Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Tết của người bạn mù

Thằng Tý ở làng Đông với mình. Nó bị mù hai mắt, mù bẩm sinh, mắt nó toàn lòng trắng như hai quả trứng chim cút. Năm 1966 nhà mình từ Ba Đồn sơ tán lên làng Đông thì mẹ nó cũng đem nó về làng. Không rõ mẹ nó ở đâu về, chỉ thấy một mẹ một con, nhà ở ven đường cuối làng, cạnh cây cừa cực to.


 Nó suốt ngày ngồi ở gốc cây cừa trước nhà thổi sáo. Thổi rền rĩ bài này sang bài khác, đến khi kiệt sức thì nó ngủ. Nó ngồi tựa gốc cây cừa cứ thế ngủ. Nó ngủ không nhắm mắt, đôi mắt trăng nhỡn của nó mở to trông ra cánh đồng. Tuồng như nó không đi đâu, cứ ngồi thế, ăn ngủ ở đấy luôn, mạ nó van lạy thế nào nó cũng chịu vào nhà, trừ khi mưa gió.


Mình qua lại rất nhiều lần, vẫn biết nó là thằng Tý nhưng chưa khi nào chào nó. Một hôm mình đi qua, thấy nó thổi sáo hay quá bèn đứng lại nghe, chỉ đứng im sau lưng nó, không hề lên tiếng. Nó ngừng thổi, nói Lập à, ngồi xuống đây chơi. Mình quá ngạc nhiên, chẳng những nó biết có người sau lưng, còn biết người đó là ai. Mà mình cũng chỉ mới tới làng chừng một tháng, đã quen biết gì nhau đâu, chả hiểu vì sao nó nhận ra hơi hướng của mình, quá tài. Mình ngồi xuống, nói răng mi biết tau, tài rứa. Nó cười hiền lành, thò trong túi lấy củ khoai bẻ đôi đưa cho mình một nửa, nói ăn đi, ngon lắm.


Từ đó thân nhau, mình chơi đâu cũng đem nó đi theo. Đánh du kích, mình  luôn cùng phe với nó, chẳng khi nào thua. Nó biết đứa nào đang núp đâu, làm gì, dù có bí mật đằng giời nó cũng nhận ra, thành thử trăm trận trăm thắng, he he.


Thằng Tý câu cá kì tài, không thấy phao động cựa, chỉ cần “ nghe” cần câu rung là nó biết cá đang cắn câu hay đang rỉa mồi, mỗi lần nó giật cần câu, trăm phát như một đều có cá. Cũng chả cần động tới cá, chỉ cần “ nghe” cần câu rung nặng nhẹ là nó biết cá gì mắc câu. Lâu lâu nó giật một phát, reo to a a a cá rô… a a a cá diếc… a a a cá tràu ( cá lóc). Mình ngồi câu cùng nó cả buổi may lắm chỉ được đôi con, nó thì cá đầy oi ( giỏ đựng cá). Có hôm thấy nó giật được lắm cá mà mình chẳng được con nào, mình ngồi lặng nước mắt giân giấn. Thế mà nó biết mình khóc, liền thả cần câu đi lại ôm lấy mình, nói tau với mi câu chung mà, cá  của tau cũng là cá của mi. Mình nói không phải rứa, chỉ tại cá không cắn câu thì buồn thôi. Nó nói buồn chi hè, trời không cho tau mắt thì  cho tau cá, rứa thôi.


Nhưng nó buồn nhiều hơn mình. Nhiều khi đang hò hét tưng bừng nó bỗng khựng lại, lặng thinh, hai mắt toàn lòng trắng của nó sũng nước. Một hôm mình với nó đang ngồi câu cá trên bờ mương, một đàn cò trắng mấy trăm con không biết từ đâu sà xuống đậu trắng bờ mương bên kia. Mình reo lên, nói a cò trắng cò trắng. Nó cũng reo lên, nói a cò trắng cò trắng. Rồi nó hỏi cò trắng ra răng. Mình nói cò trắng là cò trắng chơ răng. Nói nói nhưng mà màu trắng ra rằng. Mình nói như cát trắng, như giấy trắng đó mi không biết à. Nó  nhăn răng cười, chợt nó im lặng, bật khóc. Mình đứng ngẩn ngơ không biết nói với nó sao. Nó bỗng gạt nước mắt nhảy lên reo hò, chạy đi chạy lại reo hò như người cuồng, nói a tau biết rồi, cò trắng giấy trắng cát trắng… a tau biết rồi, cò trắng giấy trắng cát trắng. Rồi nó rơi sấp xuống bờ mương nằm chết giấc, rất lâu sau nó lật ngửa người lẩm bẩm, nói tau biết trắng là răng rồi, cò trắng cát trắng giấy trắng. Mặt nó đầm đìa nước mắt.


Nhiều hôm máy bay bỏ bom, ai nấy bỏ chạy tan tác, nó mặc kệ,  cứ ngồi yên một chỗ. Vừa hết bom mình chui ra khỏi hầm đã nghe tiếng sáo của nó rồi. Một lần vừa dứt bom mình chạy đến chỗ nó, nói mi không vô hầm à. Nó ngồi im, sau nó thở hắt, nói răng bom thả nhiều rứa mà tao không chết hè. Mình trợn mắt lên, nói mi thích chết à, điên à. Nó nhăn răng cười, lặng lẽ cầm tay mình, nói ừ, chết mần chi, tau chết mạ tau buồn lắm.


Nhớ nhất là những ngày tết. Năm nào cũng thế, cứ chiều ba mươi mình cầm tay nó chạy từ đầu làng đến cuối làng. Nhà nào cũng dừng lại trước ngõ thi nhau ngửi ngửi, nói a nhà ni nấu xôi… a nhà ni kho cá… a nhà ni chiên thịt gà. Nhà ông cu Hối chiều ba mươi nào cũng làm thịt chó giải xui. Mùi thịt chó nấu với riềng sả thơm nức, hai đứa thi nhau ngửi, vừa ngửi vừa nuốt nước bọt ừng ực, nói ngon hè ngon hè. Mình nói nhà mi có chi, nó nói có xôi. Mình nói có chi nữa, nó nói có thịt lợn luộc. Mình nói có chi nữa, nó nghĩ mãi không ra, nhăn răng cười, nói rứa thôi. Những khi như thế đôi mắt đầy lòng trắng của nó lại ướt sũng nước.


Ngày mồng một tết là ngày thắng Tý vui nhất. Bà con qua lại ai cũng  cho tiền mừng tuổi nó, ít thì năm xu nhiều thì hai hào. Nó ngồi giữa nhà lần từng xu từng hào, mân mê không biết chán, nói năm xu nha… một hào nha… hai hào nha… a sắp được ba đồng rồi. Nó ngửi áo mới, nói áo tao đẹp không. Mình nói đẹp. Nó nói áo mi đẹp không. Mình nói đẹp. Nó nói áo mạ tao đẹp không. Mình nói đẹp. Nó cười hì hì, nói  mi nói láo, mạ tao không có áo mới. Mình nói răng mi biết. Nó nói tao biết mùi áo mới. Rồi nó nhăn răng cười, nói nhưng tao nỏ biết đẹp là răng.  Cứ  mỗi lần nhớ đến câu này của nó là mình ứa nước mắt.


