Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2010

Khi luật rừng tấn công luật pháp

Ngày nay không ai còn lạ lùng gì một lực lượng phá rừng hùng hậu đang ngang nhiên sống dưới những cánh rừng có tên là lâm tặc. Chỉ cần gõ google hai chữ lâm tặc, trong  0,21 giây sẽ cho ta 3.380.000 kết quả, còn tìm đọc những bài báo ta sẽ thấy hàng trăm cái tít ghê rợn được giật như Lâm tặc tấn công lâm trường, Lâm tặc bắn chết kiểm lâm, Lâm tặc dằn mặt lâm nghiệpđủ biết sức mạnh và mối hiểm nguy của lực lượng này. Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm tính đến tháng 7 năm nay đã có 15000 vụ vi phạm lâm luật, xử lý 577 vụ chiếm 3% số vụ vi phạm, 97% còn lại vẫn nằm ngoài tầm tay với của pháp luật, đấy là chưa tính đến kết quả xử lý 577 vụ kia như thế nào.  


30 năm trước đây, vào thập kỉ 80 thế kỉ trước, chúng ta đã nghe  những tuyên bố hùng hồn rằng Cần phải chặn đứng, Cần phải xử lý nghiêm minh, Cần phải nghiêm trị… đến bây giờ những tuyên bố ấy vẫn vang lên trong khi những cánh rừng bị đốn, bị đốt, bị cướp bị phá… cùng với các động vật hoang dã, quí hiếm bị bắn giết, bị săn bắt đã diễn ra không một lúc nào ngừng trên khắp đất nước ta. Không chỉ là những cánh rừng xa vắng khó kiểm soát mà ngay cả những khu rừng được ghi là rừng cấm với một lực lượng bảo vệ hùng hậu, những cánh rừng nằm sát ngay khu kiểm lâm, thuộc lâm trường quản lý, cả những vườn quốc gia là những khu rừng nằm dưới tầm bảo vệ của an ninh quốc gia cũng không thoát khỏi nạn lâm tặc hoành hành.


Gần đây nhất lâm tặc đã tấn công khu Vườn quốc gia YokĐôn (Đăk Lăk) và vườn Vườn Quốc gia Bù Gia Mập ( Bình Phước). Ở Vườn quốc gia YokĐôn lực lượng kiểm lâm đã bắn cảnh cáo nhưng nhóm lâm tặc vẫn xông vào sử dụng mã tấu, dao uy hiếp nhằm vận chuyển gỗ tẩu thoát. Còn ở Vườn Quốc gia Bù Gia Mập  dù cảnh sát điều tra đã vào cuộc, lâm tặc vẫn ngang nhiên tổ chức khống chế cán bộ kiểm lâm để cướp gỗ. Cán bộ kiểm lâm đã không dám đi trên tuyến đường đi qua xã Quảng Trực, nơi mà lâm tặc vấn tấn công.


 Cũng 30 năm trước, vào thập kỉ 80 thế kỉ trước, giải thích cho việc lâm tặc ngang nhiên tấn công kiểm lâm, buộc kiểm lâm phải nhường đường nhường rừng cho chúng, cục trưởng cục phó Cục kiểm lâm đã than thở lực lượng kiểm lâm mỏng quá, đời sống anh em quá khó khăn. Thì bây giờ ta lại nghe cục phó cục trưởng Cục than thở đúng y xì như vậy, rằng lực lượng kiểm lâm mỏng quá, đời sống anh em quá khó khăn. Một thực trạng không quá khó để giải quyết lại tồn động 30 năm, thật đáng sợ. Đáng sợ hơn là trong cái lực lượng quá mỏng ấy lại có một bộ phận không nhỏ đang giàu có cự vạn, chẳng hiểu nhờ lộc rừng hay lộc của lâm tặc.


Kiểm lâm nhường đường  nhường rừng cho lâm tặc cũng có nghĩa là luật pháp đã nhường chỗ cho luật rừng. Ở  nơi đâu luật pháp bất lực thì nơi đó luật rừng lên ngôi. Câu chuyện 50 lâm tặc tấn công trạm bảo vệ rừng số 3 xã Trường Xuân huyện Đắc Song ( Đăk Nông) đập phá nhà trạm, đánh bị thương 9 nhân viên và phá nát 50. 000 cây giống ngày 28/7 vừa qua đủ thấy sự bất lực đến tuyệt vọng của những người hành pháp ở nơi đây. Nếu biết khi công an địa phương đến nơi đưa 2 nhân viên kiểm lâm đi cấp cứu, lâm tặc còn ra điều kiện phải quỳ xuống lạy chúng mới tha, thì xin đừng ai hỏi luật pháp đâu rồi. Bởi vì đó là câu hỏi bẽ bàng và đắng ngắt.


 

 

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

Bà bán nước chè cổng Viện văn

Post cho một mụ nạ dòng mới lên ngôi



[caption id="attachment_6355" align="alignleft" width="300" caption="Minh hoạ của Đỗ Đức"][/caption]

 

Ở Hà Nội mình có một người bạn, bạn vong niên, không liên quan gì đến chữ nghĩa, đó là bà Thiêm bán nước ở cổng Viện văn học.


 


Năm 1996 mình ra Hà Nội mua nhà xin việc, ở nhà thằng Nguyên ( Phạm Xuân Nguyên) 3, 4 tháng. Khu tập thể của nó ở ngay trong khuôn viên Viện, ngày nào cũng giống ngày nào, mình có nửa ngày trong nhà thằng Nguyên, nửa ngày ngồi quán bà Thiêm. Mình nghiện chè thuốc, tính thích ngồi vỉa hè, ăn uống nhậu nhét gì cũng thế, cứ thích lê lết vỉa hè, nhà hàng nhà heo cực chẳng đã mới vào thôi chứ không thích.


Mấy hôm đầu cứ sáng bảnh mắt mình đã ra ngồi quán bà Thiêm, khi thì ngồi một mình, khi thì ngồi với bạn bè, uống xong trả tiền rồi về, cũng chẳng để ý đến bà. Bà cũng chẳng nói năng gì, gọi nhân trần thì đưa nhân trần, gọi trà đá thì đưa trà đá, cả chục ngày hai bà cháu không nói năng câu nào. Một hôm bà bảo anh Nập xin được việc chưa, nói chuyện một lúc thì hoá ra bà biết mình quá rõ. Từ đó bà cháu thân thiết lắm.


Bà vốn là cán bộ Viện văn từ thờì Đặng Thai Mai, hình như là cán bộ hành chính, về hưu chồng con không có, bà ở lại khu tập thể Viện, mở quán nước chè ngay cổng Viện. Năm giờ sáng bà dậy, lọc cọc lạch cạch nấu nước pha chè, xách phích nước lón thón chạy ra quán, lại lón thón chạy vào xách cái xô, lón thón chạy vào xách cái ấm,  bê cái ghế, bưng cái thau... cứ từng thứ một như thế, đến 6, 7 giờ sáng mới mở quán.


Bà cứ lúi húi một mình, tưởng chẳng ai quan tâm đến bà, bà cũng chẳng quan tâm đến ai, hoá ra bà biết cả. Muốn hỏi ai trong Viện ở nhà hay đến viện, đi họp hay ốm đau, cứ hỏi bà Thiêm còn chắc ăn hơn hỏi trưởng phòng hành chính. Có lần Phong Lê, hồi này ông làm viện trưởng, tất bật chạy ra, hỏi bà Thiêm bà Thiêm, thằng Nguyên chạy đâu? Bà nói nó họp ở ban hiện đại, Phong Lê nói chết, quên quên, lại tất bật chạy vào. Ông này làm gì cũng tất bật, chắc ngủ với vợ cũng cà rập cà tàng.


Thằng Nguyên hay ngồi uống nước với mình, cứ uống cả tháng rồi thanh toán một lần. Nhiều lần bà nhắc nó, nói mày đã nộp bản kiểm điểm chưa, mày đã đưa bài cho Tạp chí chưa… y chang bà là trưởng phòng của nó. Một hôm nó uống bia đâu về vừa ghé đít vào quán, bà nói mày không vào họp à. Thằng Nguyên nói họp gì bà, bà nói họp chi bộ, cái thằng này họp chi bộ toàn quên. Thằng Nguyên nói chết chết rồi tót vào liền. Bà nói anh Nập bạn bè với nó, bảo nó tu chỉnh đi với, cứ bạ đâu chầu đó, phiển nắm.


Xem thế thì biết bà nắm cán bộ viện còn hơn cả viện trưởng. Dạo này anh Thưởng ( Phan Trọng Thưởng, viện trưởng) còn tuyển mấy em tre trẻ, chứ ngày xưa rặt nạ dòng, chán ốm. Hoa hậu viện sử, kì nữ viện văn/ có chết nhăn răng cũng đừng cưa cẩm. Mặc kệ, mình cũng cố soi, kiếm em giải sầu. Mình thì thà thì thầm với bà, miệng nói tay chỉ , nói bà bà cô kia thế nào. Bà lườm cái rồi nói có rồi đó. Mình hiểu không phải có chồng mà có bồ rồi. Mình lại hỏi bà bà cô kia duyệt được không, bà lại lườm, nói đừng, chồng nó ghen nắm. Bà kể nó đi chơi hội Nim về, chồng nó bắt cởi quần ra kiểm tra xi nip xem có dính gì không. Mình quá ngạc nhiên, những chuyện như thế, cả Viện không ai biết, sao bà biết được nhỉ?


Thấy mình hay nói ba lăng nhăng, bà nói anh Nập đừng nói ninh tinh, cấp trên nghe được phiền nắm. Mình nói cấp trên nào ở đây mà nghe bà, bà nói sao không, ông Phong Nê đi đái chỉ chửi bậy một câu mà thấu tận tai trên, sắp kỉ nuật rồi. Mình hỏi có can chi không bà, bà gật đầu, chép miệng nói tội Phong Nê, mới nàm có vài năm bị thay niền. Bà ngồi thở hắt, nói tôi nói rồi, đã nhà quê thì đừng đổi mới đổi méo, khổ nắm. Mình hỏi ai thay Phong Lê, bà? Bà chậc lưỡi cái, nói Hà Minh Đức chứ ai. Vài tháng sau trúng y chang, phục bà quá đi mất.


Anh Hà Minh Đức về được ít hôm, thấy mình ngồi quán, anh cũng ghé đít vào tán chuyện đôi câu. Thấy anh Đức vào ngồi, bà cứ cúi mặt rót nước, sắp đồ, không một lần ngước lên nhìn anh, thỉnh thoảng liếc trộm tí thôi chứ không ngước lên. Lần nào gặp, anh Đức cũng nói ông Mỹ ( Nguyễn Quang Mỹ) bảo tôi giúp ông làm cái tiến sĩ. Anh Mỹ là ông anh cả mình,  suốt ngày thúc dục mình làm tiến sĩ. Cứ làm như không có cái bằng tiến sĩ thì chết bất đắc kì tử không bằng, hi hi.


Mình vỗ vai anh Đức đùa, nói anh về làm viện trưởng, phải đổi cái tên viện đi. Anh nói tên gì, mình nói Viện thiến văn, anh cười khờ khờ, khờ khờ. Mình lại vỗ đùi anh nói hay là đổi thành Trung tâm sửa chữa trung đại tu các loại văn học? Anh lại cười khờ khờ, khờ khờ, nói tôi ở khoa báo trường Nhân văn, trên bắt cóc về đây chữa cháy một thời gian thôi, biết gì đâu. Bà Thiêm nguýt trộm anh cái. Mình bóp bóp đầu gối anh Đức, nói dạo này anh có chọn sinh viên gái xinh đẹp để hướng dẫn lụân văn nữa không? Anh cươì khờ khờ, khờ khờ, nói tôi toàn mang tiếng thế thôi. Bà Thiêm lại nguýt trộm anh cái.


