết, vẫn cầm bút, vừa muốn phô diễn tư tưởng, chõ miệng ra giữa hai hàng chữ để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm thấy trong đời sống nhưng lại muốn giấu đi, gói nó trong bao lần lá, rào nó sau bao tầng chữ. Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn. Vì thế mà từ xưa tới nay có bao nhiêu nhà văn nhà thơ đã đi ở ẩn ngay trong tác phẩm? Chúng ta vắng thiếu những cây thông đứng sừng sững. Có một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: "Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!", nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng. Có người cầm bút đến lúc sắp bước sang thế giới bên kia vẫn chưa dám thốt lên một lời nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi ký thực, vì sợ để liên lụy đến đời con cái. Có người lại biến cái sợ cái hèn thành một thứ vật trang sức và thách thức, vật biểu hiện của sức sống dai dẳng. Giữa chồng sách trước mặt tôi lúc này là hai tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của nhà thơ Xuân Diệu. Một nhà thơ lớn như Xuân Diệu làm một công việc rất công phu là bình giá và giải thích những giá trị văn học cổ điển của nước nhà, mà sao Xuân Diệu phải rào đón, dựng lên bao nhiêu là lớp phên giậu để tự che chắn? Sao mà khổ vậy? Rồi thì dù không muốn tôi cũng phải nói rằng sự độc đoán và chế áp của lãnh đạo văn nghệ trong nhiều năm qua đã khiến cho những nghệ sĩ chân chính luôn luôn gắn bó với cách mạng, với Đảng, suốt đời cảm thấy phạm tội.


Cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống mồ!


Con đường của một cây bút trẻ hăm hở phấn đấu hết mình để trở thành nhà văn cũng là con đường phải giết đi cái phần nhà văn trong con người mình, con đường tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực trong ngòi bút!


Chúng ta phải nhìn lại kỹ càng cái hành trình văn học đã đi qua bằng con mắt thông minh, không phiến diện và thực sự cầu thị, để một mặt không phủ định tất cả, một mặt khác, với một tinh thần tự phê phán thấy cho được rằng: có thể đôi khi với động cơ tốt chúng ta đã trói buộc lẫn nhau trong một thời gian hơi quá dài của mấy lớp người cầm bút, trong khi lại đòi hỏi phải có những tác phẩm lớn. Thật là mâu thuẫn. Chả khác nào trói lại rồi bảo đố mày bay lên!


Muốn có tác phẩm lớn, nhưng liệu chúng ta có chấp nhận nổi những tính cách ngòi bút của một nghệ sĩ với tầm tư tưởng lớn mà tôi nghĩ bao giờ nó cũng quá chói sáng, với những điều nói thật không phải bao giờ cũng dễ nghe, thậm chí có thể làm đảo lộn mọi quan niệm với những nỗi dằn vặt, băn khoăn lớn chung quanh cái bề mặt nhãn tiền và tận chín tầng đất sâu của cuộc sống con người trên dải đất này.


Và tác phẩm lớn là gì?


40 triệu dân của đất nước Tây Ban Nha được nhân loại biết đến và kính trọng bằng một lão gàn vĩ đại vì mang trên mình tất cả tính ảo tưởng muôn đời của toàn thể nhân loại.


Và gần một tỷ người của đất nước Trung Hoa được nhân loại thấu hiểu sâu sắc bằng một anh chàng nông dân A.Q.


Cả Don Quichotte lẫn A.Q chẳng hề làm xấu Tây Ban Nha lẫn Trung Quốc, mà làm đẹp cho cả hai đất nước này.


Tài năng, nhất là những thiên tài bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến, nhưng cũng như một Nguyễn Du, họ đến cũng trong khắc khoải nhân sinh, chỉ có điều đau đớn hơn mọi chúng ta, và cũng trong lầm lũi cát bụi cuộc đời thường. Nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tỵ với họ, đừng làm họ sống dở chết dở mà vẫn phải nở nụ cười, đừng làm cho họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta.


Công việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ của Hội Nhà văn hôm nay không phải là chuẩn bị cái lò ấp hàng trăm hàng ngàn quả trứng gà trứng vịt, mà là chuẩn bị cho những tư cách nghệ sĩ và tài năng lớn ra đời.


Nói thế có bốc đồng chăng, cao vọng quá chăng? Nhưng chúng ta phải đốt lên ngọn lửa cao vọng! Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới. Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ? Chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có chung một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam? Để rồi quay trở về, con hát mẹ khen hay? Và đàn con cứ mãi mãi suốt đời tự hào được người mẹ ở trong nhà khen ngợi!?


Tôi nghĩ rằng trước hay sau, ai cũng trở thành bảo thủ, lạc hậu, cũ kỹ cả. Bảo thủ về già là một quy luật. Trong khoa học, đến một bộ óc mới mẻ như Einstein về già còn bảo thủ cơ mà! Cái mới nào mà chả cũ đi, – trên dòng thác biến đổi qua thời gian? Cái chính là chúng ta biết cười xòa chợt nhận ra mình đã sai lầm, đã bảo thủ. Chúng ta sẽ trở nên sáng suốt hơn sau cái tiếng cười ấy. Bởi vì sau đó chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ giơ tay ngăn cản cái mới, cái tiến bộ, mà sẽ xuất hiện một quyết tâm làm mới lại mình với thái độ chân thành, xởi lởi, cởi mở, để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học và văn nghệ mới.


Vừa qua chúng ta có in lại tuyển tập của các nhà văn đàn anh. Giở những bản tổng kết những đời văn như còn đẫm mồ hôi ấy, điều khôn ngoan cuối cùng rút ra là không chừa một ai, tất cả chúng ta phải biết lễ phép trước quy luật đào thải. Những cái gì đích thực văn chương thì nó còn, không tái bản, không tuyển tập, báo chí không đề cao lên nó cũng còn. Nó còn như đất cát, cây cỏ, như ca dao, tục ngữ, như cuộc sống bình dị và bền vững luôn luôn còn đó. Còn những gì phe phẩy, ưỡn ẹo hoặc cứ nhảy cẫng lên thì ngược lại, nó mất, cát sỏi lại trở về cát sỏi. Tôi đọc những tuyển tập thấy rất tiếc cho những tài năng. Giá mấy chục năm qua văn nghệ không chủ yếu lấy minh họa làm đường hướng, đừng có cái hành lang hẹp và thấp ấy, cả cái bầu không khí nghi ngờ lơ lửng trên đầu các văn nghệ sĩ, mà chủ trương khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri của các nhà văn, không nửa tin nửa nghi ngờ và đề phòng, để cho văn nghệ một khoảng đất rộng rãi hơn nữa thì các nhà văn và những nghệ sĩ sáng tạo đến nay đã đầu bạc phơ, kẻ còn người mất, họ còn để lại cho chúng ta nhiều hơn thế này. Và không khéo những cái gì và những người mà lâu nay chúng ta kêu ca, lên án hoặc cố tình quên đi lại là những cái, những người còn lại, còn để lại.


Sự còn lại mất đi của số phận những tác phẩm văn học cũng như những đời văn trong độ lùi thời gian bao giờ cũng ngầm chứa đựng một sự lựa chọn đầy huyền diệu và công bằng.


Hình như nhân dân, cái nhân dân Việt Nam đầy trầm tĩnh và kỳ tài mà hình ảnh đã được nghệ thuật điêu khắc từ hàng trăm năm nay chạm khắc lên khối gỗ thành bức tượng ngàn mắt ngàn tay, đến hôm nay vẫn không ngừng sáng suốt lựa chọn giúp cho chúng ta những cái gì đích thực của nghệ thuật, giữa những đồ giả, để bỏ vào cái gia tài văn hóa của đất nước để lại từ Đinh, Lê, Lý, Trần. Và cũng nhân dân, cái nhân dân Việt Nam dũng cảm sau mỗi lần đánh giặc xong lại lặng lẽ và lầm lụi làm ăn đang giơ bàn tay chai sạn vẫy chúng ta lại, kể cho chúng ta nghe về cái nhất thời ở trong cái muôn đời, cái độc ác nằm giữa cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhẩy cẫng lên lấc láo giữa cái dung dị, thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ.


Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987)

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

QnA: Big Group in a Big, Dark Room

Laaaate Wednesday night, Strobist reader Vicki Madden asked, via Twitter:

"Need advice on big job on Friday -- large group in high school gym?"
__________

First of all, not even 48 hours before a "big job" is not the best time to be asking for vague advice. And using @Strobist on Twitter probably is not the best venue. (Try the Strobist Flickr group for that kind of urgent stuff.)

But the question happens to set up a good exercise in pre-thinking your lighting for a scary environment -- not to mention getting into the psychology of doing a large group shot. So even though it is short notice, what the hey.

(Also, my "On Assignment" previously slated for today had to be pushed back. Which always makes a reader lighting question way more appealing to me.)

So, Vicki, hit the jump for a detailed walk-thru on how to approach your shoot, with a minimum of gear.
__________


First Things First

The minimum lighting setup I would use for this would be three bare speedlights and stands. So I sent Vicki a direct message via Twitter yesterday morning to make sure she could scrounge at least that -- and that there was a full walk-thru was coming on Strobist at 12:00am eastern time.

Here are my assumptions:

One, that she can get ahold of three off-camera sync-able speedlights. Two, that the gym is scary dark, just to make things interesting. Three, that she can scrounge one helper onsite for some help pre-setting the light. And four, let's assume 60 people in the group.


The Gym is Big and The Gym is Dark

And that's the good news.

No, seriously, that is good news. Because with a big group, you're gonna need some distance to light them evenly. And you want dark, too. If this were being done outdoors in the full sun, you'd have no hope of competing with that light level with a few speedlights at any distance. (As in, beyond six feet or so.)

So the dark is working for you, too.

More good news from the gym: Built-in elevation for both you and your lights. Call ahead to make sure the bleachers will be set up for the group shot -- on both sides. Don't leave it to chance, and don't ask meekly, either. (Asking meekly is tantamount to leaving it to chance.)

Call up and say something to the effect of, "Hi, this is Vicki Madden. I am going to be doing the group shot of (whatever) in the gym on Friday, and I need to make sure that both sets of bleachers will be extended at least an hour before the shoot, so we can set up the lighting. Thanks very much."