Hơn ba chục năm sau, tết năm ngoái mình lại về làng Đông. Làng xóm bây giờ không còn như xưa nữa, hình như nó teo lại bé tí, trống hoác và xơ xác. Vẫn có nhiều nhà giàu lên, nhà cửa to cao nghễu nghện nhưng vẫn không giấu được vẻ tiều tuỵ của ngôi làng. Cánh đồng trước làng bạc phếch, rừng trâm bầu sau làng biến mất tăm, chỉ còn trơ lại đôi ba gốc cây còi cọc. Đường vào làng không một bóng cây, cây cừa trước nhà thằng Tý ai đã chặt đi mất, cả cái đìa cá nhà nó cũng khô rang, toen hoẻn như hố trâu đằm.


Thằng Tý đã già, người nhỏ quắt lại, tóc bạc trắng để dài xoả kín lưng. Nó vẫn ngồi nơi gốc cây cừa ngày xưa thổi sáo, đôi mắt trắng nhỡn của nó vẫn mở to nhìn ra cánh đồng. Mình rón rén đi đến đứng sau lưng nó. Lúc đầu mải thổi sáo nó không biết, sau, nó đột nhiên dừng lại quờ tay rờ hai chân mình, nói Lập phải không.. Lập phải không… a thằng Lập, cha  tổ mi.


 Mình ôm lấy nó, nói tau đây, mi răng rồi, tóc bạc trắng cả rồi nì. Nó nhăn răng cười, nói ừ, tau biết rồi, cò trắng giấy trắng cát trắng, giờ thì tóc trắng. Nó nói xong câu đó thì im lặng, đôi mắt đầy lòng trắng của nó ướt sũng nước. Rất lâu sau nó mới cất tiếng, nói tau vẫn chưa chết, mạ tau chết lâu rồi mà tau vẫn chưa chết…


 

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

Cầu đã bắc qua sông

Tôi nhớ năm 1969, Bế Kiến Quốc có bài thơ Những dòng sông rất hay, hơn bốn chục năm rồi tôi vẫn nhớ: “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng/ tất cả trả lời sinh bên một dòng sông/…Chẳng phải rộng xa một tầm cò vỗ cánh/Cũng xinh xinh vài sải chèo quẫy mạnh/Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng/ Mỗi con người gắn bó một dòng sông”.


Tôi cũng vậy, cũng sinh ra bên một dòng sông, dòng sông “rộng xa một tầm cò vẫy cánh”, ấy là sông Gianh.


 Từ thủa bé thơ cho đến lúc khôn lớn, không chiều nào tôi không đến với sông Gianh. Còn bé thì bơi lội, ngụp lặn thi nhau bắt cua cá. Lớn lên một chút tôi thường đứng trên bờ đê Thị trấn quê tôi nhìn sang bờ bên kia, cố tìm xem đâu là nhà của Lưu Trọng Lư, đâu là nhà của Nguyễn Hàm Ninh, cả nhà bác Đồng Sĩ Nguyên nữa, ông là niềm tự hào của dân quê tôi, tôi cũng cố tìm xem ngôi nhà tuổi thơ của bác ấy ở đâu.


 Đến tuổi trưởng thành, khoác vai người yêu đi dọc bờ sông trong những đêm trăng sáng, vừa đi vừa hát những bài hát của Nguyên Nhung, của Trịnh Công Sơn… tôi còn biết bên kia sông, cạnh nhà chị tôi sơ tán ỏ xã Quảng Hoà là nhà của Nguyên Nhung, làng Hoà Ninh là quê mẹ của Trịnh Công Sơn. Trước đó nhà bà ở làng Vụng Nổ, giữa trảng cát phía sau thị trấn Ba Đồn, rồi cả nhà chạy giặc lên làng Hoà Ninh, cuối cùng mới vô Huế. Thế là Trịnh Công Sơn có hai dòng sông quê cùng có tên là Linh Giang. Dòng Linh Giang quê nội là sông Hương và dòng Linh Giang quê ngoại là sông Gianh. Ấy là tôi nghe ba tôi kể vậy chứ thực hư thế nào tôi không biết. Nhưng tôi tin. Bởi vì tôi nghe trong những ca khúc của anh vừa có chút gì ngọt đắng, hờn tủi của sông Hương; vừa có chút gì thoáng đãng, dữ dội của sông Gianh.


  Ba tôi nói xưa kia sông Gianh được gọi là Đại Linh Giang. Theo Đào Duy Anh, cái tên này có từ thế kỉ 3, thời Tây Tấn bên Tàu, cách đây chừng 1.700 năm. Sau này dân gọi tắt là Linh Giang trùng tên với Linh Giang ở Huế, sông Hương ngày nay, là vì vậy. Đấy là những gì kí ức bé thơ của tôi về dòng sông, cho đến quá nửa đời người kí ức ấy không hề phai nhạt, càng ngày càng thẫm đẫm trong tôi. Nhưng ấn tượng nhất có lẽ là những cây cầu bắc qua sông, tuồng như chúng nằm ngoài những giấc mơ đẹp nhất của tôi. Từ thủa bé thơ cho đến tuổi về già, chưa khi nào tôi dám nghĩ sẽ có một ngày cầu được bắc qua Sông Gianh.


Từ bao đời nay người sông Gianh chỉ khát một cây cầu, khát khao cháy bỏng nhưng ít ai dám mơ tới. Sông Gianh sâu và rộng, mùa nước lũ vô cùng dữ dằn, làm sao có thể mơ đến một cây cầu? 1700 năm nay, kể từ khi người sông Gianh có mặt, qua sông vẫn chỉ những con đò, đến mùa nước lũ thì những con đò cũng vắng. Ngay bến phà Gianh nối đường Quốc lộ 1, những con phà cũng phải cắm sào neo bến không dám qua. Xe và người nối dài hàng cây số hai bờ sông chờ nước rặc luôn xảy ra ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác, đời này sang đời khác. Rất nhiều  khi tôi đã đến bên này sông, chỉ cần 10 phút xe hơi là về quê mà phải ăn chực nằm chờ trắng ngày thâu đêm.


 Đôi khi tôi ngồi buồn thiu bên trên bờ đê nhìn dòng sông cuồn cuộn chảy, nghĩ bụng dòng sông như tính khí người sông Gianh, khi hiền như đất khi giận dữ như nước lũ; nghĩ bụng có lẽ hơn trăm năm ( 1627-1775) chúa Trịnh không thu phục được chúa Nguyễn cũng vì sông  Gianh rộng quá, sâu quá, dữ dội quá chăng; nghĩ bụng không biết bằng cách nào Quang Trung đưa được đàn voi trận qua sông  kịp ra thành Thăng Long đại phá quân Thanh năm Kỉ Dậu (1779). Tất cả đều có thể, nhưng chiếc cầu bắc qua sông thì không thể, không chỉ có tôi nghĩ thế, mấy vạn dân hai bờ sông  có lẽ cũng nghĩ như tôi.