Anh Đức đi rồi, mình cười, nói bác Đức về chữa cháy lâu ghê, 7, 8 năm chữa cháy, kinh. Bà Thiêm hất hàm theo lườm cái, nói chữa cái gì, ai cháy mà chữa. Bà đập đập tay mình thì thẩm, nói đàn ông nùn nùn béo béo nà ham gái nắm đó. Gặp lúc anh Thưởng đi ra, mình nói anh đó cũng thấp béo đó bà, bà lườm, nói anh Nập đừng nói ninh tinh, anh Thưởng hay nắm đó


.Hễ anh Thưởng ngồi vào quán là bà Thiêm tíu tít hẳn lên, nói anh Thưởng uống gì, anh Thưởng uống trà đá nhé, anh Thưởng uống nhân trần nhé... y chang mẹ già thấy con trai ghé vào. Mình nói bà quí anh Thưởng nhỉ, bà cười, nói anh Thưởng nàm viện trưởng, tôi cũng chẳng thu nợi hơn được đồng nào, cơ mà thấy anh em có đồng vào đồng ra tôi cũng mừng. Bà nói anh Nập không biết chứ Viện này từ xưa đến nay giống chùa Bà Đanh, anh Thưởng về cái nà anh em đến thường xuyên, ông nhỏ ông to vào ra tấp nập, mừng nắm. Mình đùa, nói chị em trong viện cũng tươi tắn hẳn lên bà nhỉ, như thài lài gặp cứt chó. Bà lườm, nói anh Nập đứng nói ninh tinh.


Thằng Sơn ( Nguyễn Hữu Sơn) ra uống nước, mình nói khi nào lên  phó tổng biên tập đấy? Nó cười cái hậc, nói ông hỏi cấp trên sao lại hỏi tôi. Mình trêu nó, nói tôi đang thách cả nước có ai làm báo dở hơn tờ Tạp chí văn học, may có ông đây rồi. Nó lại cười cái hậc nói khó lắm khó lắm.


Thằng Sơn đi, bà Thiêm kéo tay mình, nói anh Nập đừng nói ninh tinh, để thằng Sơn nàm, tội, nó sắp nên phó tổng biên tập rồi. Mình hỏi thằng Điệp ( Nguyễn Đăng Điệp) có lên viện phó không bà, bà nói nên nên, mình hỏi có lên viện trưởng  không bà, bà nói nên nên. Rồi bà chép miệng, nói cơ mà ai nên tôi cũng tiếc anh Thưởng.


Mình đùa, nói bà ơi viện này là viện nghiên cứu văn học chứ đâu phải nghiên cứu tiền. Bà chép miệng, nói tui không biết đâu, cơ mà từ thời ông Đặng Thai Mai đến giờ, viện này toàn nghiên cứu đúng sai, đâu có nghiên cứu hay dở. Đúng sai thì có trên no rồi, mình no chi nắm, no tiền no bạc cho anh em nà giỏi rồi. Mình cười nói bà giỏi cực, sao không làm tiến sĩ đi, viện này chỉ có bà với thằng Nguyên là chưa tiến sĩ nữa thôi, bà cười nói anh Nập nói ninh tinh, rồi bà chép miệng, nói muốn nàm thì nàm được thôi...khó gì đâu, cơ mà bán nước chè có nợi hơn tiến sĩ.


Dạo này bà ốm yếu, vỉa hè thì bị cấm bán hàng rong nên bà nghỉ, quán nước chè dẹp luôn. Từ ngày bà nghỉ bán, Viện văn bỗng rỗng hẳn đi. Mình gặp bà,  nói đùa bà ơi bà nghỉ bán nước chè để làm tiến sĩ à, bà cười, nói người ta tiến nên cái sĩ, tôi tiến xuống âm phủ cho nó khoẻ xác.

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Xóm gái hoang

Truyện ngắn


Minh hoạ của Đỗ Đức


 1. Hồi sơ tán ở làng Đông, nhà mình ở đầu làng, từ đấy cứ đi ngược lên phía Tây Bắc, băng qua rặng trâm bầu là gặp một cái bàu sen cực rộng, rộng đến nỗi đứng bên này bờ cứ tưởng mặt trời chui lên từ bờ bên kia. Bàu sen nước đen ngòm, sen và súng mọc tràn lan, chẳng ai chăm sóc. Không mấy khi thấy hoa sen, hễ có cái hoa nào mới nở là con nít vặt liền, đài sen cũng không thấy, chỉ thấy mỗi lá không thôi. Con nít ra đây không phải hái hoa sen, chủ yếu là bắt cá lia thia. Cá lia thia ở đây rất đẹp, to, khoẻ, chọi nhau rất hay. Mình cũng hay ra đây, lọ mọ suốt ngày phục bắt cá lía thia về chọi nhau với cá tụi bạn.



Bên kia bàu là một xóm nhỏ, có mấy túp lều tranh cất tạm, núp dưới rặng trâm bầu, xưa gọi là Xóm Bàu, bây giờ ai cũng gọi là Xóm gái hoang.  Ba người đàn bà ở đấy không phải gái chửa hoang, đấy là những người đàn bà bất trị.

Người nhiều tuổi nhất là mụ Cà, năm 1967 mụ chỉ hơn bốn chục tuổi.


Mụ Cà lấy chồng lúc 16 tuổi nhưng mãi không có con, chồng mụ chán đời uống rượu say, té xuống ao, chết. Khi đó vào năm 1953, mụ mới 21 tuổi, tham gia đội du kích rất tích cực. Đội trưởng du kích khi đó là cu Miễn, rất khen ngợi mụ, họp đội du kích nói đồng chí Cà nợ nước thù nhà, chiến đấu rất hăng say.


Mụ Cà đứng lên nói bá cáo tui chỉ nợ nước thôi, không có thù nhà. Cu Miễn nói Đế quốc Pháp lừa bịp dân ta, cho uống rượu say, nhiều người chết, trong đó có chồng đồng Cà, thù nhà của đồng chí Cà là ở chỗ đó đo. Mụ Cà  tròn mắt há miệng nói oa rứa a, oa rứa a.


Cuối năm 1953 Pháp từ Ba Đồn càn lên làng Đông, dân làng bỏ chạy chỉ còn đội dân quân vẫn ở lại giữ làng. Mụ Cà mải bắn địch một hướng, không biết Pháp vào làng theo hướng khác, anh em du kích bỏ chạy cả mụ vẫn không biết, bị một thằng Pháp xông đến đè cổ mụ trên cát, hiếp.


Mụ Cà chống cự quyết liệt, liên tục hô đả đảo đế quốc Pháp, đả đảo đế quốc pháp. Thằng Pháp khoẻ hơn, đè riết không cho mụ động cựa. Mụ vẫn không sợ, miệng vẫn hô vang đả đảo đế quốc Pháp. Lúc đầu mụ còn hô to, đầy đủ cả câu đả đảo đế quốc Pháp, sau nhỏ dần hụt hơi hơi dần, đã đảo đế quốc... rồi đả đảo đế... rồi đả đảo...Cuối cùng chỉ còn mỗi đả ả ả ả...Xong om.


 Chuyện mụ Cà bị một lính Tây hiếp cả làng ai cũng biết, bàn tán xôn xao. Cu Miễn họp đội du kích phát động căm thù. Cu Miễn nói đồng chí Cà kể lại cho anh em nghe. Mụ Cà nói kể cái chi? Cu Miễn nói kể việc đồng chí bị  giặc Pháp hiếp ra răng. Mụ Cà nói thì cũng giống như lẹo chắc, nhưng đây là hiếp rứa thôi, chi mà kể. Đồng chí Cu Miễn không biết lẹo chắc à?


Cu Miễn nói đồng chí Cà nghiêm túc vào, hiếp khác với lẹo chắc. Mụ Cà nói nhưng tui không biết kể chi hết. Cu Miễn nói ví dụ giặc Pháp đè đồng chí xuống, xé áo quần đồng chí rất dã man. Mụ Cà nói đúng rồi rất dã man. Tui chống cự rất quyết liệt, vừa chống cự vừa hô đả đảo đế quốc Pháp.


Cu Miễn mừng rỡ nói rứa đo rứa đo, đồng chí kể tiếp đi. Mụ Cà nói chỉ rứa thôi, biết kể chi nữa. Cu Miễn nói lúc đầu răng, cuối cùng ra răng cứ rứa mà kể. Mụ Cà hỏi kể thiệt a? Cu Miễn nói có răng đồng chí cứ kể rứa.


Mụ Cà nói bá cáo các đồng chí lúc đầu hắn đâm một phát tui chửi rất hăng, sau hắn đâm nhiều quá, sướng rồi hết chửi. Mọi người cười, vỗ tay ầm ầm, nói ua chầu chầu hay hè hay hè. Cu Miễn tức, đập bàn chỉ tay mụ Cà quát phản động, bắt mụ ni trói lại cho tui. Mọi người ngơ ngác không hiểu sao.


 Cu Miễn nói, mụ ni hớp tác hủ hoá với giặc Pháp, rứa mà các đồng chí không hiểu còn vỗ tay hoan hô. Mất lập trường rồi các đồng chí ơi! Mụ Cà nói đồng chí Cu Miễn nói rứa oan tui. Cu Miễn đập bàn chỉ mặt mụ Cà,  nói mụ Cà kia, tui không đồng chí với mụ. Mọi người nói ua chầu chầu đồng chí cu Miễn nóng quá. Cu Miễn hô cả trung đội đứng dậy, nghiêm! Tôi quyết định đuổi mụ Cà ra khỏi trung đội dân quân. Từ nay không được ai kêu mụ Cà là đồng chí, rõ chưa. Cả trung đội đập chân ưỡn ngực hô rõ.


Đáng lẽ mụ Cà im lặng không kiện cáo gì thì mọi chuyện cũng qua. Nhưng mụ tức, mụ gặp xã đội trưởng kiện đi kiện lại, nói tui không hủ hoá, giặc Pháp hiếp tui thiệt. Xã đội trưởng nói bị giặc Pháp hiếp, đồng chí có căm thù không? Mụ Cà nói bá cáo xã đội trưởng có căm thù. Xã đội trưởng nói căm thù răng lại nói sướng? Mụ Cà nói bá cáo xã đội trưởng tui không sướng.


Cu Miễn nói mụ đừng có chối, mụ nói sướng, cả trung đội nghe rõ ràng. Mụ Cà nói tui không sướng. Cu Miễn nói mụ có nói sướng không, mụ Cà nói có. Cu Miễn nói đó, mụ công nhận rồi đó, hết kêu oan nghe. Mụ Cà nói bá cáo xã đội trưởng tui vẫn oan. Xã đội trưởng nói đồng chí Cà nói hay,vừa kêu sướng vừa kêu oan là răng? Mụ Cà nói tui căm thù giặc Pháp, nó hiếp tui, tui không sướng, tại bướm tui sướng chứ tui không sướng. Mọi người cười, vỗ tay ầm ầm, nói úa chầu chầu hay hè hay hè.


Xã đội trưởng tức, đập bàn quát, bậy bạ, dung tục, phản động! Rứa mà các đồng chí còn cười được à. Mất lập trường!Mụ Cà khóc nói báo cáo xã đội trưởng oan tui quá. Xã đội trưởng nói oan răng mà oan! Mụ Cà khóc rống lên, nói oan oan, các đồng chí toàn cu, không ai hiểu được bướm...Xã đội trưởng đập bàn quát câm mồm! Xã  không có trách nhiệm hiểu cái bướm của mụ!


Mụ Cà phủi đít quần, nói è he, ẻ vô nói với các đồng chí nữa. Rồi về. Mấy thắng sau đi đâu cũng bị làng xóm chê cười, mụ Cà nói è he, ẻ vô ở làng ni nữa, rồi bỏ ra xóm Bàu ở.


Đó là người thứ nhất ra xóm Bàu.