Call the office, and sound like you make this call every day. The person who answers the phone will not be the person who takes care of the bleachers. But your urgency and authority will be conveyed in their message to the person who will get your bleachers opened up.

And still, arrive a little more than an hour before, and expect to find the bleachers closed. Just expect it and it will not be a stressor when it happens. Track down the gym guy and explain that these are supposed to be open within a few minutes, just to make sure he is on track for your setup time.


Setting Up

You'll be shooting from halfway up one of the sets of bleachers. (The home set, if an emblem is coming into play on the floor.) You'll be halfway up to get some elevation, and to leave some space above your vantage point for your key light.

So, imagine your group in front of you. Place your helper at dead center of what will be the middle of, say, three rows of people fairly tightly packed on the gym floor. Estimate your group and figure out the lens you'll need now, from your shooting position.


Place Your Key

Let's say for the sake of argument, that you are going to key light from over your left shoulder. Set your flash well above you (maybe at the top row if in a high school) in the bleachers. Actually, use the foot rest for the people that would be sitting in the top row. Close the light stand, slide it down in there and open it up, wedged in the foot area. Nice and sturdy.

Set your speedlight on 1/2 power, and zoom it to a telephoto setting -- say, 85mm or 105mm. (The 200mm setting on an SB-900, if you are so blessed, might be a bit tight.) Aim it a few feet over the head of the helper in the dead center of your future group. You are doing this not because of poor aim, you are doing it to evenly feather the light left to right, front to back.

Set your camera to a relatively high shutter speed, say at 1/125th or 1/250th. I am assuming you have crappy weird gym light and that we are doing this all with flash. Let the gym go dark or darkish on the ambient.

You should get about f/2.8 or f/4 on your center group guy. If you cannot get that, raise your ISO to 800 if your camera makes really good files at that ISO. Otherwise, go to full power on your speedlight. (The former is preferable, as it buys you a faster recycle time so you can get more frames shot before wearing out the group's attention span.)

If you have enough light coming from your speedlight, go to f/5.6 and buy yourself some depth of field. Don't believe your speedlight is capable of that? You might be surprised.

Obviously, if you are using monoblocs in this setting, you'll have power and aperture to burn.

Test your key light for a good exposure on your group area in three different places: Dead center, back row furthest away from the key, and front row closest to the key. Since your flash is on a tele setting, you have real control over your beam of light. By firing it over the front row's heads and a little towards the right side of the back row, there will be an angle that give you nice, even exposures all over your group area.

This is called feathering the light, and it is a good way to light large areas evenly. This is because the near areas fall at the edge of the light's beam. So they receive less light, which compensates for the fact that they are closer. Plus, it will light the gym floor around your subjects, feathering it darker as it gets closer to camera the camera position.

Congratulations, your key light is now set.


Place your Separation light

Now, we are going to the bleachers on the other side, caddy corner, up top. We are going to repeat the exact process to create a light that will separate everyone from the dark background, and light up the gym floor in areas missed by the key light.

(Note: Your remotes will have to be able to reach across a gym. If not, you'll need to slave your lights to each other. This should be very easy and effective, as they are essentially pointed right at each other.)

Aim this light over the heads just like the key, and test your exposures while you are at the light. Use that tele zoom setting and there will be an angle that places the entire group at roughly the same exposure. You might want to gobo the front of that light to where it can see your whole group, but not your camera. This will kill any flare from that light coming into your lens.


Now, the Fill

So, that was easy. Now you have hard crosslight evenly lighting your large group. But there are gonna be wicked shadows because we are not taking the mystery vapor ambient into account. We'll fix that with on-axis flash.

This light, like both of your others, is gonna be bare. Why? Because unless you have a 15-foot parabolic reflector, you are not going to do anything with a light softener at this distance other than rob yourself of light intensity. So we are going for hard, efficient and crisp. Those hard shadows created by the key and separation light will be just fine if we can keep them from falling too far.

So get in your eventual shooting position, center bleachers and half-way up. We will place your helper guy in the center again, and dial in your fill light so his shadows look good -- probably about 1.5 stops down or so. No need to get technical -- just do it until he looks good.

You will need to adjust your flash beam to match your lens, so you will get full coverage on your group. Also, feather this light up a little bit, to make for an even fill exposure front-to-back. Makes sense now, huh?

You are closer than the key at your shooting position, so I would expect that 1/8 or 1/4 power might do the trick. Start there and adjust your power level by eye until it looks right. The shadows should look like natural, legible shadows instead of black holes. It's like cooking -- add salt to taste.

Place your fill light on the opposite side of your lens axis as is your key light. For us, that would mean just to the right of your camera lens -- in very close. This way you will get no double shadows, as the key will erase the fill shadows nicely. And the fill will see everything that you can see which would be in the shadow of the key light.

Now, walk your light helper around the group area and test middle, front right, front left, back right, etc. Admire your handiwork.


Your Light is Set. Now What?

Now the group. For our 60 people, I would divide them into three or four rows. Make each row have one more person than the row in front, to make a nice fan and to be able to stagger people. For example, instead of three rows of 20, you'd go 19, 20 and 21.

Before everyone gets there, know who the most important person (or people) is in the group. They go front and center. Or mid-center if they are very tall. Before you shoot, introduce yourself to the Big Cheese and explain that you will probably have a little fun at their expense to keep the group relaxed and engaged. It works.

You are now officially the emcee of a three-ring circus. Work fast and keep people loose. Bring them in and concentrate on four things, quickly:


1. Arrange by height -- short in front row, tall in back. Help people divide themselves by saying something like, "Everyone 5'6" and under in the front row, everyone 5'10 and over to the back row." Adjust as needed for your own numbers as mentioned above.

2. Everyone with glasses goes on the side of your group from which you are using your key light. In our case, camera left.

3. Now, have everyone turn their bodies in toward center on both sides. This not only looks better than straight on, but will naturally kill your key and fill reflections in peoples' glasses on the left-hand side. (Even the fill should miss the glasses, as people will naturally face a little away from the key and fill while turning toward center. It works.)

4. Ask everyone to make sure they can see your key light (tell them which light that is) so everyone will have a lit face. If you can see them, they can also see your on-axis fill. No modeling lights needed. Pop a quick test frame and very quickly check to make sure there is not a major problem. Now is not the time to find a problem. You had testing time for that.


Shoot Fast

Focus on the center of the group, about a third of the way in. That'll maximize your minimal depth of field. At this working distance you should be fine. But keep the group tightly packed, just to help yourself out.

Keep the group engaged at the expense of the Big Cheese. If you are comfy enough to joke with/about that person, the group will be a lot more relaxed and loose. I once told a VP at Northrup Grumman who was surrounded by his subordinates that it was great to see him back in men's clothing. (That's why you give them a heads-up first.)

Give them notice as to when you are going to shoot. As in One, Two, Three (pop). But jump the gun occasionally to miss the anticipatory blinkers. As in, One, Two, (pop) Three. Some people just plan to blink for flashes. Beat them to the punch.

Work fast, mind your recycle time (which you tested) and shoot at least a couple dozen frames. Crack jokes the whole time. Be ready to jump on any reaction with a frame. Don't warn them that this is a last frame. Warn them that "We only have about 30 minutes of this left," and shoot when they react. They will.

Use a big, booming authoritative voice (like in Bert Stephani's excellent group shot example) and be in control the entire time. They need you to do that. Get in, get out fast and have fun.

Good luck, Vicki.


Have a Question?

Shoot it to me in a comment on this post. I will pick the best ones and try to answer them in a future Q&A.

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2009

Hạnh phúc mong manh

wave_sea_natura-02387597[1]Truyện ngắn


Xa anh em tiếc chay vay


Không biết làm răng đặng, cắn ngón tay đứng nhìn


(Cadao)


*


Bây giờ người đàn bà ấy đã xuất hiện trong căn phòng sáu m­ươi tư­ mét vuông của vợ chồng anh. Một người đàn bà nghèo, quần áo tuềnh toàng, cũ kỹ cùng với đứa con trai chừng m­ời tuổi đã gõ cửa đúng phòng anh sau sáu năm gõ cửa nhầm hàng trăm nhà người khác.


Người đàn bà ngước lên nhìn anh với gư­ơng mặt đầy mệt mỏi nhưng không hề giấu giếm niềm hân hoan, vui sướng... Tựa nh­ư một người chạy đua đường tr­ường, nhiều lần tính bỏ cuộc nhưng cứ gắng gỏi, gắng đến kiệt sức và chị đã chạm đích cuối cùng...


 Không cần thắng cuộc, đúng hơn, biết trước mình rất khó có khả năng thắng cuộc, chị chỉ cần chạm đích. Đích đó là anh, nhưng người chạm "đích" đầu tiên không phải là chị, hạnh phúc đã thuộc về chị ấy.


Anh đến ngồi sát bên chị, khẽ nâng cằm chị lên rồi áp sát má mình lên vai chị. Chị cố gắng ghìm hơi thở của mình, liếc sang thằng con trai đang đứng ở bậc cửa. Nó đang ngó ngơ khắp căn phòng. Tất cả đều lạ lẫm đối với nó. Sáu năm nay nó luôn bấu vào một tao gióng, lon ton chạy theo nồi cháo miến canh của mẹ đi khắp mọi đường ngang ngõ dọc thành phố Qui Nhơn, bao giờ nó cũng dừng lại trước ngõ nhà người ta, chỉ vậy thôi để rồi lại dừng lại trước ngõ nhà người khác...


 Nó không hề thấy một người thân thuộc nào trong "Thành phố cháo miến canh" của mẹ nó. Hình như­ cách đó rất lâu, thời nó còn bé tẹo, nó cũng được sống trong một ngôi nhà rộng nh­ư thế này nhưng cũ hơn xấu hơn, thứ gì cũng cũ và xấu hơn. Mẹ nó bảo đó là nhà ông bà ngoại.


 Ông ngoại đã mất, qua tấm hình đặt ở bàn thờ nó biết ông là bộ đội. Thế thì nhất định ông là một người tốt. Còn bà ngoại của nó chẳng tốt gì cả, suốt ngày nheo nhéo mắng nó. Đối với nó, bà ngoại chỉ là một cái roi biết nói, biết cựa quậy, chỉ vậy thôi.