Chẳng ngờ một ngày đẹp trời cuối thế kỉ 20, cầu đã bắc qua sông, chấm dứt cơn khát 1700 năm của những người dân quê tôi, quả thực còn hơn một giấc mơ. Bây giờ không chỉ một cây cầu mà có đến 8 cây cầu, ngoài cầu chính nốí đường quốc lộ 1, gọi là cầu Gianh, còn có bảy cây cầu nữa, đó là cầu Đá Nện, cầu Cà Tang, cầu Chợ Gát, cầu Yên Tố, cầu Sảo Phong, cầu Châu Hoá và cầu Quảng Hải rải dọc dòng sông*. Những chiếc cầu đã chấm dứt những chuyến đò ngang bấp bênh, hiểm nghèo. Vụ đắm đò Quảng Hải 43 người chết tết năm kia có lẽ là kỉ niệm buồn đau cuối cùng của dòng sông quê tôi vì thiếu những cây cầu.


Tết năm ngoái tôi về quê, khi đến cầu Gianh tôi đã xuống xe đi bộ qua cầu. Tôi biết cây cầu dài 764,4 m nhưng tôi thích bước và đếm, như ngày xưa Nguyễn Tuân đã từng bước và đếm khi qua cầu  Hiền Lương. Tôi kéo rê những bước chân già nua ốm yếu của mình bước và đếm, loạng choạng và nghiêng ngả bước và đếm, xiêu vẹo và đau nhói bước và đếm… cả thảy 1711 bước!


Bước cuối cùng tôi ôm lấy cây cột đầu cầu thở dốc, rưng rưng trong niềm hân hoan khôn tả: 1700 bước! 1700 năm qua người sông Gianh dù đã trải biết bao khổ đau và cay cực thì giờ đây đã có những cây cầu. Nghĩ thế mà khóc. Mấy đứa trẻ tròn xoe nhìn tôi, chúng không hiểu vì sao tôi khóc. Làm sao chúng hiểu được, bởi vì khi đó tôi đang gọi thầm ba mạ tôi nơi chín suối, nói ba ơi mạ ơi, cầu đã bắc qua sông!


Hà Nội, một ngày cuối đông 2010


....................


*Khi bài này vừa post lên được một tiếng thì tui nhận được tin nhắn của Mục Đồng: " Bọ ơi! QB vừa mới khởi công xây cầu Văn Hoá trên Sông Gianh ". Rứa là có cả thảy 9 cây câu bắc qua Sông Gianh.

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Mới, mới hơn nữa!

Trong một bài báo của mình, bà Nguyễn Thế Thanh đã chỉ ra bốn điểm mới mẻ của Đại hội Đảng XI, ấy là việc bầu trực tiếp Tổng bí thư hay không được đem ra thảo luận công khai,  số dư rất cao đối với cả hai danh sách bầu uỷ viên Trung ương chính thức (UVTW) và uỷ viên Trung ương dự khuyết (UVDK), đại hội đã tranh luận công khai và quyết liệt về sở hữu TLSX, cuối cùng là những lời tâm huyết, thẳng thắn và trung thực đã được vang lên trong Đại hội. Có lẽ ít ai không đồng tình với nhận định trên, bởi vì nó là những điểm sáng rõ nhất trong kì Đại hội này.


            Cho dù việc bầu trực tiếp tổng bí thư chưa được thực thi, các đại biểu được đề cử tại Đại hội được trúng cử còn quá ít và một số quyết sách lớn cho tương lai hảy còn để ngỏ… thì tất cả những gì đã nghe, đã nhìn thấy cũng đủ cho chúng ta tin Đảng ta đã tỏ rõ quyết tâm đổi mới, thực bụng muốn lắng nghe tâm ý của dân. Ai cũng biết cái mới không bao giờ có ngay sau câu thần chú, nó là kết quả của sự phấn đấu gian khổ trường kì, vì thế mỗi bước đi mới mẻ trong tiến trình dân chủ nhằm “đưa dân chủ lên ngang tầm thời đại” của Đảng đều được nhân dân phấn khởi ghi nhận và tin tưởng.


            Dân đã phấn khởi khi thấy Quốc hội không ngừng đổi mới, không ngừng cố gắng dân chủ, công khai và minh bạch. Việc đại biểu Nguyễn Minh Thuyết và một số đại biểu chất vấn một cách thẳng thắn và quyết liệt về trách nhiệm của các bộ trưởng và thủ tướng, cũng như việc thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lồi chất vấn thẳng thắn, không né tránh bất kì vấn đề gì, kể cả những vấn đề được coi là nhạy cảm…trong kì họp thứ 8 Quốc hội khóa XII vừa rồi đã cho thấy dân chủ nghị trường không còn xa lạ với chúng ta. Tại Đại hội Đảng XI, tuy chất vấn hãy còn ít và e dè nhưng việc thảo luận công khai và cởi mở một số vấn đề lớn của Đảng, của Đất nước, kể cả những vấn đề lâu nay bị coi là huý kị làm cho dân càng phấn khởi hơn, cho thấy dân chủ không còn là thứ ngôn ngữ an ủi nhau, nó thực sự có mặt trong đời sống của dân, trong sinh hoạt của Đảng.


            Tuy nhiên để có một nền dân chủ ngang tầm thời đại, chúng ta cần phải mới nhiều hơn nữa. Những quan niệm cũ kĩ, lạc hậu, thậm chí ấu trĩ về sở hữu TLSX, về những đặc trưng của CNXH cần phải rũ bỏ. Phản biện phải được tôn trọng, được nuôi dưỡng và bảo vệ, sao cho nó thực sự có sức sống, bởi vì chính nó là một phần không thể thiếu của cái mới, của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Quan trọng nhất là tiếng nói của dân, bao gồm cả tâm trạng lẫn ý nguyện, phải được thực sự lắng nghe một cách trân trọng và cầu thị.


 Khi nói về thành công của Đại hội, tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các cơ quan báo chí, khi đã đưa tin kịp thời, phản ánh được tâm trạng, nguyện vọng của nhân dân, giúp gắn kết giữa Đảng, xã hội và nhân dân. Điều Tổng bí thư nói không chỉ đúng cho sự thành công của Đại hội, ở bất kì lĩnh vực nào nếu tâm trạng, nguyện vọng của dân được công khai kịp thời trên báo chí và được Đảng chăm chú lắng nghe, đều nhất định thu được thành công, ngược lại thì không, đó là một sự thật. Cũng tại Đại hội, ông Đỗ Hoài Nam đã nói : “Đảng phải làm cho dân xem Đảng là của mình, là mình. Dân phải tin thì mới như thế được. Không có niềm tin máu thịt ấy của dân thì có thể mất Đảng, mất chế độ.” Đó cũng là một sự thật.