 


            2. Người thứ hai là chị đóc Xấu. Mặt chị đẹp như mặt Đức Mẹ, phải cái chị cao quá, gần mét tám, hồi này là có thể thi hoa hậu nhưng ngày đó thì bị người ta coi là dị dạng. Bố mẹ chị nhiều năm hục hặc cũng vì chị càng ngày càng cao, mới 13 tuổi đã cao hơn hẳn đám trai làng, nhiều người nói è he đóc Xấu con tây, không phải con Mẹt Huỳnh mô. Bố chị nghi mẹ chị lấy Tây hoặc bị tây hiếp như mụ Cà. May chị càng lớn càng có nhiều nét giống bố, nên thôi.


Chị đi đâu, tụi con trai lén đi sau lưng, nhảy nhảy lên cho cao bằng chị, rồi bịt miệng cười với nhau, chị biết, không thèm ngoái lại, mặt vênh lên vẻ bất cần. Nhưng tối về thì ra giếng ngồi bưng mặt khóc.


Có lần chị về chợ Ba Đồn, chợ phiên sáu đông nghịt, thế mà chị đi đâu ai cũng thấy, cái đầu chị vượt lên cả ngàn người, chuyển động từ đầu chợ đến cuối chợ, ai nhìn cũng tức cười.Con trai Ba Đồn chạy rật rật theo chị, trầm trồ chỉ trỏ, nói oa chà ăn chi cao rứa hè, con ni e lấy voi. Có người vẽ cái bướm dài ba gang trên cột điện, đề: Đây là l. đóc Xấu.


Hai sáu tuổi rồi chẳng ai dám mang cau trầu đến hỏi, tuổi đó bị coi là ế chồng. Bố mẹ chị lo lắng vô cùng, bữa cơm nào cũng càm ràm răng con tui ế câm ế cảy ri hè. Chị nghe nói thế thì bỏ bát ra giếng ngồi khóc.Bố mẹ chị đánh tiếng ai muốn lấy đóc Xấu tụi tui cho không, không cần cưới hỏi chi hết, nhắn nhe từ đầu làng đến cuối xóm cũng chẳng ai thèm.


 Vừa lúc chiến tranh phá hoại miền Bắc, bom rơi đạn nổ khắp nơi. Hễ có máy bay, mọi người ba chân bốn cẳng chạy vào hầm, chị đóc Xấu không chạy, ngồi bó gối giữa sân. Bố mẹ chị dục xuống hầm, chị nói để con chết  bom cho xong, nhục lắm.


            Nhà ông Quắn ở Quảng Thuận lên sơ tán, chuyên nghề đúc soong nồi từ vật liệu máy bay. Nhà này rất giàu, làng Đông hồi đó nhà nào có vài nghìn đồng, dăm mười cây vàng gọi là giàu sụ, nhà ông Quắn còn nhiều hơn thế. Họ có đứa con trai tên Hào cao 2m, trắng trẻo đẹp trai, phải cái bị ngất ngơ, hình như bị down, suốt ngày ngồi ngạch cửa nhìn ra đường, thỉnh thoảng cười hậc cái, nói hay hè. Chẳng có gì cũng cười hậc cái, nói hay hè. Dòng họ ông Quắn chỉ mình ông là con trai, đẻ ra thằng con ngất ngơ, vợ chồng ông lo lắm, sợ tiệt giống. Biết chị đóc Xấu ế chồng, họ mừng húm, mang cau trầu đến hỏi liền.


            Lúc đầu chị đóc Xấu cự nự không chịu, sau cả vợ chồng ông Quắn, cả bố mẹ chị quì lạy như tế sao, chị tắc lưỡi  nói lấy thì lấy. Đám cưới chị đóc Xấu một bò hai lợn, to nhất lịch sử làng Đông. Cu Miễn bây giờ là chủ nhịêm HTX,  làm chủ hôn, như kiểu MC bây giờ, tay gõ cọc cọc vào micro, nói alô alô trăng trên trời có khi tròn khi méo/ Xấu yêu Hào thật khéo lắm thay. Chị đóc Xấu lần đầu son phấn, mặt cúi gầm không dám nhìn ai. Anh Hào ngồi cạnh chị , ngơ ngác nhìn mọi người, cười hậc cái, nói hay hè


Cu Miễn tay gõ cọc cọc vào micro, nói a lô a lô vui duyên mới không quên nhiệm vụ/  Xấu và Hào ưu tú cả hai/ người quốc sắc kẻ thiên tài/ tình trong hợp tác thuận, mặt ngoài hai họ ưa. Ông Quắc vỗ tay đôm đốp, nói đụ mạ Cu Miễn nói hay.


Rước dâu từ sân kho hợp tác, cô dâu chú rể cao lêu đêu nổi bật giữa đám rước. Mọi người nói ua chầu chầu giống tây giống tây. Chị đóc Xấu vấp cục đá ngã quị. Anh Hào đứng trố mắt nhìn. Mọi người nói kéo vợ lên tề,  Hào tề! Anh cứ đứng ngơ, cười  hậc cái, nói hay hè.


Đêm động phòng bà Quắc kéo chị đóc Xấu ra sau hồi, nói có khi chồng con không biêt mần chi mô, con phải bày cho hắn nghe con. Chị đóc Xấu  nói bày chị mạ. Bà Quắc làm động tác, nói đầu tiền mần ri nì ri nì, sau nó chịu rồi thì ri nì ri nì, nghe chưa. Chị đóc xấu ngượng nghịu cúi mặt, nói dạ. Bà ẩn chị đóc xấu nằm xuống, ngồi lên giật giật, nói rồi ri nì ri nì, nghe chưa. Chị đóc xấu nói dạ, bà nói rồi ri nì ri nì, nghe chưa. Chị đóc xấu nói dạ. Bà Quắc  vực chị đóc Xấu ngồi dậy, vỗ vỗ lưng, nói cố lên con, đầu tiên ngượng chút thôi, sau sướng mê man luôn, khe khe khe.


Vợ chồng ông Quắc nằm phòng bên nín thở nghe động tĩnh. Bà Quắc nói không biết con mình có làm ăn chi được không. Ông Quắc nói è he lo chi hè, chó mèo còn làm được nữa là người.Trong buồng, chị đóc Xấu nằm ngửa chờ đợi, anh Hào ngồi bó gối nhìn chị lom lom, cười  hậc cái, nói hay hè. Chị đóc Xấu chờ mãi không được, bèn trật vú ra nói đây nì đây nì. Anh Hào đặt tay lên vú, cười hậc cái , nói hay hè. Chị đóc Xấu trật bướm ra nói đây nì đây nì, anh Hào đặt tay lên bướm, cười  hậc cái, nói hay hè. Cứ để nguyên tay vú tay bướm, anh Hào ngồi nhìn lom lom, cười hậc cái , nói hay hè, rồi lăn ra ngủ như chết.


Cả tháng trời sáng nào bà Quắc cũng kéo chị đóc Xấu ra sau hồi nói răng rồi răng rồi, chị đọc Xấu ứa nước mắt nói không răng cả mạ ơi. Bà Quắc lại làm động tác, nói đầu tiền mần ri nì ri nì, sau nó chịu rồi thì ri nì ri nì, rồi ri nì ri nì. Chị đóc Xấu ôm mặt khóc, nói mạ ơi cho con về nhà.


Không biết vợ chồng ông Quắc bàn bạc ra sao, tối đó ông Quắc vào buồng, vuốt lưng xoa đầu chị đóc Xấu, nói thôi, con chịu khó để ba mần ví dụ cho chồng con coi. Lập tức ông bị ăn một cái tát rụng mất cái răng cửa. Ông Quắc ôm mồm nhăn nhó, nói hay để ba thuê đứa mô mần ví dụ, ông lại ăn thêm một cái tát, rụng mất cái răng cửa nữa. Anh Hào nhin  cái mồm đầy máu của ông Quắc, cười  hậc cái, nói hay hè. Chị đóc Xấu đùng đùng xách áo quần ra về, hai vợ chồng ông Quắc qùi xuống ôm chân chị khóc nói khoan khoan, còn nước còn tát con ơi!


 Cu Miễn đến nhà ông Quắc, nói chúng tôi coi gia đình bác là người của hợp tác, cháu Hào chưa biết làm chồng thì hợp tác phải có trách nhiệm.


Ông Quắc gật gà gật gù, nói phải phải, hợp tác yêu cầu chi vợ chồng tui chấp hành liền. Cu Miễn chém tay mấy cái, nói chủ nhiệm HTX mần ví dụ nhất định đóc Xấu phải chấp hành. Ông Quắc gật gà gật gù, nói phải phải.


Tối đó Cu Miễn vào buồng chị đóc Xấu, nóí đồng chí đóc Xấu, tui được hợp tác giao nhiệm vụ mần ví dụ cho đồng chí Hào coi, đồng chí cứ coi tui như đồng chí Hào, mần như thiệt nghe không? Cu Miễn nói chưa xong đã ăn một cái tát, rụng liền hai cái răng cửa. Cu Miễn  tức, nhảy ra sân thổi còi gọi dân quân tới. Vợ chồng ông Quắc lạy lục Cu Miễn, đền một trăm đồng Cu Miễn mới chịu thôi, vụ án mần ví dụ tạm thời khép lại.


Cu Miễn nói đóc Xấu vô cớ đánh chủ nhiệm hợp tác, đuổi cổ nó ra khỏi đoàn đội. Chị đóc Xấu nói không cần đuổi mất công, tui cút khỏi làng giờ. Chị ôm anh Hào khóc, nói ôi chồng ơi chồng ơi, chó mèo còn biết làm răng chồng không biết. Anh Hào cười hậc cái , nói hay hè.


Chị đóc Xấu lạy ông bà Quắc, một mình đi thẳng ra xóm Bàu. Đó là người thứ hai trong Xóm gái hoang.


 


3.Người thứ 3 là chị Mai. Chị  hơi thấp, múp máp, da trắng ngần, đặc biệt chị hát hay ngâm thơ đều hay cả. Người thì gọi chị là Châu Loan xóm, người thì gọi Tường Vi xóm.


Họp đội, họp xóm, họp đoàn, đám cưới đám hỏi  nhất nhất phải có chị hát mới xong. Mọi người nói Châu Loan mô rồi hè? Chị đứng lên liền, nói đây đây. Người nóí ngâm bài rứa là hết đi, người nói không không ẻ vô bài nớ, ngâm bài chào sáu mốt đỉnh cao tề.


 Chị thuộc toàn thơ Tố Hữu thôi, mấy bài trong sách giáo khoa chị thuộc sạch. Hỏi nước mình có ai là nhà thơ, chị nói Trần Đăng Khoa với Tố Hữu, hỏi còn ai nữa không, chị nói từng nớ ngâm đã rã họng ra rồi, nhiều chi lắm. Đầu buổi ngâm thơ cuối buổi hát, hoặc ngược lại, khi nào cũng vậy ở đâu cũng vậy. Mọi người nói Tường vi mô rồi hè, chị đứng lên liền, nói đây đây. Người nói hát bài Noọng ơi trăm ngàn nở hoa đi, người nói dở dở  quẹt quẹt, hát nắng toả chiều nay tề. Chị  hát say sưa, miệng hát ngực rung hấp dẫn vô cùng.


Có hai người mê chị, một là anh Toả bí thư chi đoàn, hai là Cu Mèo con trai cu Miễn. Mỗi lần chị Mai hát, anh Toả nhìn miệng chị không chớp, miệng mấp máy, người đu đưa, nói hay hè hay hè; cu Mèo nhóng cổ nhìn ngực chị rung rung, thè lưỡi liếm một vòng, nói đụ mạ hát rứa mới hát chơ, lại thè lưỡi liếm một vòng, miệng thít thít.  Nhưng chị Mai ghét Cu Mèo, yêu anh Toả. Cu Mèo tức lắm, đứng dạng háng chặn đường chị Mai hỏi tui thua cu Toả cái chi? Chị nói không, bỏ đi. Cu Mèo vượt lên nói tui tên Mèo, xấu phải không? Chị nói không, lại bỏ đi.