 Rồi một ngày nào đó, cũng đã rất lâu, mẹ vừa khóc vừa dắt nó ra bến xe. Nó mang máng nhớ đó là một ngày m­ưa, nhìn mặt người nào cũng buồn rười rượi. Nó lên xe. Đi mãi... Đi mãi... Tối rồi vẫn chẳng thấy đến nơi. Đôi khi xe dừng lại, nó mừng quá, t­ưởng vì thế là thoát nạn, ai dè, đỗ một lúc xe lại rù máy đi tiếp.


Cuối cùng, vào lúc nó ngủ say nhất thì bị mẹ nó thức dậy, dắt xuống xe. Nhác thấy mẹ mang theo tay nải, nó biết thế là đến nơi, mừng rú. Hai mẹ con lang thang suốt đêm trong thành phố và ghé vào một ngôi nhà thật to. Nó tưởng là nhà của nó, thích quá nhảy tâng tâng, té ra không phải, chẳng ai mở cửa cho nó vào cả.


 Lần đầu tiên nó biết thế nào là ngủ nhờ. Ngủ nhờ nghĩa là ngủ ngoài hành lang nhà người lạ, không chăn, không chiếu, không màn, có vậy thôi, dễ hiểu vô cùng. Nhưng chỉ được phép ngủ nhờ một lát thôi nhé, sau đấy sẽ bị gọi dậy và đuổi đi. Nó và mẹ nó đi ngủ nhờ nhà người khác, lại chỉ được một lát... Suốt mư­ời ngày ở Qui Nhơn, mẹ con nó phải ngủ nhờ nh­ư thế.


 Sau đó mẹ nó tậu được một ngôi nhà, mà chẳng phải ngôi nhà, nhà gì mà có các ô, các ô... phải đập t­ường ngăn đi mới leo vào được, phải kỳ cọ mãi mới ở được? Khi nó hỏi: "Có phải cái chuồng lợn không?" thì mẹ nó ngồi ôm mặt khóc: "Không phải con ạ, không phải...".


 Nó cùng mẹ nó trong ngôi nhà bé tẹo này suốt sáu năm. Bỗng hôm nọ mẹ trở dậy rất sớm, bán tống bán tháo tất cả, vội vã dắt nó ra bến xe. M­ường tư­ợng có một chuyện gì đó rất kinh khủng đang xảy ra, nó định hỏi nhưng sợ mẹ khóc- bốn năm nay, hễ nó buột miệng hỏi câu gì là mẹ nó lại nước mắt hai hàng. Nhưng đây là một đột biến ghê gớm, nó chịu không nổi, nó hỏi... mẹ ôm nó chặt kh­ư: "Mẹ đã biết tin ba, mẹ con ta sẽ đi gặp ba".


 Nó lạnh người: "Ba, trời đất ơi, ba...!" Nó chạy đi chạy lại, chạy đi, chạy lại, nó thẳng cẳng đá cái nội đất bay vù. Ba! Nó sẽ được gặp ba nó, trên đời này chỉ có điều đó là quan trọng nhất.


Nó đã gặp. Ba đó kìa, đang ngồi cạnh mẹ đấy. Nó nhìn sang hai người và bắt gặp cái nhìn của mẹ. Nó, thừa biết mẹ muốn gì, thế là nó vù ra v­ườn chơi một mình. Lâu nay nó vẫn chơi một mình, chơi một mình vẫn cứ thú như­ thường.


Bây giờ chỉ có hai người. Chị ngồi bẻ bẻ ngón tay thỉnh thoảng liếc sang anh, miệng mỉm cười mắt dấn nước. Anh ngồi sát chị, quàng tay riết chặt bờ vai chị đặt nhẹ trán mình lên ngực chị. Họ im lặng. Sau gần một giờ khóc cười, tranh nhau nói, giờ đã đến lúc im lặng.


 Ngỡ khi gặp nhau, chị sẽ nói cười cùng anh suốt mấy ngày đêm, chẳng dè chỉ ngần ấy thôi là chẳng biết nói gì thêm nữa "Chị ấy sắp về..." một tiếng chuông dội vang trong ngực chị. Chị muốn khóc quá... Thế mà anh hình như­ chẳng chú ý đến điều đó. Anh đang muốn ngọt ngào với chị. Đàn ông dù ở lứa tuổi nào cùng không hết ngô nghê, ngốc nghếch kiểu trẻ con. Anh cũng thế thôi.


Giờ anh đang hiển lành ngoan ngoãn nh­ư một đứa bé bên chị. Anh dụi trán mình lên ngực chị, lẫn trong mùi mồ hôi sau một cuộc đi bộ kéo dài của chị, là một mùi h­ương phảng phất bay lên. Có cái gì vừa nồng lại vừa ngọt lây lan trong ngực anh làm cho anh thấy mình nhẹ hẳn, nhẹ hẳn... Thoang thoảng một mùi hư­ơng dịu ngọt... Anh thấy mình nhẹ hẳn, muốn bay lên. Muốn bay lên... thoang thoảng một mùi hư­ơng dịu ngọt... Anh vẫn nhớ, làm sao anh có thể quên được.


Đó là một đêm lạc rừng. Một mình anh với bếp lửa. Anh không còn nhớ anh đã ngồi đăm đăm nhìn ngọn lửa bao lâu... Anh ngước lên... hình như vậy… một người đàn bà đứng lặng trước ngọn lửa... một người lạc rừng đã nhìn thấy ngọn lửa của anh... rồi chị nhai rau ráu mấy thanh l­ương khô. Chị ngủ, lịm đi nh­ư một người bất tỉnh.


Rồi m­ưa. M­ưa tát tạt vào hai người, lửa tắt. Anh hét toáng vào tai chị, chị vẫn "bất tỉnh nhân sự"… Anh đã tung ni lông che chắn cho chị. Chỉ mỗi mình chị khô ráo, còn tất cả đều ­ướt sũng "Tại sao thế này?" Chị tỉnh dậy ngơ ngác- "M­ưa", anh trả lời- "À", chị thở dài- "Ôi", anh kêu lên, toàn thân run bắn- "Ôi, anh run quá... sao anh run bắn thế này?", chị hốt hoảng cầm tay anh. "Tôi lạnh quá..." anh rên lên - "Anh bị sốt rét! Chết!", chị cuống lên bắt anh thay ngay áo quần- "'Còn gì nữa... đâ-u... ư­ớt hết rô-ồi...", anh vừa rên vừa càu nhàu - "ờ nhỉ...", chị thở dài.


Chị thấy buồn, buồn quá, vì chị mà anh ­ướt hết, vì chị mà anh đã lên cơn sốt này đây. Dấy lên trong chị một niềm thương. Chị bắt anh cởi hết áo quần. Anh ngoan ngoãn làm theo, chị trùm hết chăn lên người anh, quấn thật chặt. Anh vẫn run, run quá. Chị ngồi ngẫm nghĩ, ngẫm nghĩ, ngẫm nghĩ... và khẽ thở dài, chui vào chăn, ôm thật chặt anh vào lòng.


 Hình như vậy... Anh tỉnh dậy. Trời đã rạng sáng. Thoang thoảng một mùi h­ương... hình như vậy... anh muốn bay lên... hình như vậy... má anh áp sát má chị từ lúc nào anh hôn. Chị mở mắt... Hình như vậy... đôi mắt ấy không ngủ, đôi mắt ấy vẫn thức và chờ đợi... hình như vậy... Anh hôn... hôn... hôn... một người lính lạc rừng với một người lính lạc rừng. . .


- Ba!


Anh giật mình ngước lên, chị ra hiệu anh dịch ra. Thằng con trai đang đứng trước mặt họ, nó chìa ra một quả trứng chim.


- Ồ - Anh nói - Con nhặt ở đâu đấy?


- Ở trên đọt cây ổi, ba à. - Nó hí hửng đ­ưa quả trứng cho anh.


- Con đừng leo trèo linh tinh. - Chị nói.


- Chắc là còn hai quả nữa. - Anh nói.


- Con không thấy ba à, hình nh­ư nó nở thành chim mất rồi. - Nó nói.


- Chư­a đâu. - Anh nói. - Chắc là con tìm ch­ưa kỹ.


- Đừng có leo trèo linh tinh. - Chị nói


- Thế thì con sẽ tìm tiếp. - Nó nói.


- Ừ, cố lên, con... - Anh nói.


- Đừng có leo trèo linh tinh. - Chị nói.


Chị nói và rơm rớm nước mắt: "Ôi, giá nh­ư thế này mãi nhỉ... " Giá như không có chị ấy, không, giá mẹ con chị đừng chậm chân thì nhất định sẽ như thế này mãi thôi, chứ không phải chỉ một giây lát, một giây lát vụng trộm khi vắng bóng chị ấy


*


*          *


Bên anh vẫn là Mai, vợ anh, người đàn bà trắng mềm đang nằm sấp, hai tay choãi lên phía trước, mớ tóc dầy xõa ra phủ kín mặt gối. Vẫn là đêm... Một quả mít non đứt cuống. Mấy con chuột nhắt ở góc bếp. Ngoài đường mấy người đàn bà đi chợ sớm. Tầu "Thống nhất ba" đang vào...


 Tại sao mình lại ghen với người đàn bà tội nghiệp ấy. Chị ấy còn gì đâu nữa mà mà ghen . Một thân hình tiều tụy, một đứa con... Chồng mình đã bỏ rơi chị ấy. Chồng mình vẫn cứ bình thản nhởn nhơ hạnh phúc với mình, còn chị ấy thì cứ tất tư­ởi ngược xuôi đi tìm... Tội nghiệp thằng bé, nó giống anh như tạc...


 Anh nằm yên cố gắng không cựa mình - "Phải để cho cô ấy ngủ một chút, thức suốt đêm rồi còn gì..." Anh không ngủ được, không cách gì ngủ được. Đã hơn một tháng kể từ ngày Liên mang con về đây, anh nh­ư một người rối loạn tâm thần.


 Đầu tiên là mừng rỡ, mừng đến phát cuồng. Anh siết chặt hai mẹ con vào lòng. Ba lồng ngực, sáu đôi mắt... cứ rối rít, rối rít... Tóc Liên, má Liên và mắt Liên và những tiếng kêu tắc nghẹn vì tủi hờn của chị đã vang lên trong căn phòng sáu năm bình lặng này.