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

3.Yêu và ăn- Ác giả ác báo.

Thừa nhận hồi trẻ mình được nhiều con gái thích. Tính mình vui vẻ, hay nói cười đùa cợt chọc ghẹo, lại thêm tí tài văn nghệ văn gừng nên được   các nàng hay để ý. Thời đó đều đói nghèo như nhau cả, giàu nghèo chỉ phân biệt áo rách hay áo lành, đủ bữa hay đứt bữa vậy thôi. Hơn nữa đang còn con nít cũng ít đứa quan tâm đến chuyện giàu nghèo. Thời phổ thông, hot boy là đẹp trai học giỏi. Lên đến đại học mới bổ sung vào tiêu chuẩn hot boy là đẹp trai học giỏi con nhà giàu. Nói chung chẳng cần nhà giàu, cũng chả cần học giỏi, chỉ cần đẹp trai là thành hot boy.


            Một buổi tối hồi học lớp 10, thằng Hiển đạp xe đến tận nhà trọ của mình, mặt mày quan trọng gọi mình ra, nói tao nghe mấy em bình bầu, khối 10 đẹp trai nhất là thằng Ngô Phi Hải, thứ nhì là mày. Mình sướng rêm. Từ bé đến lúc đó chưa bao giờ nghĩ là mình đẹp trai, cũng chưa có ai khen mình đẹp trai. Thấy con gái hay cảm tình thì cũng chỉ nghĩ chắc chúng nó muốn làm thân để hỏi bài, thế thôi. Lần đầu nghe thằng Hiển thông báo mới biết chẳng những mình đẹp trai mà còn đẹp trai thứ nhì, sướng muốn chết, cả đêm lâng lâng lăn qua lăn lại không ngủ được, vừa bảnh mắt đã nhảy ra cái chum nước soi mặt ngay, thấy cái mặt mình sao mà đẹp thế không biết. He he.


            Bây giờ mới để ý đến vì sao con gái thích mình. Thời học trò thì chỉ ý đến nhau, thích nhau chứ chả yêu đương gì đâu, thế cũng  sướng củ tỉ rồi. Một hôm mình ngồi nói chuyện ăn với bọn con trai, nói mình thích nhất món cơm rượu ( chả biết món này nơi khác gọi là gì, chỉ biết đó là món cơm nguội ủ men rượu, ăn ngòn ngọt cay cay chua chua rất ngon, quê mình gọi là cơm rượu). Sáng sau có ba nàng trong lớp gọi mình ra riêng, nàng nào cũng dúi cho mình một gói cơm rượu. Hôm đó mình được bữa no cơm rượu còn ba nàng thì cãi nhau, vì nàng này thấy nàng kia lén cho mình cơm rượu, các nàng hằm hè nhau suốt học kì, hi hi.


            Trường cấp 3  Bắc Quảng Trạch hồi đó khoá nào cũng có nhiều nàng rất xinh, khóa mình có nàng Th. xinh nổi tiếng. Các chú bộ đội hồi đó kháo nhau, nói về Quảng  Bình mà không thấy con Th. coi như chưa về Quảng Bình. Nàng Th. học lớp 10 E, mình cũng không để ý lắm, đánh đu với mấy nàng lớp 10B cũng đủ mệt rồi, chả thiết tha gì đến nàng. Hơn nữa thấy  nàng  nào mới nứt mắt đã phong nhũ phì đồn thì chê là xấu, không thích. Nhưng nàng Th. lại để ý đến mình, chào cờ sáng thứ hai nào hễ tập trung toàn trường là nàng cũng cố tình va vào mình, va xong thì kêu ui, lườm cái cười cái, nói vô duyên chưa tề, rồi ngoảy đít bỏ chạy. Bây giờ nhớ lại mới biết như thế là người ta thích mình nhưng hồi đó chả biết gì, cũng chả quan tâm.


 Thằng Hiển khôn sớm, tí tuổi đầu đã biết làm đỏm, thấy con gái đẹp là mê tít, nó rỉ tai mình, nói con Th. nó thích mày đấy. Mình chả tin, té ra thật, nàng tìm đến nhà trọ của mình xin ở trọ, quá ngạc nhiên. Mình ở trọ với thằng Trung, thấy con gái đến ở chung mừng lắm, đỡ phải nấu cơm rửa bát giặt áo quần. Nhưng nàng Th. chỉ rửa bát giặt áo quần cho mình thôi, không bao giờ làm việc đó với thằng Trung. Khi nàng nấu cơm bao giờ cũng gọi thằng Trung sai vặt. Thằng Trung tức điên, nói răng mi không sai thằng Lập, toàn sai tau? Hi hi nó còn rủ thằng Khoa núp chuồng lợn rình xem mình với nàng có làm gì không. Khổ, làm gì, biết gì mà làm, cầm cái tay cũng chẳng dám còn bảo làm gì.


Khổ thân gái đẹp, nàng Th. chẳng học hành gì được, suốt ngày lo trốn bộ đội với các thầy đến cưa cẩm. Mình và thằng Trung thích lắm, vì bao giờ các đồng chí tán gái đến chơi cũng có quà khi thì bánh ngọt khi thì hoa quả. Nàng không bao giờ đụng đến mấy thứ đó, chỉ béo mình với thằng Trung, chỉ cần chờ các đồng chí ra về là hai thằng tranh nhau ăn no. Có hôm đói bụng, hai thằng nằm gác chân lên nhau thở vào thở ra, nói răng bữa ni không có đồng chí mô đến thăm em Th. rứa hè. Nàng Th. nghe thế thì chạy xộc đến mắt trợn tay chỉ, nói này, đừng có điên nha đừng có điên nha. Hai thằng cười, trêu nàng. Điên tiết nàng vác đòn gánh đuổi hai thằng chạy chí chết.


 Th. vốn hiền lành nhu mì, chỉ vì người ta đến cưa cẩm đông quá đâm kiêu, coi đàn ông như rác, mấy thầy hay cưa nàng cũng coi như rác.Trong trường có thầy M. dạy toán mới ra trường thích nàng lắm, đến thăm nàng luôn luôn. Cứ khi nào thầy M. đến chơi là nàng trốn. Một hôm nàng quên cái nón ở lớp, thầy M. cầm nón đến nhà, trong nón đầy ổi chín với khế ngọt. Thằng Trung mừng húm lăng xăng chạy ra đỡ lấy nón, thầy không cho, nói chúng mày bảo cái Th. ra lấy nón. Mình chạy vào buồng năn nỉ với nàng, nói mãi rồi nàng cũng ra, nàng vừa đỡ lấy nón, vừa cảm ơn thầy, chợt thấy cái thư thầy lót dưới mấy quả ổi, điên lên nó hắt cả nón ra sân, bỏ chạy. Thầy M. cũng giận bỏ về. Hai thằng thi nhau lúi húi nhặt ổi khế vương vãi, vừa nhặt vừa ăn nhuồm nhoàm, đã đời. Lại còn bóc cái thư ra đọc, ngâm nga như ca cải lương, ôi Th. ơi… thầy thương em nắm nắm… em là tất cả của ơ ơ ơ… thầy… ầy! Nàng Th. lại vác đòn gánh đuổi hai thằng chạy chí chết, hi hi.