Tối cu Mèo trèo lên cây xoan sau hồi nhà chị Mai, dóng mồm xuống cửa sổ nhà chị kêu vơ Mai nời... tui ưng Mai rồi vơ Mai! Vơ Mai nời... cu Toả không bằng bãi cứt trâu, ưng hắn mần chi. Chị Mai đóng cửa sổ, cu Mèo hát hờn căm bao lũ tham tàn... cu Toả! Rồi lại hét Mờ eo meo huyền Mai! Mờ ai mai huyền Mèo. Tôi nào cũng ầm ĩ, không cho ai ngủ ngáy gì cả.


Buổi trưa nắng nóng chị Mai gánh lúa về, cu Mèo chặn đường, dạng háng nói ưng tôi đi, mai mốt tui làm lái xe. Chị Mai đang gánh lúa, mệt, nói ẻ vô, bỏ đi. Cu Mèo lại vượt lên trước, đứng dạng háng, nói ưng tui đi, mai mốt bọ tui lên xã, tui làm chủ nhiệm. Chị Mai đánh môi cái bịp nói ẻ vô, bỏ đi. Cu Mèo vẫn không chịu, lại vượt lên, đứng dạng háng, tụt quần nói, cu tui ri nì, Mai ưng không? Chị Mai vứt gánh lúa, chồm tới túm chim cu Mèo nghiến răng vặn, nói khoe cái cố tổ mi, khoe cái cố tổ mi. Cu Mèo kêu như cha chết, nhưng đi đâu cũng khoe em Mai cầm cu tau rồi, khen cu tau đại chang,  bằng mười cu Tỏa, khe khe khe..


Tết năm 1967, làng làm hội diễn văn nghệ ở đình làng. anh Toả chị Mai hát song ca bài Trước ngày hội bắn. Chị Mai mặc váy, cầm cái ô xoay xoay e thẹn, bắp chân trần trắng muốt, liếc cái, hát ai tin anh nói... anh Toả mặc áo quần bộ đội, đội  mũ tai bèo, liếc cái, hát vì sao em nói nghe nào...Bà con nói ua chầu hầu hay hè hay hè. Cu Mèo đứng dậy nói hay cái l. mạ bay! Bà con nói ua chầu chầu cu Mèo nói bậy quá hè. Cu Mèo nói đồ xã viên biết chi! Rồi hát rống lên hờn căm bao lũ tham tàn... Mai Toả!


Mọi người nói ua châù chầu cu Mèo ỷ thế con chủ nhiệm mất trật tự quá hè. Cu Mèo nói đồ xã viên biết chi! Rồi lại hát cu cu Toả ơi, cu cu Toả ơi.. chim mi mô rồi, chim mi mô rồi... đọ tau cái coi. Bà con đòi đưa cu Mèo ra kiểm điểm, cu Miễn nói đồng chí cu Mèo nóng tính, có nói bậy nhưng xuất phát từ tấm lòng yêu thương xã viên nghèo như đồng chí Mai.  Rứa là tốt. Quan trọng là tấm lòng, không quan trọng cái lỗ mồm. Người nói tốt rứa a tốt rứa a, người không nói gì, người nói tốt rứa đo tốt rứa đo.


Anh Toả nói đồng chí Cu Miễn sai rồi, nguỵ biện bao che con cái. Cu Miễn nói chính đồng chí cu Toả mới nguỵ biện. Anh Tỏa hỏi răng, cu Miễn nói đồng chí là bí thư chi đoàn, mồm nói căm thù giặc sâu sắc, yêu Tổ quốc nồng nàn lại không chịu gương mẫu xung phong đi bộ đội. Cu Toả nói khó chi, tui đi ngay!


Ra tết anh Toả đi bộ đội, cu Miễn nói rất hoan nghênh tinh thân dám nghĩ dám làm của đồng chí cu Toả, rồì tổ chức cho làng Đông học tập tinh thần đồng chí cu Toả. Cu Miễn đề nghị chị Mai làm bí thư chi đoàn, gánh vác cho người đi xa. Chị Mai nghe nói vậy thì nhận, cu Miễn nói rứa mới thấy hậu phương yêu thương tiền tuyến chơ, khe khe khe.


Cu Mèo nói tui muốn lấy con Mai, làm răng bọ? Cu Miễn nói mồm mi thối lắm, được cái chim cu mi kiên cường, tận dụng thế mạnh đi con. Rồi nói với chị Mai đồng chí cu Mèo chậm tiến, đồng chí nên gặp riêng nhắc nhở.


Tối, chị Mai họp chi đoàn ở kho hợp tác, hết họp thì bảo cu Mèo ở lại nhắc nhở, cu Mèo đè chị ra hiếp liền. Chị Mai xấu hổ không dám nói ai, đi một mạch xuống Quảng Thanh, ngồi đợi máy bay tới thả bom thì lao vào. Chị không chết, bị một mảnh bom đâm đúng cuống họng, không nói được, nói gì cũng cứ dá da da da.


Cu Mèo nói tui cần mồm dưới, không cần mồm trên, Mai lấy tui đi. Chị Mai trợn mắt đạp vào bộ hạ cu Mèo một phát, nói dá da da da... dá da da da! Cu Miễn nói hoàn cảnh đồng chí rất khó khăn, đồng chí về làm dâu nhà tôi, chúng tôi có trách nhiệm giúp đỡ đồng chí. Chị Mai trợn mắt đập vào mồm cu Miễn một phát, nói dá da da da... dá da da da, rồi xách áo quần ra thẳng xóm gái hoang.


 


4. Xóm chỉ có 3 nhà, về sau thì có cả trăm nhà nhưng năm 1967-1968 chỉ có ba nhà thôi. Mụ Cà nói tao trưởng xóm, hai đứa bay xóm viên, khỏi bầu bán chi mệt. Chị đóc Xấu nói cho em xóm phó cho oách, con Mai nhỏ tuổi nhất làm xóm viên, đồng ý không? Chị Mai cười, nói dá da da da.


Phần vì xóm quá xa các làng, phần vì đồn đại, thêu dệt ba người đàn bà Xóm gái hoang rất ghê rợn, nhiều người sợ cấm con cái không được ra đó. Người ta đồn hễ ai ra Xóm gái hoang về thì không cháy nhà cũng mất của, chết bất đắc kì tử không chừng. Xóm không có ai vãng lai, cái xóm nhỏ ba ngôi nhà như một vương quốc riêng.


Bàu sen mênh mông cho họ đủ thứ ăn, lại còn thừa mang bán. Tôm cá ê hề, ngó sen đài sen hoa sen thu nhập cũng khá, họ còn thả rau muống dây, mỗi tuần xuống chợ gánh rau muống, gánh cá, gánh  sen, ăn uống thoả thuê còn thừa cả nghìn đồng một tháng. Chị đóc Xấu nói ua chà, răng sướng ri hè, biết rứa em bỏ hợp tác từ khi mới đẻ. Mụ Cà nói hợp tác với hợp teo, cu Miễn mưu mô cả năm không bằng tau ngâm l. bàu sen một buổi. Chị Mai cưòi nói dá da da da.. dá da da da.


Nhưng buồn. Ngày mải làm quên, tối buồn rũ ra. Buổi tối, ba ngườì ăn cơm chung, ăn xong mụ Cà buông bát nằm dài ra, nói bây chừ mần chi hè? Chị đóc Xấu cũng buông bát nằm dài ra, nói mần chi hè? Chị Mai nằm dài ra theo, nói dá da da? Mụ Cà bày rượu ra uống, một bát uống vòng, uống được ba bát thì say, như lũ cuồng đập phá lung tung. Mụ Cà nhảy lên hòn đá, dạng háng bôm bốp nói vơ đàn ông … đây nời đây nời!! Chị đóc Xấu chổng mông vỗ bem bép, nói đây nời đây nời! Chị Mai tụt quần, cầm quần khua khua chạy quanh sân, nói dá da da.... dá da da! Cả ba nằm vật ra, không ai nói với ai, thở vào thở ra, miệng chóp chép. Mụ Cà nói đàn ông ngu chi ngu lạ, chị đóc Xấu nói ừ đo, ngu chi ngu lạ! Chị Mai nói dá da da! Rồi ba chị ngồi ôm nhau khóc, khóc đến dã rượu thì ngủ lịm.


Ba chị ra chợ, thấy có người đứng ôm cái đài orionton đòi bán, họ mua ngay, 700 đồng cũng mua, về nhà tranh nhau mở. Đài phát tin chiến thắng, mụ Cà vỗ đùi đánh bốp, nói thấy chưa, tau nói đúng chưa, chết cha Mỹ Diệm chưa! Chị đóc Xấu nằm vật ngửa ra, chổng chân lên trời, nói oa làng ơi sướng! oa làng ơi sướng ! Chị Mai cười toe toét nhảy chồm lên chị đóc Xấu dập dập, nói dá da... dá da... dá da.


Nhưng nghe mãi cũng chán, quanh đi quẩn lại cũng chỉ tin chiến thắng, hết chỗ này thắng lợi đến chỗ kia thắng lợi, Mụ Cà thở ra, nói răng thắng hoài thắng huỷ rứa mà chưa thấy hoà bình chi cả hè. Chị đóc Xấu nói ừ đo... ừ đo, chị Mai nói dá da... dá da. Đài vẫn phát tin thời sự, miền Nam thắng lớn nơi này nơi kia, miền Bắc sản xuất thắng lợi nơi này nơi kia, lãnh đạo thăm hỏi nơi này nơi kia. Mụ Cà nốp ruột kêu, nói vơ đài nời, hát đi với, nói chi nói lắm.


  Nằm dài vuốt bụng chán thì vùng dậy lấy soong nồi gõ ầm ĩ, lại còn múa hát. Mụ Cà nói lối như ta đây là Lê Thị Cà, một lần tây hiếp đến già không quên, rồi gõ cái choeng! Chị đóc Xấu, chị Mai nhảy nhảy gõ gõ choeng choeng! Mụ Cà hát này này ơi chị em ơi, Chị đóc Xấu nói ơi, Chị Mai nói dá da. Mụ Cà hát lũ đế quốc vô cùng tàn ác, sức đã dai mà cặc lại to, thế nên ta phải căm thù, choeng! Chị Mai, chị đóc Xấu nhảy nhảy gõ gõ choeng choeng!


  Hát hò chán lại nằm vật ra, ba người ba góc, không ai nói với ai. Máy bay xoẹt qua, mụ Cà nhảy lên hét vơ Đế quốc Mỹ nời, răng không thả phi công, toàn thả bom, ngu rứa ác rứa. Chị đóc Xấu cũng nhảy lên,  hét ngu ngu!... ác ác! Chị  Mai nhảy chồm chồm, hét dá da... dá da!


Mơ được ước thấy, phi công nhảy xuống bàu sen thật.


 Một đêm, bộ đội dưới cảng Gianh bắn trúng máy bay, chiếc F4H cháy rùng rùng, đâm đầu xuống chân núi sau làng Trung Thuần, dân các làng sung sướng reo vang. Ba chị cùng nhảy cà tẩng, lấy soong nồi gõ ầm ĩ. Chợt nghe cái bụp phía bàu sen, ngó ra thì thấy một cái dù đỏ xoè rộng trên bàu. Ba chị sướng rêm, lội ra ngay. Hồi này dù là một chiến lợi phẩm dân chúng rất mê. Hễ có một cái dù pháo sáng, dù phi công nào rơi là từ dân chúng từ bốn phương tám hướng nhào ra, tay lăm lăm dao kéo, mạnh ai nấy xẻo. Nhiều khi tranh giành đập đánh nhau chí tử.


Ba chị cùng tay dao tay kéo lao ra. May tối hôm đó hình như mọi người mải xem máy bay cháy, không để ý, chẳng thấy có ai chạy ra, ba chị lân đầu được một cái dù trọn vẹn, lại dù đỏ, sướng ngây ngất.Cuốn xong dù thì thấy một cái đầu nhô lên, ba chị rú lên chực bỏ chạy, cái đầu nói rốp rít xốp xít, ba chị nhìn lại, hoá ra là một phi công Mỹ, họ cứ đứng trơ nhìn  nhau.