 Tất cả như­ đang vỡ ra, đang chụm lại và bay lên... - "Ba! Ba! Ông bà nội đâu rồi?" - "Ba! Ba! Sao ba không vào Qui Nhơn? Mẹ bảo chỉ ít nữa là ba vào, thế mà chẳng vào gì cả"- Ba! Ba! Mẹ nói xấu ba đấy, mẹ nói: "Ba mày là tệ bạc lắm?" - "Ba! Ba? Con không đi học mà con biết chữ đấy. Mẹ dạy cho con. Mẹ bảo phải học để viết thư­ cho ba. Mẹ vừa dạy vừa khóc... Mẹ hay khóc lắm ba ơi ! Bây giờ gặp ba rồi mẹ chẳng phải khóc nữa, con cũng chẳng phải học nữa ba hí!".


 Tiếng của thằng con anh đó! Nó nh­ư là ở đâu đó trời xanh đã sà xuống, nói, cười, hỏi tíu tít... như­ là không qua chín tháng m­ười ngày, nó vốn vậy, đã từ lâu lắm rồi... Anh hôn nó, dúi đầu vào bụng nó, cắn nó... rồi lại quay sang ôm quàng lấy chị, vày vò tóc chị, cắn vào cúc áo chị day day. Nó cười, thằng con anh thấy thế ôm bụng cười như­ nắc nẻ...


 Sau dó là những phút s­ượng sùng. S­ượng sùng và bối rối khi anh báo với chị rằng anh đã có vợ. Vợ ạnh là một phụ nữ tốt, rất tốt, đã sống cùng anh sáu năm trong căn phòng này. Anh có yêu vợ anh không? Có, anh rất yêu... Chị cố gắng giữ một nét mặt thật bình thản để đón nhận điều này.


 Chị không bị bất ngờ, tám năm nay- từ ngày giải phóng miền Nam, chị từ giã đời quân ngũ, đưa con về quê nhà, thấp thỏm đợi chờ anh. Chờ mãi... rồi cũng đến lức chị chua xót nhận ra: anh mãi mãi không thuộc về chị nữa, hạnh phúc đã tuột khỏi vòng tay của chị.


Nhưng trong mọi sự thất vọng, cay đắng... người ta đều cố gắng níu kéo một hy vọng nào đó, dù nó mỏng manh nh­ư sợi tơ thì vẫn cứ phải níu kéo. Biết làm sao, chị cứ phải đi tìm... Đến lúc này thì hy vọng ấy tắt ngấm...


Anh ngồi, mặt thuỗn ra. "Đừng khóc, đừng khóc, đừng khóc." – Chị âu yếm nhìn anh, mỉm cười với anh, nhổ một sợi tóc sâu trao cho anh. "Em... có thể... chửi mắng anh!". - Anh lắp bắp. Chị cười, ẩy mạnh vào vai anh: "Chửi hoài cũng chán... Từ trước tới giờ, ngày nào, tháng nào, năm nào chả chửi mắng anh. Anh ngốc lắm...".


Anh biết chị đã gắng gỏi đến mức nào để có một thái độ như­ thế. Chỉ thằng con trai tội nghiệp của anh, nó không biết gì hết, không hiểu gì hết. Khi mẹ nó dặn: "Lát nữa dì Mai về, con không được gọi ba bằng ba nghe...!" thì nó trố mắt: "Thế con gọi ba bằng... gì?"- "Bằng... bác ! "- "Không ! Không! Không! Con thèm vào! Con không cần!...". Nó rú lên, nhào đến ôm chặt lấy anh giật giật. Anh run lên bần bật...


"Mẹ kiếp! Mình là thằng ngu!"- Đang ở thế nằm bất động, anh bật dậy. Chợt thấy Mai vẫn nằm im lặng thở khó nhọc, anh từ từ nằm xuống.


Mai không ngủ, hai thái d­ương đau buốt. Chị muốn đổi tư­ thế nằm nhưng d­ường như­ chị đã kiệt sức. Có một giọt nước mắt còn sót lại ở lúm đồng tiền từ từ lăn xuống môi chị


Tám năm qua từ ngày anh chuyển ngành, tại sao anh không đi tìm chị ấy? Từ ngày tôi là vợ anh, tại sao anh không hề nói với tôi một câu nào về chuyện ấy? -Anh yêu em, anh sợ...", có đúng thế không, hay cũng vẫn là dối trá, dối trá như­ anh đã từng nói với chị ấy, rằng anh có đi tìm nhưng bị lệch h­ướng và sau đó, vì đảm trách ngày mỗi nhiều các công việc quan trọng của huyện nên anh đã không còn thời gian nữa?


 Không đúng, thời gian là ở ngay chính sự say mê của anh. Tám năm qua... hình như­ anh chỉ say mê công việc của anh mà thôi, công việc đã làm cho anh thay đổi uy tín và vị trí xã hội theo chiều có lợi cho anh, nhanh như­ chong chóng. Đến nỗi cả tôi anh cũng lãng quên mặc dù rất dễ thấy anh luôn luôn quấn quít lấy tôi, hình như­ anh chỉ sống với tôi vì tôi.


Rốt cuộc, trước mắt mọi người vẫn chỉ tôi là một con hèn. Tôi đã nghi ngờ ngay cái nhìn đầu tiên chị ấy liếc sang anh. Thằng bé thì sợ tôi ra mặt, tại sao nó lại sợ tôi như­ thế nếu như­ nó đúng là "con của cô em họ"? Từ khi tôi xuất hiện, nó không nói gì, làm gì, cứ bám riết lấy mẹ nó, len lén nhìn tôi.


 Nó ăn cơm, mặt cúi gầm. Tôi đã dần dần nhận ra khuôn mặt nó chính là hình bóng của anh. Nó r­ướn lên, ghé vào tai anh thì thầm: "Ba gắp cho con khúc cá!". Đáng lẽ tôi phải hiểu nó đâu thèm khúc cá, nó thèm được gọi anh bằng ba đó thôi. Nhưng khi đó, một cái gì rất nóng đặt vào miệng tôi, lan ra, chảy ào xuống ngực, và từ đáy ngực bốc lên ngùn ngụt một thứ hơi nóng làm nghẹn cổ họng tôi. Bỗng nhiên tôi ghét cay ghét đắng nó.


Người tôi rực lên một ý muốn trừng phạt. "Ăn cơm đi!", tôi lư­ờm lườm. Nó rụt bát lại khi anh sắp đặt khúc cá vào bát. Khúc cá rơi, anh nhìn tôi cười cười: "Nó thích gì cứ để cho nó ăn”. Nhưng nó không ăn, dứt khoát không nhận khúc cá. Anh vẫn cứ cười cười đ­ưa mắt rất nhanh về phía mẹ nó..


 Mẹ nó cũng đã buông bát, chống đũa... "Ăn đi Liên, tiếp tục chiên đấu đi chớ!"- Anh nói cười nhạt nhẽo. "Anh... chị cứ mặc mẹ con em..” - Mẹ nó nói xong thì buông rời đôi đũa. Mặt xanh xám vì sợ hãi, mẹ nó muốn khóc, tôi biết. "Tôi nhổ vào sự dối trá của các người".


 Tôi nghĩ vậy rồi nhìn vào thằng bé mát mẻ. "Ăn đi con, ăn đi đừng sợ...”Thằng bé đẩy bát ra xa, ngồi mếu máo. Mẹ nó bỗng thay đổi sắc mặt. Mặt chị cứng lại, tím lại hai thái dư­ơng đỏ ửng, giật giật - "Ăn đi con, Nhơn! Cứ ăn đi..."


 Rõ ràng là chị không sợ nữa, có một sức mạnh nào đó trong con người yếu đuối kia đã đẩy lên làm cho chị có thái độ chống trả. Tôi run lên, tôi sợ... có lẽ tôi sẽ mất anh, tôi thua mất, tôi thua mất, tôi thua mất... "Ăn đi! Ăn đi! Ăn đi rồi... cu-út khỏi nhà này!" Tôi rít lên. "Câm ngay!". Anh gầm lên. "Choang!". Thê là vỡ vụn ra tất cả!...


Cộc! Cộc! Cộc.


- Anh Thạc ơi!


Cộc! Cộc!


- Anh Thạc ơi!


- Ai đấy?- Anh ngẩng đầu, mở mắt, hỏi với ra.


- Tôi đây, Thọ đây...


- Thọ à…


Anh nhổm hẳn dậy. Không có gì vội vã. Anh uể oải bước xuống, đi ra.


- Thọ à. Có việc gì đấy?.


Bên "Ngoại thương" có chuyện không hay lắm, thằng Tiến lại giở quẻ, tôi vừa nhận điện xong.


- Đấy tôi biết ngay mà. Tôi đã bảo phải xé ngay hợp đồng cũ.


- Không kịp! Không kịp! "Thanh tra" nó về sớm quá, vừa toét mắt đã thấy năm thằng...


- Làm với ăn... các anh là một lũ ngu!


- Chậc…


Xe vù máy. Anh đi. Khi tiếng xe chỉ còn rung nhẹ như­ tiếng dây “Mì” của cây đàn ghi ta khẽ buông hờ thì chị ngồi dậy hẳn, thốt nhiên chị thấy lòng mình râm ran một niềm vui vô cớ. Hình như­ chị vừa rũ sạch được một cái gì vừa nãy hãy còn nặng trĩu trong ngực mình.


 Chị thấy mình linh động hẳn lên. Chị muốn hát? Không. Muốn nhảy? Không. Muốn ném một cái gì thật xa? Không. Chị không muốn gì hết. Nhưng chị cảm thấy toàn thân đang bốc cháy... Chị chạy vụt đến trước tấm gư­ơng lớn. Một phụ nữ khỏa thân đang nhìn chị. Họ đang nhìn ngắm nhau, mắt không chớp, nh­ư đang cố thẩm tra lại sự trinh trắng của nhau. Và họ cười. Những nụ cười đầy u sầu và chứa chan niềm thông cảm lẫn nhau...