Thầy M. vẫn kiên trì tán tỉnh nàng Th. Một hôm thầy nhờ mình đưa cái thư cho nàng. Mình cầm về đưa cho nàng. Nàng giật cái thư ném đi, nhìn mình cái nhìn dỗi hờn, nói ngu lắm. Mình nói răng ngu. Nàng vừa đấm ngực mình vừa nói ngu ngu ngu ngu. Rồi nàng ôm cây cau đứng khóc. Mình chẳng hiểu gì, cứ đứng trương mắt nhìn, hi hi ngu thế không biết, nhiều khi nhớ đến chuyện đó cứ tiếc rẻ mãi.


Vào đến Bách Khoa thì hết ngu, lại được mấy anh Hà Nội bồi dưỡng “ Nâng cao nghiệp vụ tán gái”, mình đánh đu với các em xinh đẹp không biết mệt mỏi. Không biết thời này thế nào chứ thời đó trai Bách Khoa rất được ưa chuộng. Đã trai Bách Khoa lại Khoa vô tuyến điện thì hết chê, càng được ưa chuộng, hầu như đánh đâu thắng đó. Gái Bách Khoa được có một nhúm, ở chưa hết gác 1 nhà B3, “quỉ Bác Khoa ma Tổng Hợp” mình chẳng màng, cứ xông thẳng đến trường Y trường Sư Phạm, hai nơi đó nguồn gái đẹp vô biên. Mình đã có một em dấm sẵn rồi, gọi là nàng Sơn Tây, nàng bán căntin ở trường Sĩ quan phòng không, nhưng hễ thấy gái đẹp là lập tức mắt sáng lên hình viên đạn, kiên quyết tiêu diệt đến cùng, hi hi. Cứ chiều thứ 7 mình nhảy xe ca lên Sơn Tây, cơm no bò cưỡi đến chiều chủ nhật mò về. Mỗi lần ra về nàng Sơn Tây đều gói cho bốn tút thuốc Tam Đảo, về đến Hà Nội là mình bán liền, chấp nhận hút thuốc lá cuộn, dành tiền cho “ công cuộc tán gái  đi đến thắng lợi cuối cùng”.


Xe đạp mượn thằng Đông, dép nhựa Tiền Phong mượn anh Thu, thiếu tiền thì nhảy sang khoa Kĩ sư kinh tế mượn thằng Viết. Thằng Viết này hay lắm. Con trai đa phần chỉ ghét con gái hồi cấp 2, sang đến cấp 3 thì mê tít, nó lên tận đại học rồi vẫn còn ghét con gái. Mình đi chơi với thằng Viết, thấy em nào đẹp là mình tay chỉ miệng nói em này ngon cực, em kia ngon cực. Lần nào cũng vậy, mặt nó hất lên, nói vô nghĩa. Đến năm cuối đại học rồi mà gặp gái đẹp mặt nó vẫn hất lên, nói vô nghĩa. Hi hi.


Hồi đó tán gái chỉ một bài, gặp gái đẹp là làm thơ đọc thơ tặng thơ. Phòng nữ sinh viên có đến mười hai cô, mình mặt trơ cứ sà vào chỗ nàng mình ưa đọc thơ liên tù tì hết bài này sang bài khác, mặc kệ các cô khác. Có cô mải học bài, nghe mình đọc thơ khó chịu lắm, mình cũng mặc. Hi hi thế mới gọi là nhất đẹp trai nhì chai mặt. Thỉnh thoảng có bài đăng báo thì làm như vô tình để lộ ra cho nàng biết, nàng tròn xoe mắt nhìn mình, vô cùng ngưỡng mộ, he he. Mấy bài thơ vừa dở vừa sến đó thôi mà thu hoạch cũng kha khá, đi tàu xe hễ ngồi gần gái đẹp là mình đều dở cái bài tán thơ ra, nghĩ lại xấu hổ chết được, sao hồi đó hâm thế không biết.


Cô nàng Sơn Tây của mình bắt được quả tang mình đang ôm gái đẹp mấy lần, lần nào mình cũng năn nỉ nói dối như hát hay, khất khổ mãi rồi cũng qua. Nhưng rồi mưa dầm thấm đất, cuộc tình 6 năm của mình rồi cũng tan. Vào lúc mình ra trường, háo hức chuẩn bị cưới nàng, quyết định cắt hết đuôi hết vệ tinh để làm một “chàng trai chân chính” với nàng thì nàng bỏ mình theo một ông Phun thuốc sâu ( Phó tiến sĩ) ở Hung về. Nhớ mãi cái đêm mình đứng chờ nàng ở cổng trường đến 11h đêm thì thấy nàng đang ngồi sau xe ông Phun thuốc sâu, hai tay nàng ôm chặt eo ông, xong om!


Bạn bè ai biết chuyện cũng tìm đến chia sẻ động viên, chỉ có anh Đạt là không. Anh nhấc điếu cày rít một hơi, ngửa cổ nhả khói, cười khờ khờ khờ, nói đáng kiếp cái thân mày, ác giả ác báo.


 Hi hi.


 

Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2011

ÁI...TIỀN MẶT!

[caption id="attachment_9295" align="alignleft" width="300" caption="Công nhân xếp hàng chờ rút tiền từ ATM. Ảnh ĐV"][/caption]

Tết nhất đến nơi, Mũm Mĩm Ngu Ngơ tất bật từ sáng đến tối. Việc cơ quan họp hành tít mù, hết tổng kết lại phát động thi đua, tiền thưởng chẳng thấy đâu toàn thấy họp là họp. Mũm Mĩm gọi điện cho Ngu Ngơ, nói anh ơi có người về quê, mau gom tiền gửi về cho ông bà nội tiêu Tết.


 


Ngu Ngơ nói ok ok, nhưng mà anh đang họp, em ra cột ATM rút giùm anh được không. Mũm Mĩm nhăn nhó nói thẻ ATM của em là để dành đi chợ, có đâu nhiều để gửi cho ông bà. Ngu Ngơ nói ok ok, để họp xong anh đi rút.


Đến chiều Mũm Mĩm lại gọi điện cho Ngu Ngơ, nói anh đã rút tiền chưa. Ngu Ngơ thì thào nói anh vẫn đang họp. Mũm Mĩm không tin, nghĩ bụng có khi ông Ngơ này lại bù khú ở đâu rồi cũng nên. Xưa nay đàn ông nhậu nhẹt đều bốc phét với vợ là họp, ai còn lạ gì.