 Mụ Cà sực tỉnh chĩa dao vào thằng Mỹ, nói dơ tay lên. Thằng Mỹ nói rốp rít xốp xít. Mụ Cà dơ dao đe, nói cha tổ mi, tau nói mi dơ tay lên. Thằng Mỹ cứ đứng trơ, nói rốp rít xốp xít. Chị đóc Xấu nói Đế quốc Mỹ ngu chi ngu lạ. Chị Mai vung hai tay lên, nói dá da da, thằng Mỹ dơ hai tay lên liền. Mụ Cà, chị đóc Xấu trố mắt ngạc nhiên, nói con Mai nói chi mình không hiểu mà thằng Mỹ hiểu liền.


Mụ Cà chỉ tay vào xóm, trợn mắt với thằng Mỹ, quát dá da da da! Thằng Mỹ vội vàng đi vào xóm liền. Mụ Cà cười, nói è he, tưởng răng, tiếng Mỹ dễ òm!


 


5.Mụ Cà nói giải nó lên huyện đội ngay, chị đóc Xấu nói cho nó tắm rửa ăn uống đã chị, tội. Chị Mai gật gật đầu nói dá da. Mụ Cà dắt thằng Mỹ đến cái giếng đất rộng bằng cái nong, sâu chừng một mét, chỉ cái gàu nói dá da da, thằng Mỹ gật đầu nói rốp rít xốp xít, rồi nhảy bùm xuống giếng, có lẽ nó tưởng cái bồn tắm.


Mụ Cà tức giận nhảy chồm chồm, nói, dá da da da, ngu ngu. Thằng Mỹ nhăn răng cười nói rốp rít xốp xít. Chị đóc Xấu nói chị nói rứa nó không hiểu mô. Mụ Cà hỏi nói răng thì hiểu, chị đóc Xấu nói chị không nghe đài diễn kịch à, tụi Mỹ toàn nói không có dấu. Mụ Cà chõ mồm xuống giếng nói thang My kia may ngu qua, giêng an sao may nhay xuông tam, thằng Mỹ lại nhăn răng cười nói rốp rít xốp xít. Mụ Cà tức, nói rốp rốp cái mả cha mi, ngu chi ngu lạ.


Thằng Mỹ ăn cơm, chị đóc Xấu  nói cơm, thằng Mỹ nói cóm, chị đóc Xấu nói cơm ngon, thằng Mỹ nói cóm ngón. Chị đóc Xấu nói canh, thằng Mỹ nói cắng. Chị đóc Xấu nói canh ngon, thằng Mỹ nói cắng ngón. Mụ Cà  gật đầu khen thằng Mỹ, nói giỏi giỏi! Thằng Mỹ nói dòi dòi, mụ Cà nói dòi dòi cái  l. mạ mi, thằng Mỹ nói lón má ngón? Ba chị cườì nghiêng ngã.


 Chị đóc Xấu nói hay để nó ở đây vài buổi cho vui, mình nuôi nó như nuôi con chó béc giê, có chi mô mà. Mụ Cà nói ý con Mai răng. Chị Mai gật đầu nói dá da. Chỉ có giường chị đóc Xấu thằng Mỹ mới nằm vừa, chị để nhà cho thằng Mỹ ở, sang ngủ với mụ Cà. Nửa đêm chị đóc Xấu trằn trọc không ngủ được. Mụ Cà hỏi răng không ngủ, chị đóc Xấu nói nằm giường chị đau lưng lắm.


 Mụ Cà nói hay cho mi sang ngủ với thằng Mỹ? Chị đóc Xấu cười rúc rích, ôm lưng Mụ Cà hỏi tây hiếp chị ra răng, Mụ Cà nói sướng chơ răng. Chị đóc Xấu nói sướng răng sướng răng, kể đi kể đi. Vừa lúc chị Mai nhảy xổ vào nhà khua chân múa tay nói dá da dá da. Cả ba chạy ra thì thấy thằng Mỹ quỳ giữa sân làm dấu thánh, vừa khóc vừa nói rốp rít xốp xít.


Chị đóc Xấu nói nó cầu chúa đó, mụ Cà nói Đế quốc Mỹ cũng có chúa à, chị đóc Xấu nói có chơ, chúa che chở hết mà. Mụ Cà nói chúa thần kinh, che chở tầm bậy tầm bạ, chị Mai lắc đầu nói dá da da da. Chị đóc Xấu nói chà, còn hơn che chở cu Miễn cu Mèo.Mụ Cà nói ngó bộ tui bay thương thằng Mỹ rồi đó, lộn xộn là tau giết nghe chưa. Chị đóc Xấu nói mô có mô có, chị Mai nói dá da… dá da!  Mụ Cà nói chà còn chối, thấy thằng cao to đẹp trai, bướm đứa mô đứa nấy nhóp nhép như mang cá mè, tau lạ chi . Chị đóc Xấu nói mô có mô có, chị Mai nói dá da…dá da


Sáng mai ba chị bắt thằng Mỹ tát giếng, đào lại giếng. Chị đóc Xấu, chị Mai phụ với nó. Thằng Mỹ đưa thùng nước lên, chị Mai đón lấy, cười cái, liếc cái. Thằng Mỹ nói rốp rít xốp xít. Chị Mai cười cái, liếc cái, dẩu mồm nói dá da. Thằng Mỹ cười khư khư khư. Chị đóc Xấu tát nước, thỉnh thoảng hích thằng Mỹ, liếc cái. Thằng Mỹ cũng hích lại, liếc cái. Chị đóc Xấu lườm yêu, đập phát vào lưng trần thằng Mỹ, cười hi hi hi. Thằng Mỹ vuốt vuốt mông chị, cười khư khư khư.


 Chị Mai đứng trên bờ nhìn thấy, tức, chạy tìm mụ Cà, lôi ra giếng, hết chỉ thằng Mỹ, nói dá da, lại chỉ chị đóc Xấu, nói dá da, hai tay chị đập đập xoa xoa, nói dá da... dá da. Mụ Cà chỉ mặt chị đóc Xấu nói tao cảnh cáo mi nghe chưa, giai cấp mô có con cu của giai cấp đó, đừng có lộn xộn. Chị đóc Xấu xịu mặt nói chị nói rứa oan em, em căm thù Đế quốc Mỹ mà. Mụ Cà nói mi căm thù chớ bướm mi không có mắt, biết ai mà căm thù, ngu lắm!


 Mụ Cà thở ra nói, ua chao ôi, đế quốc thực dân toàn bọn to con đẹp trai, tức chi tức lạ. Đêm, mụ Cà kèm chặt chị đóc Xấu, nói đừng có lộn xộn em à, lộn xộn là tao đem nó đi nộp huyện đội liền, chị đóc Xấu nói răng chị không nghi con Mai, toàn nghi em.


Mụ Cà nghe nói thế thì giật mình, chạy sang tìm, cả thằng Mỹ cả chị Mai đều không có. Hai chị chạy tìm khắp nơi thì thấy thằng Mỹ đang đứng dựa gốc cây, bế xốc chị Mai lên hôn. Mụ Cà nấp rình với chị đóc Xấu, thấy hôn môi, lạ quá, hỏi yêu là hun rứa à, chị đóc Xấu nói yêu là hun môi, chị không biết à. Mụ Cà nói tụi choa lớp trước, thích thì tụt quần mần đến mần đại, biết hun hít chi mô.


Đến đoạn thằng Mỹ kéo quần chị Mai thì mụ Cà xông tới, giằng chị Mai ra, đạp phát vào hạ bộ thằng Mỹ, tát một tát vào mặt chị Mai, nói á a cái con ni gan trời, dám yêu Đế quốc Mỹ. Chị Mai ôm chân chị Cà khóc nói dá da dá a.. Mụ Cà lại cho thêm một tát nữa, nói mi là con phản động. Chị Mai lại ôm chân mụ Cà khóc rú lên, nói dá da... dá da da.


Mụ Cà ôm đầu ngửa mặt kêu, ôi chúa ơi chúa ơi, chúa cho đàn ông nước con to con đẹp trai đi chúa, không đàn bà con gái phản động hết! Dứt lời mụ Cà cắp nón đi liền, nói tau lên huyện đội báo người ta lôi cổ nó đi cho rồi, ngồi canh  tui bay nhọc lắm.


 Mụ Cà gặp Cu Miễn đạp xe đạp dọc đường, Cu Miễn hỏi đi mô, mụ Cà nói bắt được phi công, Cu Miễn nói để tui lên báo cho, tui có xe đạp. Mụ Cà nói tui lên báo công để lấy bò chơ. Cu Miễn nói bò mô trên huyện đội, người ta thưởng mồm thôi, bắt hợp tác chi bò chơ ai chi. Mụ Cà nói thiệt không, Cu Miễn nói răng không. Mụ Cà nói rứa Cu Miễn có thưởng bò tui không, cu Miễn nói răng không.


Mụ Cà quay về, đến gần nhà thì chị Mai ra khoa chân múa tay, mặt mày tái mét, nói dá da da da.... dá da da da. Mụ Cà lật đật chạy vào nhà, vừa lúc thằng Mỹ và chị đóc Xấu kéo quần lên. Mụ Cà xông tới tát thằng Mỹ tới tấp, nói cha tổ Đế quốc Mỹ cha tổ Đế quốc Mỹ. Chị Mai nhảy chồm chồm trước mặt thằng Mỹ, hai tay xỉa xỉa, nói dá da... dá da... dá da! Mụ Cà quay lại xốc cổ áo chị đóc Xấu, quát mi hứa ra răng nói lại tau nghe. Chị đóc Xấu ôm lấy Mụ Cà khóc nói em chừa rồi em chừa rồi, đau lắm đau lắm, từ nay em ẻ vô Đế quốc Mỹ.


Cu Mèo đem đội dân quân xông vào, chĩa súng vào thằng Mỹ nói dơ tay lên. Mụ Cà giật tay cu Mèo, nói mi về nói hợp tác đưa bò cho tau, tau giao thằng Mỹ liền. Cu Mèo quát câm mồm, tội các chị giấu thằng Mỹ tui chưa đem ra toà, còn dám đòi bò! Nói xong cu Mèo áp giải thằng Mỹ đi. Mụ Cà nói Đế quốc Mỹ mình không thua, chỉ thua cu Mèo cu Miễn thôi.


Tại hội nghị báo công, cu Miễn nói Đội du kích làng Đông đã mưu trí dũng cảm tóm gọn tên phi công Mỹ, giải thoát cho ba phụ nữ đang bị nó làm nhục. Hội nghị ồ lên, người nói giỏi giỏi, người nói tài tài, người nói phục phục.


Ua chầu chầu


 

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2010

Tắc đường hay kẹt tư duy?

Mấy năm gần đây, tình trạng ùn tắc giao thông (UTGT) lên cao chưa từng thấy và không có một lý do nào để yên tâm là nó sẽ giảm trong nay mai.





Những nỗ lực của ngành GT công chánh để giải quyết vấn nạn này như muối bỏ bể, tuồng như càng giải quyết thì vấn đề càng rối thêm, càng giải quyết thì UTGT càng tăng cao, cho thấy sự yếu kém toàn diện trong quản lý GT.

Tổ chức GT nhiều bất cập, xa rời thực tế, đốt cháy giai đoạn nhìn thấy rất rõ trên mỗi mét đường đô thị. Chỉ nói riêng dải phân cách “cứng” - cố định để tách bạch làn xe hai - ba bánh “khỏi” làn xe bốn bánh như trên tuyến Tôn Đức Thắng (TP.HCM) đã nói hơn chục năm nay cho đến bây giờ vẫn nằm trên bản vẽ. Trong khi đó, những vạch sơn mỏng dính, những biển báo đủ loại mũi tên, những cuộc ra quân ngựa xe ầm ĩ, những phát biểu ồn ào… cho thấy người ta đang trình diễn sự nỗ lực chứ không phải nỗ lực thật.