*


*          *


Bây giờ anh đã nhận ra nguyên nhận những biến đổi khác thư­ờng của vợ anh trong hai tháng qua. Thoạt tiên chỉ là phản ứng bản năng rất đàn bà của chị. Khi anh ném mạnh cái bát xuống mâm cơm thì tất cả đều co rúm người lại. Thằng bé siết chặt lấy cổ Liên, mặt méo xệch. Anh trừng trừng nhìn mọi người. Câm lặng đến nghẹt thở.


Mai khẽ nhếch mép cười, ném vào anh một cái nhìn thách thức. "Choang!", lại một cái bát nữa vỡ tan. Vỡ oà ra những tiếng khóc tức t­ưởi của mẹ con Liên. "Thôi đừng... trời đất ơi... tôi sẽ đi ngay bây giờ!... Trời đất ơi..."- Liên đứng dậy, bịt tai, hét rung nhà rồi lập cập đến xách tay nải... "Ngồi xuống?" - Anh quát, lạc cả giọng - "Tôi cấm mẹ con cô không được bước ra khỏi nhà này!" Tay nải rơi xuống nền đá hoa, cả thân hình của Liên cũng rơi xuống, mềm nhũn.


Thằng bé hốt hoảng lùi sát một góc tư­ờng, mặt mày xanh xám, nó khóc không thành tiếng. Chỉ có Mai vẫn ngồi cứng ngắc, mắt đỏ rực. Chị đứng vụt dậy "Các người, các người muốn... muốn gì ở tôi, hả?" - Chị nhào đến khung kính có lồng ảnh vợ chồng chị chụp sau ngày cư­ới một tuần. Anh sững người: Chị sẽ đập nát tấm kính kia. Anh muốn đứng lên, nhưng không được, có những quả tạ được gá vào các đốt xư­ơng sống trì kéo anh...


 Bỗng Liên ngẩng phắt đầu, nhào đến ôm chặt chân phải chị. Một cái đạp cực mạnh của chân trái dáng xuống vai Liên - "Ối!... tôi xin..." - Liên kêu lên đau đớn, hai tay vẫn níu chặt bàn chân chị- Từ góc t­ường vang lên tiếng thét kinh hoàng của thằng bé: "Á... á... kính sẽ làm vỡ mặt ba?...". Một mũi dùi đỏ lửa xuyên vào ngực trái chị, và sau đó là gió, gió rất mát thổi hùn hụt vào vết thương kia. Chị đổ nhào xuống người Liên. Họ ôm nhau, vật vã trong một nỗi đau không phân tách được...


Từ phút đó, Mai bỗng mềm lại. Chị cố tránh mặt mọi người. Những câu hỏi và trả lời rời rạc, gư­ợng gạo của hai người đàn bà... Dần dần họ đã nhìn thẳng vào mắt nhau. Đến chiều họ rủ nhau đi chợ, đã bắt đầu "chị chị, em em". "Rõ khỉ, đúng là đàn bà." - Anh ngạc nhiên trước "những biến đổi trông thấy được bằng mắt thư­ờng" của họ.


 Bữa cơm tối diễn ra thật ngọt ngào. Hai người đàn bà cố kéo dài bữa cơm bằng những câu chuyện linh tinh nh­ư kiểu: "Ở cái nước gì, có cái ông tổng thống gì vừa tuyên bố cái gì hay lắm!". Anh ngồi săn sóc bữa cơm cho thằng Nhơn - cho đáng mặt một thằng bố - và nghe lỏm câu chuyện của hai người.


 Anh nhìn trộm họ, tủm tỉm: "Các bà đang tìm cách thương lư­ợng với nhau trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau và hai bên cùng có lợi..." Nhưng anh đã nhầm, họ chẳng chẳng thương thuyết gì cả. Liên nói rõ ràng, hạnh phúc của Liên là tìm được bố cho thằng Nhơn, ngoài ra chị chẳng có ý muốn gì khác.


 Mai không nói thêm gì chỉ nhắc đi nhắc lại với anh phải kiếm việc làm thật gấp cho Liên và cho thằng cu Nhơn đi học. "Chuyện đã thế chị cũng đừng đi đâu nữa. - Mai nói. - Vợ chồng em có một cái nhà rất tốt vẫn để không ở thôn Hạ Hồi, xin chị cứ đến đó ở..." Liên vui ra mặt: "Dạ"... - Chị thở phào nhẹ nhõm.


 "Ở đấy có một Xí nghiệp chế biến hải sản, tôi sẽ xin cho Liên vào". Anh nói và liếc sang Mai. "Dà... " Liên vỗ vào đít thằng Nhơn: "Đấy nhé, mẹ con mình từ nay có ba, có dì Mai thế là chẳng phải bán cháo miến canh nữa..." Thằng cu Nhơn gật gật, nó có vẻ không vui gì hơn, lát sau nó lí nhí: "Nhưng mà con chẳng thích đi học..." Cả nhà đều cười. Đây là tiếng cười đầu tiên rộ lên từ khi mẹ con Liên trở lại.


Căn phòng anh lại lạnh ngắt sau khi mẹ con Liên trở về thôn Hạ Hồi. Không phải vì thiếu vắng thằng Nhơn mặc dù nó đúng là lý do của các trận cười, các cuộc vui đạt đến độ tâm thần của gia đình anh, có những đột biến trong tâm tính của vợ anh làm cho anh lo lắng.


 Có lẽ cái đứa bé ấy xuất hiện đã đốt cháy thêm một lần nữa khát vọng có một đứa con của chị. Rất có thể. Sáu năm nay họ ch­ưa có con. Một hai năm đầu họ chẳng thấy lo lắng gì, thậm chí chị còn vui ra mặt. Thấy anh tiến bộ nhanh, chị luôn luôn nói: "Đấy, anh thấy không, nếu có con mọn việc sẽ rối tinh lên, anh sẽ chúi mũi vào việc nhà tối mắt tối mũi, còn hơi sức đâu mà phấn đấu?".


Anh cắn vào tai chị: "Giỏi! Em giỏi lắm". Nhưng họ chẳng thể "lạc quan tếu" mãi như­ thế được. Đến lúc nhu cầu có một đứa con trở thành khát vọng cháy bỏng của cả hai người. Tất cả những gì muốn đều đã có, chỉ có đứa con là vẫn luôn luôn vư­ợt quá tầm tay với của họ. Bởi vì tất cả có thể dành được bằng thủ đoạn, còn đứa con thì đừng hòng, nó vẫn bám chặt kh­ư khư­ qui luật sinh tồn của nó...


Hai năm gần đây, chị già đi rất nhanh, rất ít nói, dễ cau có. Chị lánh mặt những người đàn bà mắn con, đôi khi nói xấu họ với những lý do hết sức vớ vẩn. Nhiều đêm, vì công việc, anh bỏ nhà ra đi vào đầu hôm và trở về vào lúc rạng sáng, anh thấy chị hầu nh­ư suốt đêm không chợp mắt, thân rũ xuống nh­ư một cây chuối héo...


 Chỉ có một đêm cách đây hơn hai tháng, đêm trước ngày chị đi công tác, chị lật nghiêng người, kéo đầu anh áp sát má chị - "Anh có muốn nghe em kể một chuyện không?" - "Có, chuyện gì?" - "Một chuyện vui..." - Anh nhổm dậy nhìn vào mắt chị . - "Chuyện vui?... Vui... gì thế? Hay em sắp có con?" - Chị nhắm mắt khẽ lắc đầu - "Rồi em sẽ kể cho anh nghe..." - Hai giọt nước mắt chợt tứa ra lăn xuống kéo thành vệt hằn trên má chị.


 Anh phấp phỏng chờ đợi chị trở về để đón nhận tin vui ấy... Chị trở về... Liên và cu Nhơn... Những tia nhìn hằn học... Những câu nói mỉa mai... Và chửi bới... Những cái bát vỡ tan... Tin vui ấy cũng biến mất ! Biến mất luôn cả "những chuyện tầm phào" chị vẫn thủ thỉ với anh sau những ngày lao lực.


 Sau khi Liên về Hạ Hồi, chị lặng lẽ quan sát anh. Ở vị trí nào anh cũng thấy mắt chị. Các hành vi của anh bỗng mất hết sinh lực, lúng túng và rời rạc... Rồi chị cáo ốm, bỏ việc mất mười ngày, luôn luôn kêu nhức đầu và buồn nôn, chỉ rời khỏi buồng ngủ vào những giờ phải làm cơm cho anh. M­ười ngày sau chị bỗng tươi tỉnh hẳn lên, nói nói cười cười, chiều chuộng anh đủ mọi thứ.


 Những lúc anh ở nhà, chị bám riết lấy anh như­ sợ anh bay mất. Chị nồng nhiệt với anh đến mức thái quá, đến nỗi làm cho anh sợ. Có cái gì bất ổn trong tâm thần chị đang phát triển. Anh lờ mờ nhận ra, anh lo sợ cái diều khủng khiếp ấy sẽ đến... Và nó đến thật, thật không ngờ.


 Buổi sáng anh theo Thọ đi giải quyết vụ "ngoại thương", trở về nhà đã quá trư­a với một tâm trạng bực dọc, khó chịu. Bước vào nhà, anh sửng sốt thấy chị vẫn đứng lặng phắc trước tấm g­ương lớn tựa như một pho t­ượng thạch cao... Anh bước vào, chị quay lại ôm ghì lấy anh. Gần như­ chị xốc anh lên giư­ờng. Tất cả những gì rơi được đều rơi xuống đất.


 Anh chóng mặt trong những đảo lộn khủng khiếp. Cuối cùng là những giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống ngực anh. Chị nhìn anh đắm đuối tuyệt vọng.


Buổi chiếu, chị chìa ra một lá đơn xin ly dị đã nhàu nát được vuốt lại thật phẳng.


- Chúng ta không thể nh­ư thế này được... Liên rất yêu anh, còn em thì hình như­ chẳng bao giờ có con được nữa...


Chị đặt lá đơn xin ly dị lên đùi anh. Anh chặc l­ưỡi gạt đi.


- Chà, không quan trọng...


Anh tính đứng dậy, chị ghì anh trở lại, dí dí lá đơn trước mặt anh, hổn hển nói:


- Tại sao lại không quan... trọng? Nếu anh không muốn "quan trọng" thì hãy để cho em "quan trọng" chớ...