Mũm Mĩm phóng một mạch đến cơ quan Ngơ. Té ra Ngơ đang họp thật, trời đất ơi họp gì mà họp kinh thế không biết. Mũm Mĩm chân dậm đầu lắc, nói anh phải trốn họp ra rút, nhỡ cột tiền không có tiền còn chạy vào ngân hàng mà rút, chứ quá bốn giờ ngân hàng đóng cửa giao dịch thì toi.


Ngu Ngơ nói em đừng có lo. Ngân hàng biết là gần Tết người rút tiền đông gấp ba gấp bốn lần ngày thường nên đã tăng số tiền bỏ cột lên ba bốn lần. Mũm Mĩm nói anh đừng có mà tin tầm vơ, bao nhiêu người rút tiền chả được đang đứng méo mặt ngoài kia kìa.


Ngu Ngơ nói em hay chưa, ngân hàng người ta lên báo hứa với dân ầm ầm, đảm bảo Tết này rút tiền thông suốt, không như năm ngoái nữa đâu. Mũm Mĩm vừa lườm vừa nguýt, nói kệ anh đấy, không có tiền gửi về cho ông bà nội là anh chết với em. Ngu Ngơ cười hì hì, nói ok ok yên tâm yên tâm.


Chiều tối xong họp, Ngu Ngơ Mũm Mĩm vội vàng chạy ra cột, vừa đút thẻ vào màn hình hiện lên dòng chữ: Ngân quỹ chưa tiếp tiền! Ngu Ngơ trợn mắt há mồm, nói giờ này còn chưa tiếp tiền thì bao giờ mới tiếp tiền đây hả trời. Mũm Mĩm đẩy lưng Ngu Ngơ, nói còn đứng đó mà thắc mắc, mau chạy sang cột khác. Ngu Ngơ ba chân bốn cẳng chạy sang cột khác. Vừa tới nơi đã thấy một đống người đứng ngồi trước cột, màn hình lại hiện ra dòng chữ Ngân quỹ chưa tiếp tiền.


Ôi thôi, tiền hết chẳng có ai tiếp tiền. Không có người tiếp tiền hay ngân hàng không muốn tiếp tiền đây? Tiền mình gửi vào ngân hàng sao rút ra khó khăn thế không biết, giống y chang gửi tiền tiết kiệm thời bao cấp. Nhục thế không biết. Mũm Mĩm đập lưng Ngu Ngơ, nói anh nói ai nghe, nói cho cái cột nghe à. Mau chạy sang cột khác.


Ngu Ngơ, Mũm Mĩm lại chạy vù vù. Cột này sorry... Hệ thống tạm dừng hoạt động vì đang trong thời gian bảo dưỡng. Cột kia sorry... Giao dịch không thành công.


Ngu Ngơ gầm lên, nói tiền không có thì nói thẳng đi cho xong, lại còn bày trò sorry giao dịch không thành công với sorry hệ thống đang bảo dưỡng. Mấy ông ngân hàng lo bảo dưỡng cái thân họ thôi, có lo bão dưỡng cho ai đâu. Khốn nạn. Mũm Mĩm mếu máo nhìn Ngu Ngơ, nói anh biết ATM là gì không, là ái… tiền mặt! Dân gửi tiền vào thì nhanh lắm, đến ngày Tết nhất cần tiền muốn rút tiền mặt ra thì nó kêu sorry sorry, ÁI... TIỀN MẶT… không có!


Ngân hàng ôi là ngân hàng ôi! Hu hu

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

Lương thiện trong khoa học

Trước khi bà con đọc bài báo nói về sự thiếu lương thiện trong khoa học thì mời bà con xem xét tin dưới đây để xét xem đây có là kiểu làm báo chụp giật, cẩu thả, xào xáo lại của nhau và dẫn nguồn vô tội vạ- Một cách thiếu lương thiện trong nghề báo. Tin dưới đây là do ông Nguyễn Tôn Hiệt đưa, ông khẳng định báo Pháp Luật Việt Nam đưa bài “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất châu Á”,


do Phượng Lê viết “theo báo Firmenpress” [sic]. Kì thực không có tờ nhật báo Firmenpress, đó chỉ là tờ nhật báo bịa.


Đó chỉ là một trang web tên là firmenpresse.de do công ty LayerMedia Inc. làm chủ. Công ty này có văn phòng tại Burgstr. 2, Filderstadt, BW 70794, GERMANY." Ông Nguyễn Tôn Hiệt khẳng định như vậy.  Ông Nguyễn Tôn Hiệt cũng chỉ ra rằng firmenpresse.de là một trang chuyên đăng các bài “press release” tự quảng cáo tiếp thị (PR) trong mọi lĩnh vực, từ thương mại, nghệ thuật, công nghệ, cho đến chính trị, do các khách hàng tự viết gửi đến.



Trang này còn hướng dẫn cho khách hàng thực hiện các Mẹo và Xảo thuật (Tipps und Tricks) để viết các bài tự quảng cáo tiếp thị có hiệu quả! Bà con bấm vào đây để xem toàn bộ bài viết của ông Nguyễn Tôn Hiệt. Đề nghị báo Pháp luật Việt Nam, VnEpress và các báo dẫn lại tin của hai tờ báo này cần xem xét kĩ lưỡng nghiêm túc bài viết của ông Nguyễn Tôn Hiệt, nếu thấy đúng, mà chắc là đúng, thì cần điều chỉnh kịp thời để tránh làm tổn thương và mất uy tín đối với đồng chí Nguyễn Tấn Dũng!


Sau đây mời bà con đọc bài báo của tui


Lương thiện trong khoa học


Lại có thêm thông tin về đạo văn trong khoa học, ấy là việc một báo cáo khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thế Dũng, giảng viên trường ĐH Sư phạm Huế được công bố từ năm 2004, vừa rồi đã bị một giảng viên ĐH Giao thông vận tải Hà Nội cóp nguyên xi và đăng trên tạp chí khoa học của trường này. Thực ra trường hợp này không còn là đạo văn mà là chiếm đoạt công trình khoa học, một hành vi bất lương và phạm pháp trong nghiên cứu khoa học.


Không rõ đây là trường hợp thứ bao nhiêu các nhà khoa học nước nhà chôm chĩa công trình của nhau? Ở ta không có một thống kê chu đáo nào về đại nạn này như ở Trung Quốc. Một khảo sát gần đây của Trung Quốc cho thấy, có 2.000 nhà khoa học của 6 viện nghiên cứu hàng đầu đã đạo văn hoặc giả mạo số liệu nghiên cứu. Còn nghiên cứu do Hiệp hội Khoa học và công nghệ nước này thực hiện với 32.000 người thì kết quả: 55% người được hỏi nói rằng mình biết người phạm tội lừa đảo học thuật. ( theoVNN). Nước ta tình trạng tương tự chắc chắn cũng không kém.