Chỉ riêng chuyện bịt bịt mở mở các ngã tư ở Hà Nội cũng đủ thấy tấn bi hài cười ra nước mắt. Một ngày đẹp giời bỗng thấy các ngã tư bị bịt lại bằng các rào chắn, hỏi thì bảo làm vậy để giải quyết UTGT. Đến khi dân chúng ầm lên, thế là mở ra. Mở ra rồi lại ùn tắc, dân chúng lại ồn ào, người nói rào như thế sẽ không gây xung đột, giảm UTGT. Người nói rào thế dù có phải  đi vòng, quay đầu xe, nhưng sẽ tránh được xung đột ở ngã ba ngã tư, từ đó sẽ giảm UTGT. Nghe đâu lại sắp rào lại.

Cái kiểu tư duy áng chừng, đại khái được Giám đốc Công an thành phố phát biểu rất hùng hồn tại Quốc hội: “Hôm nay tổ chức vấn đề này có thể đúng, phù hợp với điều kiện, nhưng sang năm có thể không phù hợp vì số người tham gia tăng lên, phương tiện GT tăng lên, thế rồi các ngã ba, ngã tư này phức tạp hơn thì vấn đề tổ chức GT cũng phải thay đổi… Ngay cả Nghị định của Chính phủ cũng có lúc phải thay đổi”.

Ngay sau đó lại được Phó chủ tịch thành phố nói rõ thêm ra: “Nếu phân luồng không giải quyết được ùn tắc thì đưa về ban đầu”. Từ đó suy ra, nếu đưa về ban đầu không giải quyết được thì phân luồng, nếu phân luồng không được lại đưa về ban đầu, đưa về ban đầu không được lại phân luồng… cứ yên tâm đèn cù như thế cho đến hết đời chăng?

Chả biết các nhà khoa học ngành GT đâu rồi, có được tham gia vào tính toán cho thực tại và hoạch định cho tương lai GT nước nhà hay không? Hay là họ chỉ được tham gia nghiên cứu khoa học theo chỉ thị, cấp trên bảo bịt thì làm luận chứng bịt, cấp trên bảo mở thì làm luận chứng mở?

Chuyện hài hước từ một cuộc phỏng vấn ông Giám đốc Sở GT Hà Nội, có lẽ chỉ nước Nam ta mới có. Ấy là khi ông trả lời phỏng vấn  phóng viên báo Vietnamnet về tình trạng bịt mở các ngã tư. Phóng viên hỏi: “Là người đứng đầu ngành GT Hà Nội, ông suy nghĩ gì không?”. Ông trả lời: “Tôi không suy nghĩ gì cả”. Phóng viên lại hỏi: “Nhưng dư luận muốn các ông, những người thực hiện đánh giá về giải pháp mà các ông làm”. Ông nói: “Thôi”.

Cái sự không suy nghĩ gì cả và tiếng "thôi" của ông Giám đốc Sở GT vang lên cho thấy kẹt... tư duy là nguyên nhân chính của mọi tình trạng, trong đó có tình trạng UTGT hiện nay. Than ôi!


Bài đọc thêm















VÈ MỪNG BCH HỘI NHÀ VĂN KHÓA VIII
Nhà thơ Trần Trương
 

Xin mừng Bác Thỉnh – Nhà Thơ
Đắc cử chủ tịch vào mùa thứ ba
Bác Huân nhút nhát, chan hòa
Vẫn phó chủ tịch thật là vui thay
Nhưng mà thích nhất điều này
Đại hội tín nhiệm bầu ngay Quang Thiều
Cũng phó chủ tịch đáng yêu
Quang Trang miền Bắc vừa vào miền Nam
Thu Huệ”dữ dội” dịu dàng
Đã thành “Mẫu hậu” vững vàng niềm tin
Xuân Hà ,Đào Thắng kế bên
Rồi Công Hùng nữa Tây Nguyên thắm tình
Hải Phòng Đình Kính xứng danh
Trung Trung Đỉnh đấy hiền lành (mà ghê)
Quang Thụy đại tá đề huề
“Trong cơn gió lốc” chẳng hề nao nung
Bác Trần Đức Tiến bao dung
“Bị vợ bỏ” vẫn một lòng “ổ rơm”
Nguyễn Hoa “Lửa mát” chập chờn
Chú Thưởng “lý luận” chữ vương đầy mình
Cuối cùng cũng được thể tình
Vũ Hồng “tháp bụi” xứng danh xứ dừa


Ba ngày Đại Hội không mưa
Hà Nội sáng nóng, ban trưa càng nồng
Nhà văn vẫn họp ung dung
Xum vầy bạn hữu đàng Trong, đàng Ngoài
Nhiều người tỉnh, ít người say
Hẹn năm năm nữa…chia tay ra về
Đại Hội ăn uống no nê
Vung vinh, vui vẻ, vần vè vô vi…

-----
Các chữ trong ngoặc kép là tên tác phẩm


 

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

Nhà văn nhà veo


Kì này mình ra Hà Nội gần nửa tháng, ra để giải quyết việc nhà, kì thực không nghĩ gì đến Đại hội nhà văn. Từ lâu rồi mình không quan tâm đến các đại hội của các hội, hội nào cũng thế chứ chẳng cứ gì hội nhà văn. Mình có tên trong bốn năm hội, khi còn trẻ mỏ thì hăng lắm, bây giờ già rồi, và nói thật cũng nản rồi, chẳng muốn dự bất kì đại hội nào nữa. Đến dự thì cũng vui, được gặp bạn bè tứ xứ ôm vai hót cổ hỏi han năm điều ba chuyện để biết thêm chút về nhau cũng không phải là dở. Nhưng ngoài chuyện đó ra mình chẳng thấy có ích gì.


            Hồi còn trẻ thì máu me lắm. Sắp đến kì đại hội trong lòng rộn rã, xôn xao trước cả tháng. Mình nhớ đại hội nhà văn lần thứ IV vào cuối năm 1989, hội đó mình đang ở Huế, anh em nhà văn ngày nào cũng gặp nhau khi thì quán rượu chị Phứơc, khi thì quán rượu chị Hiếu, sôi sục bàn chuyện Đại hội. Người nói tôi sẽ nói cái này, người nói tôi sẽ nói cái kia, ai nấy mặt mày phừng phừng như sắp ra chốn  sa trường, hi hi.


            Đoàn nhà văn Bình Trị Thiên được tỉnh uỷ gặp gỡ, mời cơm trước khi đi Đại hội, còn cho tiền cấp xe đi ra Hà Nội, rất oách. Ra đến Bến Thuỷ trúng mùa nước lũ, kẹt phà, xe dồn nhau dài đến mấy cây số, anh em trình cả  giấy triệu tập của Ban bí thư cũng không được ưu tiên. Bí thế, mấy anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo kẻ đọc thơ, người hát nhạc nịnh mấy ông canh phà suốt đêm, sáng ra mới được ưu tiên cho qua phà trước, mừng hết lớn.


            Tâm trạng đi dự đại hội hồi đó lạ lắm, nó giống như đi lễ hội lớn vậy, ai nấy ngây ngất con cà cưỡng, tâm niệm đến đấy vừa để chơi vừa để giải quyết việc lớn văn chương nước nhà, ngây thơ đinh ninh nếu Đại hội thành công, bầu được Ban chấp hành ưa ý thì văn chương nước nhà nhất định sẽ khởi sắc. Mình cũng đinh ninh như thế. Chẳng biết từ khi nào anh em nhà văn đã đánh đồng nền văn chương với công tác Hội, cho rằng sở dĩ nền văn chương Việt xập xệ là do Ban chấp hành hội mà ra. Mọi yếu kém của nền văn chương cũng do mấy anh  Ban chấp hành đầu têu hết. Bây giờ vẫn nhiều người nghĩ như thế chứ chẳng phải ngày xưa.


            Kì thực Hội là nơi động viên giúp đỡ anh em sáng tác cho tốt, thế thôi. Chẳng có Hội nào lại lại chỉ đạo được nhà văn viết cái gì, viết như thế nào. Phàm là nhà văn chẳng ai chỉ đạo được ai, ông nào ông nấy cái tôi to bằng cái bồ, văn mình vợ người xưa nay đều thế cả, chẳng làm sao thay đổi được. Vả, tự do sáng tác là thứ nhà văn cần chứ không phải người ta cần Hội bắt tay chỉ ngón cho người ta viết, nếu bị bắt tay chỉ ngón thì đố ai còn viết văn đựơc đấy.


 Có ai đó ví von chuyện con rết rất hay. Con rết có hai dãy chân đến cả trăm chân, mỗi lần nó chạy hai dãy chân chuyển động nhịp nhàng. Con chuột hỏi con rết ông làm sao điều khiển được hai dãy chân nhịp nhàng đến thế. Con rết nói có gì đâu, đầu tiên dơ chân này nhé, rồi dơ chân này nhé…Đến khi nó làm như nó nói thì nó không đi được nữa.


             Hôm qua Vi Thuỳ Linh gọi điện phỏng vấn mình, nó nói theo chú Ban chấp hành có cần những người thực tài không. Mình nói có chứ sao không. Nhưng đó là các nhà văn có tài quản lý, tài điều hành, tài tổ chức sự kiện hội nghị hội thảo… chứ không phải tài viết văn. Bầu mấy ông có tài viết văn vào Ban chấp hành để làm gì, để họ viết văn mẫu cho mọi người viết theo hay sao?


            Nói chuyện  Ban chấp hành cũng buồn cười. Không rõ các kì đại hội I, II, III thì thế nào, chắc khi đó BCH đều do trên sắp đặt cả, bầu bán cũng giả vờ cho vui thôi.  Từ đại hội IV trở đi trên cho bầu bán tự do thoải mái, nhà văn thì cứ tự do/ thằng nào xứng đáng ta cho vào hòm thì danh sách đề cử cả đến mấy trăm người, nhiều người xin rút rồi vẫn còn hơn hai trăm người, thất kinh. Lâu nay cứ nghĩ nhà văn thì chẳng ai mê quyền lực, thậm chí ghét bỏ khinh miệt nữa, té ra không phải. Quá nhiều người mê dù đó chỉ là cái quyền hão, danh hão và cũng quá nhiều người ảo tưởng về bản thân.


            Về cái sự ảo tưởng về bản thân thì ai cũng mắc, mình cũng không thoát được. Đại hội V mình có tên trong danh sách đề cử, kì thực thì 500 đại biểu có đến 250 ông được đề cử rồi chứ chẳng vinh dự gì. Khi đó bao nhiêu người rủ rê tán tỉnh mình. Kẻ kéo áo, nói ông  không được rút nhé; người rỉ tai, nói đợt này ông phải vào đấy, cấm có chạy làng. Ngoài mặt ra vẻ không quan tâm nhưng trong bụng sướng củ tỉ, bèn tắc lưỡi nói ừ thì không rút, vào được BCH cũng tốt, nếu chẳng vào được cũng biết thực có bao nhiêu người yêu mình. Đến khi bầu mình chỉ có 156 phiếu, còn gần trăm phiếu nữa mới trúng, xấu hổ chết được. Buồn đúng một tháng, không phải buồn vì trật BCH mà buồn vì  nhận ra quá ít người yêu quí mình thật sự.


Sau nghĩ lại thấy chẳng việc gì mà buồn, người ta bầu BCH là bầu những người có năng lực điều hành chứ đâu bầu kẻ mình yêu, người mình phục văn tài. Ông Thiệp ( Nguyễn Huy Thiệp) hồi đó tên tuổi nổi như cồn, nhiều người nói nếu gọi Hội nhà văn là một gánh thì đầu này là cả hội nhà văn, đầu kia là Nguyễn Huy Thiệp. Chắc ông Thiệp cũng nghĩ thế nên ông chẳng rút, kết quả ông chỉ có hơn trăm phiêu bầu cho ông thôi.