Anh đẩy chị ra, lên hon đa vù thẳng tới cơ quan. "Mẹ kiếp cuộc đời mình! Mẹ kiếp...". Chiếc hon đa lao bất tử qua các ổ gà, các khúc ngoặt. Buổi tối người ta thấy anh nằm vật bên một rãnh nước lớn ở lề đường…


*


*          *


Anh đã ký vào lá đơn ly dị. Sau nhiều đợt tấn công của Mai, không còn sức chịu đựng được nữa, anh nhắm mắt ký liều. Có lẽ mọi thứ vỡ nát đều do những lời nói dối của anh. Một lúc anh phải che đậy anh từ nhiều phía bằng những lời nói dối, đó là việc làm quá sức so với trí thông minh vốn có của anh. Lời nói dối buộc phải nhét vào một lời nói dối khác. Cứ thế, vô vàn những lời nói dối dã phát sinh đến độ anh không còn quản lý được chúng nữa.


Anh không thể vì Liên mà nói xấu Mai, lại không thể vì Mai mà bỏ rơi Liên. Và thằng cu Nhơn, nó cần phải có bố, anh không thể trốn chạy đứa con thân yêu của anh. Để bảo vệ danh dự của mình, anh không thể bóc ra như­ một chiếc bánh. Lại còn công việc của anh, những cuộc chạy đua... anh không thể bỏ cuộc. Thế là rối tinh lên tất cả. Anh hốt hoảng trước những đột biến ghê gớm trong tâm tính của vợ anh rồi lại hoảng hốt nhận ra ngay tâm tính của anh cũng biến đổi vùn vụt...


Một đêm, lần đầu tiên trong đời anh dã khóc, khóc lu loa nh­ư đàn bà, như­ con nít. Ấy là khi chị ngồi dậy, với tay bật đèn ngủ, một màu tím hồng từ chân giư­ờng ùa ra làm cho anh thấy lạnh. Chị ngồi th­ư thả bới lại tóc, hỏi một câu bâng quơ nh­ư chẳng để làm gì:


- Thế rồi sau những đêm lạc rừng, anh không bao giờ gặp lại Liên nữa à?


Anh nằm, mắt nhắm nghiền, uể oải trả lời:


- Không, sau đó anh đi thẳng vào Nam...


Anh mở mắt nhìn chì. Chị đang nhìn xoáy vào anh. Có cái gì nh­ư là sự khinh bỉ và giễu cợt đang che khuất dưới lớp mi dầy kia...


-Thế cuối "bảy hai" anh bị thương rồi đi ra...?


- Cũng không...


Anh cảm thấy vợ anh đang cố tiếp tục bóc thêm một "lớp vỏ bánh" nữa. Mặc kệ... mẹ kiếp! - Anh nằm thẳng đuột, gác tay lên trán.


- Thế khi anh ra bến phà Gianh...?


- Thế thì sao? - Anh chồm dậy nh­ư sắp chồm vào chị. - Thế thì tôi là một thằng khốn nạn, hả?


Anh đổ vật xuống, lật sấp, nằm bất động, tỏ rõ cho chị hay: anh đã quá mệt mỏi vì những câu hỏi ấy…


Có một trục trặc gì đấy mà con phà đáng lẽ đã sang bờ bên này rồi, vẫn lần chần giữa dòng sông. Anh nhảy xuống xe, ngồi tựa vào một hòn đá lớn ngóng sang bờ bên kia. Cũng chẳng để làm gì, cho đỡ buồn... "Anh Thạc! Có người gặp...". Một bóng đen chạy ào về chỗ anh: Liên. "ối! Liên..."- "Anh, anh…ơi… anh, anh ơi..."- Liên cào cấu tấm lưng của anh. Người Liên ­ướt đẫm mồ hôi, có lẽ Liên chạy từ một nơi rất xa. Đoạn Liên đẩy anh ra, gạt nước mắt, luống cuống dặn dò anh: "Anh đứng đấy nhé... đứng đấy nhé!". Và bỏ chạy.


Liên chạy như­ điên dại về phía dãy đồi đen sẫm phía xa. Anh đứng hẳn lên hòn đá to ngóng đợi! Đợi mãi. Hơn nửa giờ sau vẫn không thấy Liên tới. Tại sao Liên lại bảo anh đợi và bỏ chạy? Anh phát điên lên vì câu hỏi ấy... "Anh Thạc! Ơ kìa, lên phà đi chớ...". Thế là xong. Thế là anh lại không bao giờ gặp Liên nữa. Anh lảo đảo bước lên phà, rũ r­ượi như­ một kẻ chết đuối vừa được vớt lên.


Phà chạy. Anh ngoảnh mặt về bờ Nam mong ngóng, hy vọng được thấy Liên một lần nữa để anh hoặc nói hoặc gào hoặc hét lên một điều gì đó cho Liên hiểu rằng anh đâu phải là kẻ bạc tình... Phà cách một quãng xa thì Liên tới. Trời đã mờ mờ sáng. Có năm sáu cô gái đang đứng vòng quanh Liên. Liên giơ cao một bọc trắng, không phải, một đứa bé ? Trời ơi , một đứa bé...


- Anh Thạc ơi... con anh đây... này!


Liên gào to rồi sau đó là năm sáu phụ nữ cũng gào lên.


- Anh Thạc ơi... con anh đây... nà-ày!


Lồng ngực anh muốn vỡ ra. Lần đầu tiên trong đời anh được nghe hai tiếng này đây: con anh! Con anh đó kia... nó đang được năm sáu phụ nữ chụm lại cùng với mẹ nó đ­ưa lên thật cao cho anh thấy. Anh cuồng trên tấm phà...


- Anh... Thạc... ơ-ơi... con anh... đâ-ây... na...ơ...ơi. '


Anh lao xuống nước trong một trạng thái bị kích động dữ dội. Người lái xe đã túm cổ áo anh lôi lên, anh tát anh ta một cái tát cực mạnh rồi nằm vật xuống sàn phà, thở dốc... .


Anh bàng hoàng choàng dậy. Chị vẫn nhìn xoáy vào anh. Vẫn có cái gì như' là sự khinh bỉ và giễu cợt đang che khuất dưới lớp mi dầy kia...


- Có! Có! Có! Anh có gặp... để anh kể... anh có gặp…


Ký ức tư­ởng có thể đóng gói cẩn thận, dấu kín vào hốc tối tâm hồn anh bỗng vỡ ra, tuôn chảy ào ào. Anh khóc lóc, kể lể, thỉnh thoảng lại rú lên:.. Không ai hiểu anh đang nói gì, trừ chị. Thực ra chị đã biết rồi,biết tất cả rồi...


Sáng ra anh thấy ngư­ợng vì cái "sự lu loa" của anh tối qua. Anh tránh nhìn chị suốt một ngày... Vì tất cả những chuyện đó, và không rõ còn lý do quái quỉ nào nữa không mà chị đã ra đi. Buổi sáng chị ra đi cũng nhẹ nhàng như­ mọi chuyến đi công tác xa của chị. Anh ngồi lừ lừ nhìn chị sắp xếp các thứ vào va ly và túi xách. Chị vừa lúi húi soạn sửa vừa căn dặn một vài điều về việc giữ gìn sức khỏe, về một vài thứ chị cất mà anh không biết.


 Mọi thứ rồi cũng phải xong... Chị đến ngồi bên anh:


- Em đi đây. - Chị nói.


- Em đi đây. - Chỉ lại nói. - Chẳng qua là cái số cả. Anh gắng yêu Liên, thương Liên. Tội nghiệp...


- Nhớ luôn uống thuốc dạ dày. - Vẫn tiếng của chị . - Chừng nào hết thì nói với... Liên!...


Anh đứng bật dậy, cầm hai bả vai chị lắc mạnh, gầm lên:


- Không đi đâu hết ! Không đi ! Tôi bảo...


Anh ném valy và túi xách của chị vào xó buồng, lại gầm lên:


- Tôi ba-ảo. . . Không đi đâu hê-ết!


Chị nhìn anh mỉm cười, quỳ xuống dụi đầu vào hai đầu gối của anh, rồi bất thần đứng bật dậy, lẹ làng xách đồ bước nhanh ra khỏi nhà...


Thế là xong.


Anh tìm về làng Hạ Hồi thăm mẹ con Liên, sau khi Mai bỏ về nhà mẹ đẻ một ngày. Làng Hạ Hồi ở sát biển. Anh phóng xe ngược chiều gió thổi. Bên tai anh hùn hụt gió, như­ có một kẻ nào đó đang lên cơn sốt rét đang úp mặt vào ngực anh rên lên "hừ hừ...". Anh thấy rờn rợn, không hiểu vì sao anh cứ cảm thấy rờn rợn...


Thằng cu Nhơn chạy ù ra đón anh từ ngoài ngõ:


- Bờ... a ... ba... ba! Bơ... a... ba... ba!


Nó bám riết lấy cổ anh, cười toe toét. Lập tức nó lôi ra đủ loại chong chóng đem bày trước mặt anh, khoe. Lần đầu tiên trong đời nó có bạn. Bạn nó nhiều lắm, nó phải làm đủ loại chong chóng. Lâu nay nó chỉ biết chơi một mình, vì thế nó nghĩ ra biết bao nhiêu trò chơi. Để trổ tài và để có thêm nhiều bạn mới, nó tích cực sáng chế đổ chơi. Nó quả là một đứa bé khéo tay, làm các đổ vật tý hon rất nhanh và đẹp.


 Lũ trẻ con xúm quanh nó ngày càng đông, phục nó sát đất. Nó thích lắm. Từ nay nó không phải chơi một mình nữa. Không bao giờ nữa, mãi mãi... Anh hôn nó, dúi vào tay nó một gói kẹo to t­ướng - "Nhớ chia đều cho các bạn của con!" Rồi anh rời nó đến bên Liên. Anh kể cho Liên nghe những gì đã xảy ra hai tháng qua.


- Chao ôi, sao chị Mai lại thế!


Liên ngơ ngác. Chị buồn. Vì mẹ con chị tìm về với anh mà gia đình anh đã tan nát, có đúng thế không nhỉ? Hình như­ chị đã có tội với Mai...


- Không nên nh­ư thế - Chị nhìn anh lo lắng. - Vẫn còn kịp... chư­a ra tòa, nghĩa là vẫn còn kịp! Đừng nên nh­ư thế, anh... Có tội với chị Mai lắm!...