 Gần đây thôi, theo Tạp chí Tia sáng, năm 2000 hai tác giả nguyên là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật và một tác giả người Nhật công bố một báo cáo khoa học trong hội nghị về ứng dụng tối ưu hóa tại Nga. Đến năm 2004 bài báo đó được xuất hiện trong một hội nghị cũng về ứng dụng tối ưu hóa tại Nhật với 10 tác giả từ Việt Nam! “Điều khó tin là 99% câu chữ, 100% các số liệu, thậm chí hình con tàu Shioji Maru trong bài báo năm 2004 lấy nguyên vẹn từ bài báo năm 2000”. Cũng vậy, Sự kiện ban biên tập tạp chí Euro Physics Letters (một tạp chí vật lý hàng đầu của châu Âu) thông báo rút một bài của nhóm tác giả Việt Nam  “do đạo văn quá nhiều”. Thật đáng buồn và đáng xấu hổ.


Không nơi nào đòi hỏi sự trung thực và tính lương thiện cao như trong nghiên cứu khoa học, bởi vì nếu các nghiên cứu khoa học lại là kết quả của gian dối, của ăn cắp và tước đoạt thì cuộc sống sẽ ra sao khi đem ứng dụng cái gọi là “nghiên cứu khoa học” ấy.  Nghiên cứu khoa học không phải để thỏa mãn ý muốn của cấp trên, càng không phải là mục đích để thoả mãn sự háo danh. Mục đích tối thượng của nó là để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển xã hội. Các trò đạo chích, nịnh bợ và chiếm đoạt trong khoa học chẳng những làm hoen ố thanh danh các nhà khoa học mà còn làm cho cuộc sống đình trệ và rối loạn. Phải ý thức tầm mức quan trọng của tính lương thiện trong khoa học như vậy để kịp thời ra tay ngan chặn. Bàng quan, thơ ơ hay bỏ qua thực trạng trên là có tội với cuộc sống, khác nào tiếp tay cho sự bất lương.


             Nhà dột từ nóc, điều đó giải thích vì sao học trò của các ông thầy đạo chích kia đã coi các hành vi sao chép, chôm chĩa các công trình khoa học là chuyện bình thường, chuyện đương nhiên. Thậm chí họ không cần làm các tiểu luận, các luận văn mà bỏ tiền ra mua. Những mẩu quảng cáo, rao vặt viết thuê luận văn, tiểu luận... tràn lan trên các trang mạng không còn làm ai xúc động. Thầy của họ còn ăn cắp, còn chiếm đoạt công trình khoa học của đồng nghiệp thì tại sao bắt họ phải học thật, làm thật, nghiên cứu thật.


 Buồn thay, đáng lo thay, xấu hổ thay.

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

2. Ăn và yêu- Cơm Bách Khoa

Nghĩ lại ngày xưa đi học đại học sướng hơn bây giờ. Con cái vào được đại học, bố mẹ chỉ lo giấy bút và tiền tiêu vặt thôi, còn lại Nhà nước lo tất. Mấy đứa con em miền Nam tập kết còn được học bổng mỗi tháng 22 đồng, dân Quảng Bình- Vĩnh Linh tụi mình cũng được 4 đồng một tháng. Vì thế mà con nhà nghèo rớt mồng tơi như mình mới được học hành tử tế. Đặt hoàn cảnh của mình rơi vào ngay nay thì tốt nghiệp phổ thông xong là chấm hết, chẳng mơ chi đại học với đại heo, tiền đâu mà đi học?


 Tiêu chuẩn sinh viên các trường Đại học đều như nhau nhưng không hiểu vì sao sinh viên Bách Khoa ăn ở vẫn tốt hơn, có lẽ công tác quản lý ở trường này tốt hơn. Sinh viên các trường khác nhìn vào trường Bách Khoa đều lác mắt. Khu giảng đường do Liên Xô xây dựng rất hoành tráng, bốn nhà ăn Bách Khoa thuộc loại sạch đẹp nhất Bộ đại học. Sinh viên Bách Khoa được ăn ngày ba bữa. Buổi sáng được phát một cái bánh mì ngọt, hai bữa trưa chiều chỉ việc xách miệng đi ăn, không phải mang theo bát đũa gì. Đến nhà ăn cứ bốn thằng một mâm, chìa phiếu ra lấy cơm ăn, ăn xong cứ thả mâm bát đấy ra về, mọi việc có nhân viên nhà ăn lo hết. Giống y chang sinh viên Liên Xô hi hi.


 Mình đã đi chơi các trường khác rồi, chỉ có trường Kinh Tế là kha khá một chút, còn lại đều rất tệ, tệ nhất là trường Xây Dựng, sinh viên kêu la rầm trời. Trường Sư Phạm khu nội trú còn ở nhà lá, có năm chập điện cháy trụi cả khu nội trú. Trường Tổng Hợp bị nạn thiếu nước trầm trọng, các vòi nước ở các khu nội trú chảy như nước đái thằn lằn, rất khổ. Vì thế nên các anh chị ở các trường khác khi làm tốt nghiệp thường sang cư trú ở Bách Khoa để có chỗ ăn ở tốt hơn, thư viện, phòng thí nghiệm cũng tốt hơn.


 Các chị phục vụ nhà ăn Bách Khoa đối đãi với sinh viên rất vui vẻ, thân thiện, ngược hẳn với các đồng chí mậu dịch viên ở các cửa hàng ăn uống Nhà nước. Các đồng chí mậu dịch viên này thì kinh lắm, cứ làm như khách hàng đến ăn không của nhà họ, mặt mày ai nấy như đâm lê, đố thấy có nụ cười trên môi họ. Bảo đảm khi họ mỉm cười với khách hàng thì trời sập cái đoàng ngay tức khắc, thật đấy.


Bất kì khi nào mình đến cửa hàng ăn uống mậu dịch mình cũng gặp một điều khó chịu, chuyện khách hàng cãi nhau với nhân viên xảy ra như cơm bữa, trong khi suốt 5 năm Bách Khoa mình chưa gặp bất kì một điều khó chịu nào, cũng chưa khi nào thấy sinh viên cãi cọ với nhân viên hay nhân viên quát nạt sinh viên. Thực là như vậy. Cũng có thể có mà mình không biết, riêng mình thấy nhân viên nhà ăn Bách Khoa thật tuyệt vời. Rất nhiều lần mình đến nhà ăn muộn, vào lúc nhà ăn đã dọn dẹp chùi rửa, vẫn được ăn uống như thường. Chỉ cần cửa chưa đóng, nếu lọt vào được thế nào cũng được ăn. Lúc đầu các chị nói hết giờ lâu rồi em ơi, nhưng mình vờ nhăn nhó gãi đầu bứt tai nói vì thế này vì thế kia thì rốt cuộc các chị đều cho ăn cả, đôi khi còn được một mình ăn trọn cả mâm bốn người. Mình nhớ một lần mình đi ăn muộn, nhà ăn hết sạch cơm canh, mình ra về thì chị M. cầm cái bánh mì kẹp thịt lật đật chạy đuổi theo dúi vào tay mình, nói thôi ăn tạm, lần sau đừng có đi muộn quá nha em. Thật cảm động, chị có quen biết thân thiết gì mình đâu. Thế mà có thằng còn viết trên bảng tin nhà ăn một dòng to đùng: Đề nghị đuổi chị M. ra khỏi nhà ăn số 4 vì xấu quá. Khổ thân, nghe nói chị M. khóc suốt một tuần.