            Mình nhớ đại hội IV mình ở trong ban kiểm phiểu, ông nào ông nấy hằm hè nhau, ông này nghi ông kia lậu phiếu, rất căng thẳng. Bầu lần đầu được 5 người, lại bầu lần nữa được 6 người. Kiểm phiếu đến nửa đêm mới xong, mệt bã người.  Điều lạ là giờ đó vẫn còn rất nhiều nhà văn ngồi phủ phục chờ kết quả bầu cử, khi tụi mình ra khỏi phòng kiểm phiếu xuống hội trường thì mọi người chạy rật rật đến, nói sao rồi sao rồi. Hi hi bầu BCH hội nhà văn mà hồi hộp căng thẳng không khác gì bầu tổng thống.


            Hồi đó mình chỉ 33 tuổi, cái tuổi ưa nổi danh thích được chứng tỏ, nhảy lên diễn đàn phát biểu ba bốn lần, được vỗ tay hoan hồ càng ăn to nói lớn. Đại hội văn chương chẳng thấy bàn văn chương, chỉ toàn tranh cãi nhau ông này tham ông kia hèn, ông này bất tài ông kia cơ hội. Anh Trần Dần ra khỏi hội trường, dập dập cái gậy chống, mắt trợn miệng nói tợn, đại hội tợn quá.


  Mấy bác Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt… ba chục năm trở lại văn đàn, tưởng các bác sẽ đăng đàn nói những điều hệ trọng, té ra không. Các bác toàn rủ nhau ra căng tin phía sau hội trường uống bia, uống say thì về, chẳng biết gì đại hội đại heo. Anh Phùng Quàn cứ đến chiều là chân nam đá chân chiêu trở về nhà. Chị Trâm vợ anh hỏi đại hội có chuyện gì vui, anh chỉ nhăn răng cười., nói ua chầu, cãi nhau như mổ bò.


Cụ Hoàng Trung Thông khi đó đã già  rồi, chẳng hiểu sao không thấy cụ vào ghế ngồi, chỉ đứng ở cửa trông vào. Tính mình ngồi không nóng chỗ, lúc lúc lại nhảy ra ngoài hút thuốc. Mỗi lần qua cửa cụ lại túm tay giật lại, nói sao rồi sao rồi. Mình cười, nói thì vẫn đang cãi nhau đó mà anh. Cụ cười cái hậc, nói đại hội với đại heo,  hội nhà văn cãi nhau mấy chuyện này à, đó là hội nhà Đảng. Mình chỉ cười hì hì chẳng biết nói sao.


Khi đó mình nghĩ các cụ hết hơi rồi, viết lách không màng, hội hè cũng đã chán. Đến đại hội để tìm bạn uống ba chén rượu thôi. Bây giờ mới thấy các cụ có lý, nhà văn lại đi cãi nhau ỏm tỏi ba chuyện phi văn chương thật quá phí thời giờ. Đa phần các cụ đều dạt ra hết cho mấy anh trẻ tranh hùng, tóm lại cũng chỉ để tranh cái chân  BCH. Các cụ đến đây chỉ để vui, vui bạn vui bè, vui nghề vui nghiệp, và đó mới đúng là đại hội nhà văn. Mấy thứ phi văn các cụ ớn lắm, sợ lắm. Đời các cụ ngấm đòn cũng đã nhiều rồi.


Một buổi chiều mình thấy anh Trần Hữu Thung say rượu nằm vật trên ghế đá khuôn viên Hội trường Ba Đình. Mình bế xốc anh dậy, nói để em đưa anh vào nhà nghỉ. Anh hoảng hốt bừng tỉnh, miệng nói tay khua, nói không không tôi không phát biểu đâu không phát biểu đâu, tôi nhất trí hết nhất trí hết. Hi hi nhà văn nhà veo sao mà khổ thế.


 

 

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

Hố xí hai ngăn

Truyện ngắn


 Bọ định cho ra tập truyện ngắn viết theo lối khẩu văn. Vì thế bọ sẽ lần lượt post lên các truyện ngắn loại này để bà con bình luận, góp ý. Sau đó sửa sang lại một lần nữa rồi đưa in. Rất mong nhận được góp ý của bà con, cứ phang thẳng cánh vào đừng sợ bọ tự ái.




[caption id="attachment_6319" align="alignleft" width="283" caption="Minh hoạ của Đỗ Đức"][/caption]

 


1. Năm 1965 nhà mình sơ tán lên làng Đông, Hợp tác phân cho mấy sào đất cát đầu làng, mấy anh em thi nhau ăn cắp đất cày tôn cái vườn lên cao gần một mét, ba mình lại khéo trồng cây, chỉ một năm sau nhà mình có khu vườn đẹp nhất xóm.


Xóm có bốn nhà. Phía trước là nhà anh Cu Chành, đội phó đội 1. Anh cu Chành oai nhất xóm, có xe đạp Phượng Hoàng, cười có răng vàng, có cái đài Orionton. Chiều chiều anh đạp xe đạp Phượng Hoàng, đeo cái đài to bằng cuốn từ điển Việt - Anh bên hông, ngậm cái tăm, mở to đài, đạp xe đi từ đầu làng đến cuối xóm.  Anh đi đến đâu đài kêu oang oang tới đó, con nít rật rật chạy theo xe anh .


Thỉnh thoảng đi họp trên xã trên huyện về, tối anh xách đèn bão ra nhà kho hợp tác nói chuyện thời sự. Anh nói các anh trên trung ương phổ biến thế này thế kia, anh Lê Duẩn có ý kiến chỉ đạo thế này thế kia, anh Võ Nguyên Giáp động viên thế này thế kia, toàn anh không thôi, dân tình lác mắt.


Anh Cu Chành nói mấy anh trên trung ương nói cứ lo chiến đấu đi, đánh thắng Mỹ rồi tha hồ giàu. Chỉ riêng dầu mỏ cũng đủ no. Dầu mỏ nước ta như cái  mâm, dầu mỏ đế quốc Mỹ như con ruồi đậu trên cái mâm, Mỹ không nhằm nhò chi với nước mình mô. Bà con  vui vẻ nói ua chầu chầu sướng hè sướng hè.


Anh cu Chành nói mấy anh trên trung ương phê phán việc đuổi chim ra khỏi thành phố của nước đồng chí bạn là sai. Cứ xây dựng CNXH thành công, nhà cao cửa rộng, điện đóm giăng đầy, tự khắc chim chóc cút cả, việc chi phải đuổi.


Mấy người hỏi nước mô mà dại rứa hè. Anh Cu Chành nói các anh trên trung ương dặn cứ nói nước đồng chí bạn, không được lộ ra nước nào. Nhưng tui nói nhỏ, bà con nghe đâu bỏ đó nghe chưa, đó là nước Trung Quốc. Bà con xôn xao nói ua chầu chầu nước đồng chí bạn dại hè, đế quốc Mỹ không đuổi lại đi đuổi chim.


Mọi người phục anh Cu Chành lắm, nói Cu Chành học chưa hết lớp 5 mà chuyện trên trời dưới biển biết cả là nhờ gần trung ương. Có ai biết anh Cu Chành nhờ gần cái đài Orionton.


Chỉ có mệ Hó là không phục. Một hôm anh Cu Chành nói mấy anh trên trung ương căn dặn bà con mình phải đoàn kết. Làm được thì làm, không làm được thì thôi nhưng phải đoàn kết. Anh Cu Chành nói tui nghiên cứu hết sách vở rồi, sở dĩ dân mình hay chửi nhau là vì phong kiến tư bản nó còn rơi rót. Mình muốn mau lên CNXH thì đừng có chửi nhau.


Mệ Hó đứng dậy phủi đít quần phành phạch, nói Cu Chành nói hay rứa răng toàn đi ỉa vứt. Anh Cu Chành trừng mắt nghiêm giọng, nói họp hành không được nói cu, đồng chí Hó phát ngôn bừa bãi. Mệ Hó cười cái hấc, nói mi đi họp răng không bỏ cu ở nhà, mang cu đi thì tau nói cu chơ răng. Anh Cu Chành đập bàn cái rầm,  nói yêu cầu đồng chí Hó nói năng cẩn thận, đây không phải cái chợ.


 Mệ Hó không sợ nhưng xuống giọng, nói đồng chí Cu Chành nói hay rứa răng toàn đi ỉa vứt. Anh Cu Chành nhăn mặt, nói chuyện ỉa đái không được nói nơi hội nghị, phát ngôn bừa bãi. Mệ Hó tịt, ngồi xuống nói ôi trời, l. trám được chơ tai không biết răng mà trám.


Mệ Hó ở ngay bên phải nhà mình, gọi là mệ chứ chỉ trên năm mươi chút thôi, mông vú còn nẩy lắm. Không thấy chồng con mệ đâu, chỉ thấy mệ ở với đứa cháu gái 11 tuổi, bằng tuổi mình. Mệ ngoa nhất xóm, động bất kì chuyện gì mệ cũng chửi. Mệ tức anh Cu Chành chuyên môn nhảy hàng rào sang ỉa hố xí nhà mệ, ỉa xong không đổ tro, không đậy nắp, bẻ tranh tre quẹt đít, tan cả mái lợp. Chỉ chuyện anh Cu Chành đi ỉa hố xí nhà mệ mà mệ chửi anh quanh năm suốt tháng.


Hồi này có phong trào làm hố xí hai ngăn. Anh Cu Chành nói các anh trên trung ương nói đây là phát minh khoa học của Việt Nam, Nhật Bản thừa nhận đây là một trong 7 công trình khoa học vĩ đại nhất của thế kỉ 20. Anh Cu Chành nói hố xí hai ngăn là thành quả CNXH. Ngăn này ỉa, ngăn kia ủ phân rất chi là khoa học, vệ sinh cực kì. Bọn tư bản chúng nó ở nhà cao tầng, không làm hố xí hai ngăn, phân chảy ra đường ống trôi ra sông, rồi lại múc nước sông nấu ăn, có tởm không bà con. Bà con nói ua chầu chầu tư bản ngu chi ngu lạ.


 Nói thế nhưng anh Cu Chành không làm hố xí hai ngăn, nhà nào cũng làm nhưng anh không làm, toàn xách đít nhảy hàng rào sang nhà mệ Hó ỉa. Anh  Cu Chành ngồi trong hố xí, mệ Hó nhảy chồm chồm ở ngoài chửi ầm lên, nói cha tổ Cu Chành, ỉa đâu không ỉa răng ỉa nhà tao! Anh Cu Chành nhóng cổ ra, nói đồng chí Hó để yên cho tôi ỉa xong đã rồi có ý kiến, đừng phát ngôn bừa bãi.


Mệ Hó nén giận, ngồi bó gối  trước cửa hố xí chờ anh Cu Chành ỉa xong để chửi. Anh Cu Chành lại nhóng cổ ra, nói đồng chí Hó cho tôi xin mấy que quẹt khu (đít). Mệ Hó laị nhảy chồm chồm chửi, nói vơ làng xóm nời... có ai như thằng Cu Chành không, nó ỉa vất nhà tui còn bắt tui quẹt khu  cho hắn đây nời!


 Anh Chành lại nhóng cổ ra, nói đồng chí Hó không kiếm que cho tui chùi khu thì tui bẻ tranh tre hố xí đồng chí. Mệ Hó tức uất rú lên nhưng vẫn phải kiếm que cho anh Cu Chành. Mệ dúi que vào cho anh, mắt trợn miệng hét, nói que đây  que đây, chùi xong rồi ăn luôn nghe Cu Chành! 


Anh Cu Chành ra khỏi hố xí, nhảy hàng rào về nhà . Mệ Hó nhảy sang nhà anh nhảy chồm chồm, ra sức chửi. Anh Cu Chành bật cái đài Orionton, vặn volume  hết nấc. Mệ Hó cố gào lên cho át tiếng đài, mệt quá thở hồng hộc. Mệ hét lên, nói cha tổ mi Chành nời, mi nói hay rứa răng cứ đi ỉa vứt!