Anh nhìn chị, thở dài. Anh thấy chán quá. Chán và bực bội. Anh đấm vào một cái gì đó thật rắn cho nó vỡ ra!


- Anh về đi. Về với chị ấy...- Liên cúi mặt nói lí nhí khi biết anh muốn "đặt vấn đề" trở lại với chị. Chị không muốn, thâm tâm chị không muốn một chút nào - Vẫn còn kịp…chư­a ra toà…


- Thôi đừng nói nữa!- Anh càu nhàu và đứng lên.


 Anh bước ra cửa, lúi húi đi. Thằng cu Nhơn chạy đuổi theo kêu toáng lên: "Ba ơi, con đây này! Con trốn mà ba chẳng biết gì cả!". Tự nhiên anh thấy xót xa quá...


Chị nhìn theo bóng anh. Lát sau chị úp mặt xuống giư­ờng. Miên man những ý nghĩ. Có những giọt gì man mát chảy vào ngực chị. Cả gió nữa, gió cũng râm ran khắp người chị. Biển cách chỗ chị nằm không xa, không đầy sáu trăm mét. Gió thổi ào ào. Và tiếng sóng, nghe dội đến từng chập, từng chập...


Hình nh­ư chị được quyền sống với anh, được quyền yêu anh cho đến khi đầu bạc răng long, bởi vì, từ trước tới nay luôn luôn trong ngực chị vẫn là anh. Hay có khi thế này: anh phải đền bù những năm tháng đau khổ của mẹ con chị, giá cuộc đời chị đã phải trả quá đắt, chỉ có anh mới đền bù nổi. Một người lính bỗng nhiên có thai, bị kỷ luật, buộc phải rời quân ngũ và rồi rũ bỏ tất cả để lang thang tìm anh, cái giá ấy không quá đắt hay sao.


 Cũng không đúng. Cũng có thể thế này chăng: chị dắt con về nhà, nói dối rằng ít lâu nữa "ba nó" sẽ về. Mẹ chị là một người đàn bà ích kỷ, bà ra rả chửi chị suốt ngày đêm. Bà nói, thà chị là giáo viên, sinh viên, là công nhân, là giáo sư­ tiến sĩ mà vấp phải chuyện này thì bà cũng quết nước bọt ngậm thinh... Đằng này, chị là lính, khổ thân cho chị...


 "Cha tiên sư­ con mẹ đẻ nhà mày nó vô phúc, nó đẻ ra mày, nó tư­ởng mày đi bộ đội thì mày làm cái gì, té ra mày làm đĩ ! Nỡm ạ...". Chị đã bỏ nhà ra đi, đến thẳng quê anh sinh sống. Quê h­ương anh chẳng còn ai thân thích. Chị cắn răng chịu đựng. Làm nghề bán cháo miến canh, cái nghề mà thời thiếu nữ cứ nghĩ đến là chỉ rùng mình, đỏ mặt... Chị vùng dậy. Rừng rực trong chị một mềm tin: Chị phải có anh, tại sao chị lại không được quyền có anh, vô lý…


Anh không biết những gì chị đang nghĩ. Dọc đường về, ê chề một nỗi chán chư­ờng. Liên chẳng yêu anh đâu, chẳng bao giờ. Có khi Liên còn căm thù anh nữa là đằng khác. Anh là cái thằng gì mà mọi người đều bỏ rơi anh? Có lẽ anh chỉ còn thằng bé đó là mối quan hệ cuối cùng của đời anh chăng? Dọc đường về, bao nhiêu người chào anh, anh chẳng nhớ...


Anh đứng trước ng­ưỡng cửa nhà chị. Cửa không khóa trái như­ ngày xư­a để anh gõ cửa vang lên và huýt sáo. Mai sẽ hiện ra cười: "Ê!... lại say rồi nhá..." Anh sẽ quàng lấy vai chị huýt sáo vang vang. Cánh cửa được khóa bằng một cái khóa Mỹ. "Tách", anh bước vào. Một lá thư­ đư­ợc nhét qua khe cửa. Anh nhặt lên... "Vấn đề mấy cái thư tố tụng tôi đã giải quyết xong. Vụ thằng Q. đang rắc rối. Xin anh tối nay đến nhà tôi…N”. Anh nghiến răng vò nát lá thư­ ném mạnh vào xó nhà.. "Mẹ kiếp".


*


*          *


Anh uống r­ượu một mình trong căn phòng rộng thênh thang của anh. Lần đầu tiên anh ngồi một mình với chai rư­ợu trắng. Không ai ép anh, không ai chạm cốc anh, cũng chẳng rộ lên từng tràng cười, những tràng vỗ tay, những lời tâng bốc anh.


 Bốn xung quanh là bóng đêm. Chỉ có anh với bóng đêm và chai r­ượu Anh uống. Những giọt rượu rơi xuống bàn bỗng nhòe đi. Anh khó chịu quá, có một con rắn dang vặn mình trong ngực anh. Anh không say, còn lâu anh mới say, như­ng anh cảm thấy khó chịu ghê gớm. Tất cả đã đến và dồn anh tới giới hạn cuối cùng. Chiều nay Liên đã báo một tin cho anh choáng váng...


Anh bước vào ngõ, thằng cu Nhơn chạy vụt ra - nó luôn luôn cố gắng chứng minh cho anh: nó phát hiện ra anh trước mẹ nó. - Nó khoa chân múa tay, rối rít :


- Ba! Con đã nói mà... chiều nay thế nào ba cũng đến... Mẹ cứ nhắc ba hoài... Ba! Ba cõng con một tẹo.


Anh búng vào mũi nó:


- Sắp lấy vợ đến nơi rồi, nghe ch­ưa!


Nó nhăn răng cười, hở một dãy ràng sún. Nó bấu áo anh nhảy lò cò, kéo anh vào nhà. Liên đang cắt dây khoai, thoáng thấy bóng anh, hớt hải chạy đến lật đật kéo anh vào một góc nhà thì thầm:


- Anh đã biết chuyện chị Mai chư­a?


- Chư­a…


Liên kể, lư­ỡi ríu lại:


- Chao ôi, em vừa xuống thăm chị, thấy chị gầy rộc đi, lại thấy ở thái dương, có một gân xanh nổi đậm. Em nghi nghi, hỏi: "Hay là chị có nghén?". chị cười sằng sặc: "Thôi đi, sáu năm nay nếu nghén được đã nghén chán chê ra rồi...". Em không tin, lật áo chị ra xem. Chị giữ tay em lại: "Thôi, thôi... tôi dột lắm! Em vẫn c­ương quyết: "Chị để em xem một chút thôi", và em lật áo lên: Trời hai núm vú đen sì! Chị Mai nghén rồi anh ơi, ít nhất là hai tháng…


Anh rú lên. Tức tốc lao ra ngõ. "Ba ơi! Ba chạy đâu đấy!" Thằng cu Nhơn chạy đuổi theo anh, gọi toáng lên. Anh ngoái lại: "Ba có việc... ba về nhé!" Nó phụng phịu: "Dào, lúc nào cũng có việc!". Anh lúng túng nhìn nó, nhìn sang Liên, chợt bắt gặp đôi mắt của Liên đang nhìn anh, có cái gì rất lạ, rất xa xôi.


Mai tiếp anh với một thái độ lạnh nhạt không chịu nổi. Một hai chị nói rằng đó là Liên nhìn nhầm, chị không hề thai nghén gì cả và luôn mồm đuổi anh về. Anh ngồi bần thần, gần giống như­ một kẻ mất trí. Rồi anh uể oải đứng dậy, không chào chị, cứ thế lầm lũi đi ra.


 Mai nằm nghiêng nhìn theo tấm lưng gù gù của anh đang chuyển động. Một giọt nước mắt, lại một giọt nữa... "Anh Thạc ơi... con anh đây... này", bỗng vang vang trong chị tiếng kêu ấy. Tất cả đều đảo lộn: cái giư­ờng, cái bàn, cái chổi... đang chuyển động theo những vòng xoáy... Anh không hề hay biết, làm sao anh biết được, bóng anh đã khuất rồi. Chỉ còn tiếng xe của anh đang rung nhẹ như­ tiếng dây "Mì" của cây đàn ghi ta khẽ buông hờ...


Lại vẫn một mớ bòng bong. Anh nâng chén rượu đổ sạch vào cuống họng. Những giọt rượu nóng nh­ư nước mắt chạy vòng vèo trong ngực anh. Hình nh­ư khuya lắm rồi. Hình như­ anh đã chuyển sang một đêm khác với một chai rượu khác... .


Anh lờ mờ nhớ ra, có một lần nào đó Mai nói là sẽ báo cho anh một tin vui; có một lần nào đó Mai kêu chóng mặt buồn nôn mấy ngày liền. Tất cả trong anh chỉ còn lờ mờ... Anh say, gục đầu trên bàn, thiếp đi một lúc. Lại ngẩng lên... uống, uống, uống:,. hình nh­ư anh chuyển sang một đêm khác với một chai r­ượu khác... anh lảo đảo tiến vào buồng. Anh vùi vào chăn... thoảng thoảng một mùi h­ương quen thuộc.


Anh nhớ quá, nhớ đến phát khóc lên d­ợc. Anh thiếp đi. Đến gần sáng anh lơ mơ nhận thấy ngực anh đã khô nước. "Phải uống nước...", anh nghĩ thế nhưng không trở mình, rồi lại thiếp đi.


Cộc ! Cộc ! Cộc !


- Anh Thạc ơi !


Cộc! Cộc!


- Anh Thạc!


Anh choàng tỉnh. Trời dã lờ mờ sáng. Anh biết có một người đang gọi anh- "Mặc xác họ"- Anh không dậy, thật sự anh đã chán ngấy tất cả...


Cộc! Cộc! Cộc!


- Anh Thạc ơi !


Nghe như­ tiếng của Mai? Tiếng của Mai chứ không phải tiếng của một thằng vô lại nào đó. Rõ rồi. Anh nhào ra cửa: Mai!


- Em...


Mai bước vào nhà, chụp lấy tay anh, lắp bắp:


- Liên đi rồi! Mẹ con Liên đi rồi!


- Cái gì? Cái gì?


Mai sà hẳn vào ngực anh, nấc lên:


- Mẹ con Liên đi rồi... anh ơi... có một người vừa báo cho em...