 Bữa cơm Bách Khoa hồi đó chẳng có gì, mỗi bữa chỉ được hai bát cơm một nửa cái bánh mì, một hai miếng thịt hoặc đậu phụ và vài ba muỗng canh, thế thôi. Chỉ có điều sạch sẽ và ngon chứ không như các trường khác, cơm khi khê khi cháy, canh khi mặn khi nhạt, dở òm. Cũng lạ cái thời cả nước phải ăn độn sắn ngô khoai bo bo thì sinh viên Bách Khoa vẫn được ăn cơm không độn. Mình không biết có trường nào phải ăn độn không chứ Bách Khoa thì hoàn toàn không. Thời kì đau khổ nhất là người ta thay hai ổ bánh mì nưóng bằng hai nắm bánh mì hấp, chứ không hề độn khoai sắn hay bo bo như dân ăn gạo đong cả nước. Chỉ vậy thôi mà sinh viên Bách Khoa đã kêu ca như cha chết, có đứa còn làm Văn tế mì ổ rất vui.: Nhớ linh xưa… mì ổ nóng dòn, thịt kho đậu phụ, canh cá mè nấu chua ngon thật là ngon… lâu ngày quá không nhớ nữa.


Mình ở quê quanh năm ăn đói, bữa cơm Bách Khoa đối với mình như thế là no đủ lắm rồi. Nhưng nhiều đứa khoẻ ăn thì đói lắm. Ngồi cùng mâm với mấy thằng khoẻ ăn, ăn tham được coi như một đại hoạ. Thấy nó xới cơm mới kinh, xới lên môi nào là dặt dặt nén nén môi đó, cố ních cho chặt bát cơm, một bát cơm của nó bằng hai bát người khác. Đã thế nó còn ăn nhanh kinh hoàng, mình vừa ăn dăm ba miếng nó đã lùa sạch bát cơm. Lại xới bát khác, lại dặt dặt nén nén… sợ kinh.


 Tụi mình gọi mấy đứa ăn khoẻ ăn tham này là bè lũ Đế quốc thực dân, gặp một lần là khiếp đến già, chẳng bao giờ dám ngồi chung mâm với chúng nó. Gặp khi nó gọi góp phiếu ăn chung mâm đều tìm cách chối, nói cậu ăn trước đi, mình còn chờ mấy đứa bạn. Nói rồi lặn mất tăm, không để nó cầm tay kéo vào. Mình đã làm Hịch chọn bạn cùng mâm đọc oang oang giữa nhà ăn: Hỡi đồng bào! Giờ ăn muộn có thể  kéo dài năm phút mười phút hoặc lâu hơn nữa. Nhà ăn số 1, nhà ăn số 2 và một số nhà ăn khác có thể bị đóng cửa. Nhưng nhân dân ta quyết không sợ, quyết không chịu làm nô lệ cho  bè lũ Đế quốc thực dân, dù chết cũng không chung mâm đụng đũa với chúng. He he.


Nhớ Cơm Bách Khoa thì trăm thằng nhớ đến việc sửa phiếu ăn cả trăm, chẳng đứa nào quên, vì tuồng như đứa nào cũng ít nhất một lần làm việc này.  Phiếu ăn in ronéo, đóng dấu đỏ, trong đó đề bữa ăn ngày ăn. Sửa  chữ khó, dễ lộ, chỉ sửa ngày ăn là dễ nhất. Đứa nào làm mất phiếu ăn hoặc có bạn đến chơi muốn mời nó đi ăn đều phải lấy phiếu cũ hoặc phiếu ăn ngày sau sửa lại  cho đúng ngày đó. Chỉ cần lấy lưỡi lam cạo con số đi rồi lấy mực nho hoặc bút chì kĩ thuật viết đè lên thế là xong. Mấy đứa khoa Chế tạo Máy, khoa Đông Lực sửa phiếu ăn kì tài. Chúng nó đa phần khéo tay, lại vẽ kĩ thuật thường xuyên nên làm mấy cái trò này dễ như trở bàn tay. Chẳng những sửa số, chữ nghĩa trên đó nếu cần chúng nó cũng làm bay. Mình vốn tay chân hậu đậu, khi nào cần sửa phiếu ăn đều phải chạy sang nhờ thằng Nghĩa khoa Chế Tạo Máy hay thằng Đức khoa Đông Lực nhờ chúng nó sửa cho.


Có phiếu ăn sửa rồi nhưng phải khéo đưa mới lọt được, vì các chị nhà ăn đã quá quen cái trò tháu cáy này của sinh viên, rất khó lọt qua mắt các chị. Chỉ cần thấm nước vào số ngày, nếu chữ số bị nhoè là biết ngay phiếu dỏm. Thường khi phát hiện ra phiếu dỏm các chị cũng chẳng mắng mỏ gì, chỉ lườm cái rồi trả lại phiếu. Muốn đưa phiếu dỏm trót lọt phải chọn khi đông người, lại đặt cái phiếu dỏm thứ 3 trong bốn phiếu, hoặc đưa một lúc ba bốn mâm ( từ 12- 16 phiếu), các chị lo kiểm số phiếu không để ý. Lại chọn thằng đẹp trai, chưa có “ tiền án tiền sự”, vừa đưa phiếu vừa tán lia xia, nói giời ơi chị mới làm tóc à, xinh thế, trẻ ra bao nhiêu- Chị ơi chị có em gái không cho em ở rể- Bữa nay trông mắt chị long lanh dễ sợ, vừa được yêu phải không…. Đại loại thế, làm cho các chị mất tập trung, hoặc thấy phiếu dỏm cũng lờ đi cho. Trường hợp các chị phát hiện ra phiếu dỏm, dúi phiếu trở lại thì nhăn nhó gãi đầu bứt tai, nói chị ơi thương em đi, bữa nay em có khách, em biết chị thương em mà. Các chị cười cái lườm cái, nói cậu này mồm miệng ghê lắm, chỉ lần này thôi nha. Lập tức cười toe toét, nói ôi cảm ơn chị quá, em yêu chị vô cùng. Hi hi thế là xuôi chèo mát mái.


 


Cơm Bách Khoa rất nổi tiếng trong giới sinh viên Hà Nội, bạn bè  đến chơi nếu mời đi ăn là chúng nó đi liền. Mình có vài thằng bạn ở các trường khác chiều thứ bảy nào cũng đến “thăm” mình để kiếm bữa cơm Bách Khoa, thành thử thứ bảy nào mình cũng phải lo một vài ba phiếu dỏm. Cho chúng nó ăn uống no nê, chẳng được khen lại còn bị ghen tị, nói è he, tao mà được ăn cơm Bách Khoa thì tao học giỏi bằng mười mày. He he có lý.