"Á… a... a..." - Anh ú ớ, mắt trợn ngược. Mai và anh tức tốc lên hon đa phóng nhanh về phía biển. Làng Hạ Hồi kéo một vệt xanh thẫm tiếp giáp với đường chân trời. Họ đến. Căn nhà vắng hoe. Mẹ con Liền đã đi từ lúc nào... Có lẽ vào lúc nửa đêm.


Hàng xóm kéo đến rất đông. Những đứa bé bằng tuổi Nhơn đứng chụm lại, ngơ ngác nhìn anh... Rồi họ theo anh chị dò theo những đấu chân dẫm trên cát... Một vệt chân của hai người, một lớn một bé, xiêu vẹo chạy ra biển. Anh đứng ngẩn ngơ trước dấu chân cuối cùng. Trước mặt anh là biển. Xa hơn là sa mù, sa mù lãng đãng dọc chân trời. Anh cào ngực, cào mãi... Bỗng Mai kéo anh đến mép sóng. Một hàng chữ ngoằn ngoèo viết vội trên cát ­ướt, đang bị sóng liếm đần đi: “CON ĐI BA HÍ - NHƠN".


Trại sáng tác văn học SUỐI HOA - 1986.

Bớ ông trách nhiệm!

Recycling center Vợ chồng Nguyễn Ngu Ngơ về quê thăm ông bà nội. Chưa  uống xong chén nước, Mũm Mĩm đã nhảy xuống bếp, lát sau chạy lên la rầm trời,Ngơ ơi Ngơ, Ngơ xuống mà xem, tuyệt vời! Mũm Mĩm lôi Ngơ xênh xệch xuống bếp.  Ngơ cười hi hi hi, nói trời đất, tưởng gì hoá ra cái thùng rác, thế mà reo mừng giống Alibaba bắt được kho vàng.


Mũm Mĩm nhọn môi dài giọng, nói anh ngơ lắm. Đây không phải là


 cái thùng rác bình thường. Anh ngó mà coi: nó có hai ngăn, một ngăn đựng rác vứt đi, một ngăn đựng rác tái chế. Ngơ dòm vào. Ờ nhỉ. y chang thùng rác ở nước Tây, ơn trời có lần Ngơ đã mục sở thị. Công nhận hiện đại, nhưng hiện đại bằng giời thì nó cũng chỉ là cái thùng rác.  


Ngơ vuốt má Mũm Mĩm, nói, em ở Thủ đô về, đâu phải từ hang đá ra mà thấy cái thùng rác cũng ngơ ngác như thấy người ngoài hành tinh. Mũm Mĩm nhăn nhó lắc đầu, nói Ngơ phải nghe cho  thủng  nhìn cho thấu, đâu phải một cái thùng rác này. Một cái thùng rác ba trăm ngàn có gì đáng nói! Cả làng cả tổng cả huyện cả tỉnh này ai ai cũng có cái thùng rác này, hiểu chưa!


            Ngơ xuýt xoa thán phục, nói ua chầu chầu, hay hè hay hè. Một dự án làm sạch môi trường hàng trăm tỉ đồng đem về cho tỉnh. Tỉnh triển khai lẹ làng, nhà nhà có thùng rác hai ngăn. Mỗi gia đình tự  phân loại rác tái chế và rác vứt đi. Rồi đem ra thùng rác công cộng to đùng được đặt khắp hang cùng ngõ hẻm. Chúng  cũng có hai ngăn, ngăn rác vứt đi và ngăn rác tái chế. Các xe chở rác sẽ đem về nơi qui định, người ta đỡ mất công phân loại, rác vứt đi thì huỷ, rác tái chế được đưa về nhà máy. Công trình hoàn hảo như mơ.


            Mủm Mĩm cười he he he, nói thế này thì đất nước mình chẳng mấy chốc mà sạch sẽ thơm tho, bọn đế quốc sài lang nhìn vào chỉ có mà lác mắt.


 Ngu Ngơ và Mũm Mĩm tung tăng đi khắp xóm, cùng làng, say sưa ngây ngất, nói ôi chưa có bao giờ sạch như hôm nay…


             Xe chở rác đến, nó đổ cả rác tái chế với rác vứt vào thùng xe rồi chạy đi. Ngơ trợn mắt, nói lạ quá lạ quá, công khó dân ngồi nhà phân loại rác, tốn tiền mua thùng rác hai ngăn từ góc bếp nhà, ra ngõ tới đầu đường, đến xe chở rác thì đổ dập cục cả hai lại một là thế nào.


            Hoá ra tất tần tật đều hai ngăn trừ xe chở rác, hu hu. Ngu Ngơ mồm méo mắt  trợn, nói cái sự đồng bộ trời ơi đất hỡi! Chợt Mũm Mĩm reo lên, nói xe chở rác hai ngăn đến đó kìa! Anh đừng có mà suy diễn linh tinh.


A, xe chở rác hai ngăn tỉnh mới mua về.! Hoan hô! Sau nửa năm dân kêu thán rằng bắt dân phân loại thành công cốc, tỉnh cũng đã thấu hiểu lòng dân, mua liền mấy chục chiếc xe chở rác hai ngăn. Mủm Mĩm cười he he, nói tỉnh ta sáng suốt.


 Ô kìa! Có xe chở rác hai ngăn rồi sao người ta vẫn đổ rác đập cục hai loại làm một?- Cái mặt Mũm mĩm đang tròn vo chuyển sang méo xẹo. Ờ nhỉ! Có xe chở rác hai ngăn, nhưng ai hơi sức đâu đi đổ rác ngăn nào ra ngăn đó. Người ta đổ rác cho là may rồi, còn bắt người ta phân loại! Một xe chở rác, một ông lái xe, một cần cẩu, cứ thế bê thùng lên đổ vào xe, chẳng cần biết ngăn nào ra ngăn nào.


            Mũm Mĩm thở ra, nói mất công, tốn tiền tỉ  sang tận nước Tây mua xe chở rác hai ngăn, về tỉnh lại đổ lộn bậy, có xót của mất công không hả trời.


Mẹ Ngu Ngơ nghe vậy thì ngáp mấy ngáp, nói thế là may lắm rồi, tụi bay còn kêu chi? Chúng mày không ra tỉnh lị, huyện lị mà coi hàng trăm thùng rác công cộng không có ai chở, để lâu ngày thối inh lên khắp phố khắp phường.


Ngu Ngơ, Mũm Mĩm  ngơ ngác nhìn nhau, nói ua chầu chầu lạ quá lạ


 quá. Mẹ Ngu Ngơ ngao ngán thở dài, nói  dự án tổ chức quốc tế cho tiền mua thùng rác, mua xe chở rác đầy đủ cả. Nhưng quốc tế không cho người sang đổ rác, không cho lái xe đi lái xe. Thành ra rác từ nhà ra đường rồi nằm yên chờ hết tháng này sang tháng khác.


Ngu Ngơ kêu to, nói trời ơi chỉ mấy ông lái xe, mấy công nhân phục


vụ mà không lo được sao. Mẹ Ngu Ngơ nhả miếng trầu, từ tốn vuốt mép, nói dời sông lấp núi tỉnh còn lo được, đồ mấy ông lái xe, mấy người đổ rác là cái gì đâu. Có điều tỉnh không cần lo.


            Ngu Ngơ, Mủm Mĩm nhìn nhau, nói sao tỉnh lại không lo. Mẹ Ngu ngơ ho ho khạc khạc, nói tỉnh cần những dự án mua sắm, phết phẩy xong rồi thì tỉnh không cần gì hết, chẳng cần ai hết. Dân kệ dân, quốc tế mặc kệ quốc tế.


Ngu Ngơ kêu to, nói trời ơi rác ơi là rác. Mũm Mĩm vội vàng bịt


 miệng Ngơ, nói bé mồm thôi, không người ta lại bảo mình nói xấu cấp trên thì khốn đó Ngơ ơi! Ngu ngơ nói phải phải, vội vàng phồng má trơn mồm kêu to, nói ôi trời ơi đồng thuận ơi đồng thuận.


                                                           

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2009

A Simple Idea to Improve Flash Photography

This is something that has been bouncing around in my mind for the last six months. It's simple, yet could improve the flash photos of every pro (and serious amateur) shooter.

The beauty is, it even could be done retroactively for pro and prosumer cameras already in circulation via a simple firmware upgrade. And it could help Nikon flash shooters, whether they use SBs, ABs, Profotos or whatever.

How to integrate white balance and flash, inside.
__________


So, Here's the Idea

Both Nikon and Canon (and Sony, Pentax, Olympus, Holga and Lomo, for all I know) do a very good job of manual white balance, based on the ambient environment. If you are shooting available light, you just shoot a white (or grey) card and set a new white balance to match your mystery ambient light. That'll get you pretty darn close.

But with flash you 're screwed if the weird ambient is not daylight, incandescent or "30CC green" fluorescent. Because whatever weird white balance you shift to is gonna leave your flash out in the cold. Or the warm. Or the too cyan-ish magenta. (You get the picture.)

It shouldn't have to be that way. Since the camera can balance in just about any color of light, it knows the exact difference between white light and your ambient environment. Wouldn't that be a handy little piece of info to have at your disposal?

It would be a simple, in-camera calculation to convert that offset into a color-correction (CC) filter pack. Then the light coming from your flash would be color-matched to the weird, ambient environment. Now, your camera's white balance corrects for everything. And Rosco already makes that gel pack. (It's about $45 for enough material to last you forever with speedlights.)

Imagine walking into a mystery-vapor high school gym, doing a quick white balance and being able to gel the strobes to exactly match the ambient color. I'd be all over that. And this would be especially sweet, now that fluorescent light color temperatures have all gone to hell in a handbasket. Adding 30CCs of magenta doesn't correct for jack anymore.

So, Nikon -- you already have the ambient offset color information available in the camera, and it works great. How about you just give us a downstream menu option to know how to CC gel our flashes so we can match the ambient without buying an expensive flash color meter?

I dunno what we would have to do to get this noticed by anyone at Nikon Japan (plus-sized strip-o-gram, maybe?) But if you are onboard for the idea, please leave a comment, tweet it, blog it -- whatever.

Maybe we'll get their attention somehow.