Anh Cu Chành chỉ tay quát, nói này, đài đang phổ biến chủ trương đường lối, đồng chí Hó lại đem chuyện ỉa đái ra đây là có ý gì. Câm họng không tui kêu dân quân trói cổ liền. Mệ  Hó tịt, quắp đít đi về, vừa đi vừa chửi, nói vơ cu Chành nời, tao thua cái đài chớ không thua mi mô nha!


 


2.Còn nhà thứ tư là nhà ông Mẹt Lạm ở sát sau nhà mệ Hó, cũng ở bên phải nhà mình. Ông chết vợ, có một đứa con trai là thằng cu Đán. Thằng này đánh cờ tướng cực giỏi, mình học đến lớp 5, nó mới học lớp 2, nó chấp mình một xe mà 10 ván mình cũng chỉ thắng nó được 2,3 ván.


            Cu Đán nói anh đánh cờ dở như bọ tui đi ỉa. Lúc đầu mình không để ý, nhưng sau thấy lạ, hễ đau bụng là ông Mẹt Lạm lại nhảy sang hàng rào, vào hố xí mệ Hó, dù nhà ông cũng có hố xí. Sau lại thấy hễ mệ Hó đi ra hố xí là ông Mẹt Lạm kêu đau bụng liền. Mình hỏi cu Đán, nói răng thấy mệ Hó ra hố xí là bọ mi đau bụng? Cu Đán cười cái hì, nói bọ tui đau cu không phải đau bụng.


 Mình không hiểu, nói hố xí vừa chật vừa thối inh, mần chi được ở đó. Cu Đán nhăn răng cười, nói tui thấy bọ tui lẹo chắc với mệ Hó rồi, hay lắm. Nó chồm lên bụng mình dập dập nói ri nì ri nì, Hó ơi Hó ơi anh yêu Hó, Hó ơi  Hó ơi anh yêu Hó.


Mình tròn mắt, nói lẹo chắc ở hố xí à. Nó gật rồi lắc, nói không phải, hố xí chỉ tâm sự thôi, rồi bọ tui bưng mệ Hó vô nhà. Mình nói vừa ỉa vừa tâm sự à? Cu Đán nói ừ, nói đi nói lại chỉ có câu Hó nhớ Lạm không, Lạm nhớ Hó không, rứa mà nói cả buổi, ỉa hết cứt rồi vẫn cứ nói.


 Mình nhăn răng cười, nói hay hè hay hè. Cu Đán cũng nhăn răng cười, nói ừ, hay lắm hay lắm. Nó kéo tai mình thì thầm, nói tâm sự chỗ khác thì anh Cu Chành phát hiện, kêu dân quân bắt liền. Mình nói hèn chi mệ Hó không cho anh cu Chành vào ỉa hố xí mệ. Cu Đán nói anh cu Chành cũng muốn tâm sự với mệ Hó nhưng mệ ghét, không cho.


Mình nói mi đã biết thì anh Cu Chành cũng biết. Cu Đán nói lúc đầu bọ tui với mệ Hó sợ anh Cu Chành thì ra hố xí tâm sự, sau  đổ lì không sợ. Bây giờ quen rồi, hễ muốn tâm sự là buồn ỉa liền. Mình cười, nói tao không tin. Cu Đán nói thiệt đó, anh không tin thì thôi. Bọ tui nói vừa ỉa vừa tâm sự thích lắm, quan trọng là mình ỉa đừng có tiếng kêu, kêu thì mất lịch sự, rứa thôi.


Làng Đông hồi đó làm hố xí hai ngăn, ngăn ỉa ngăn ủ nghiêm túc lắm, sau rồi tùm lum cả. Đang đau bụng có người ngồi rồi, không nhịn được liền nhảy sang ngăn kia, ủ chẳng ủ thì thôi, ỉa cái đã. Dần dần hố xí hai ngăn thành ra hai hố xí. Anh Cu Chành nói các anh trên trung ương nói dân mình lạc hậu, chỉ mỗi việc ỉa cho có khoa học mà cũng không hoàn thành nhiệm vụ. Mệ Hó cười cái hấc, nói chào ôi, không thấy trung ương giao nhiệm vụ ăn, toàn  giao nhiệm vụ ỉa thôi.


Nhưng anh Cu Chành không mắng mệ Hó phát ngôn bừa bãi nữa, chỉ nói đồng chí Hó có thắc mắc chi nói sau. Cuối buổi anh Cu Chành nói đồng chí Hó ở lại tôi giải thích. Chẳng biết anh Chành giải thích thế nào, tối hôm đó mẹ Hó nhảy chồm chồm, chửi ông Mẹt Lạm rung làng chuyển xóm cả đêm. Mệ Hó vén quần vỗ bem bép, hét vơ Mẹt Lạm nời, tau nói cho mà biết nha, từ ni a... cặc mi có bá ( dát) vàng  tau cũng không thèm nha.


Chuyện hủ hoá mệ Hó và ông Mẹt Lạm tự nhiên cả làng ai cũng biết. Đi đâu nghe ai khích một câu là mệ Hó lại nhảy sang nhà ông Mẹt Lạm chửi liền, vừa chửi vừa vỗ bem bép, hét vơ Mẹt Lạm nời, tao thà để l. cho chó ăn, không cho mi liếm mô nha !


Mình hỏi cu Đán răng rứa. Cu Đán ngồi đực mắt, rất lâu sau mới nói  không biết ai nói bọ tui khoe mệ Hó thuê bọ tui lẹo mệ, một phát 5 hào, đến giờ mệ nợ cả trăm đồng không chịu trả. Mình nói thiệt không, cu Đán nói biết mô, nghe người ta nói rứa.


Một hôm mình với cu Đán đang đánh cờ, ông Mẹt Lạm đi đâu về, mặt mày hằm hằm nói cha tổ con l. trâu, cha tổ con l. trâu. Ông lôi cái cuốc xông sang vườn mệ Hó đập tan cái hố xí hai ngăn, lại còn xúc cứt vứt ra đầy vườn.


Mình hỏi cu Đán răng rứa. Thắng Đán nói không biết ai nói mệ Hó khoe bọ tui hẹn mệ đi ỉa, rồi liếm khô khu cho mệ, mệ mới cho lẹo. Mình nói tởm tởm, thịêt không thiệt không. Cu Đán nói biết mô, nghe người ta nói rứa. Nói xong thì ngồi buồn thiu.


Từ đó Mệ Hó với ông Mẹt Lạm đánh chửi nhau suốt ngày. Mệ Hó nhảy chồm chồm, vừa chửi vừa xúc cứt hất sang nhà cu Đán, nói vơ Mẹt Lạm nời, trả cứt cho mi đây nời. Ông Mẹt Lạm lại xúc cứt hất sang nhà mệ Hó, vừa hất vừa hét cha tổ con l. trâu, cha tổ con l, trâu! Xúc đi xúc lại hết phân, cả hai ỉa cứt mới, gói lại ném vào nhà nhau, ngày nào cũng chửi nhau đánh nhau rung làng chuyển xóm.


Anh Cu Chành nói các anh trên trung ương nói thấy dân minh mất đoàn kết, các anh rất đau lòng. Để cho đồng chí Hó, đồng chí Lạm đánh chửi nhau tui có khuyết điểm với trung ương, có tội với bà con. Nói xong thì anh Cu Chành nghẹn lại, nấc nấc.


Bà con nói  đồng chí Cu Chành tội hè. Anh Cu Chành nói đã coi nhau như kẻ thù thì sống gần nhau càng thêm tan cửa nát nhà, tui nói rứa có phải không bà con? Bà con nói đồng chí cu Chành nói phải quá phải quá


 Tháng sau cả mệ Hó, cả ông Mẹt Lạm đều đi kinh tế mới, hai cái vườn gửi lại cho Cu Chành coi sóc. Anh Cu Chành nói đồng chí Hó đồng chí Lạm ra đi xóm làng tiếc lắm, nói xong thì nghẹn lại, nấc nấc. Mệ Hó và ông Mẹt Lạm đều khóc, cả hai đều xin lỗi bà con láng giềng. Bà con nói ua chầu chầu, đồng chí Cu Chành đoàn kết giỏi hung.


 Mệ Hó, ông Mẹt Lạm đi cả chục năm không về, nghe nói ở đâu tận  khu kinh tế mới tỉnh Phan Thiết, gần nhà mụ Lâm Cúc ông Đinh Chiến. Họ muốn về quê lắm nhưng không có tiền về, hai cái vườn mặc nhiên thành vườn anh Cu Chành.


 Hè này mình về quê, lên làng Đông chơi, khu vườn 16 sào đất của anh Cu Chành nhà cửa, cây cối đẹp ngây ngất. Mình gặp anh Cu Chành, nói mệ Hó ông Mẹt Lạm có về không anh. Anh Cu Chành cười cái xoẹt, nói è he, không chết là may còn đòi về.


Ua chầu chầu.


 

 

 

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Chữ tâm tròn méo thế nào?

Dự thảo tăng viện phí của Bộ Y tế mới ban hành, theo đó hơn 400 dịch vụ y tế đồng loạt tăng giá đã gây một làn sóng dữ dội từ phía công chúng. Lướt qua các bài báo với cái tít được giật: Tăng viện phí, tụt nhân tâm; Tăng viện phí dồn người nghèo vào thế bí; Người nghèo khốn cùng vì tăng viện phí… đủ thấy tâm trạng xã hội như thế nào.


Bộ y tế viện lẽ mức giá cũ được quy định từ năm 1995 tới nay đã quá chênh lệch so với thời điểm hiện tại. Thế thì tại sao không có cơ chế tăng dần mức thu theo thời giá, để ngâm quá lâu, khi các bệnh viện phải "xé rào" rồi đột ngột tăng ào ào đẩy dân phải thế bị động khốn cùng? Đó chẳng qua chỉ cái lý cùn của mấy ông tự cho mình là chủ mà thôi.


Cũng vậy khi Bộ y tế một đằng thì nói  viện phí không quyết định toàn bộ chất lượng dịch vụ y tế, đằng khác khi giải thích về chuyện chất lượng dịch vụ y tế kém thì Bộ lại nói nguyên nhân hàng đầu là không có tiền. Từ đó ta hiểu tiền đã quyết định nghề và cái tâm nghề nghiệp của ngành y như thế nảo  rồi.


 Nếu ngành y không treo câu “ Lương y như từ mẫu” như một  xác tín nghề nghiệp cùng với 12 điều y đức, như những lời  thề thiêng liêng của Hippocrate, trở thành  những nguyên tắc đạo đức y khoa Việt thì những gì Bộ y tế nói và làm nó cũng giống như bất kì bộ nào đó nói và làm, dân cũng chẳng có gì lạ lắm. Nhưng ngành y thì khác, chữ tâm đối với ngành y thời nào và ở đâu cũng phải được coi như giá trị thiêng liêng nhất, tạo nên hai tiếng lương y. Ngày xưa gọi bệnh viện là nhà thương cũng xúât phát từ nghĩa này. Vì vậy việc đột ngột tăng giá dịch vụ y tế trung bình tới khoảng 7-10 lần, thậm chí đến 20 lần, trực tiếp đánh vào sự khốn cùng của người nghèo đã làm cho người ta đặt câu hỏi liệu ngành y còn có chữ tâm nữa hay không.


 Tăng viện phí để làm gì khi mà ngành y không cho thấy trình độ bác sỹ, cơ sở hạ tầng, máy móc, trang thiết bị, vv...được nâng cấp. Hàng loạt bệnh viện bị xuống cấp nghiêm trọng. Hầu hết các bệnh viện trung ương đều quá tải, trong khi nhiều bệnh viện địa phương trở thành niềm kinh hãi của người dân, họ gọi đó là các trạm giết mổ.


Tăng viện phí để làm gì trong khi ngành y không cho thấy các trò láu của họ đã được dẹp bỏ. Những trò xét nghiệm móc tiền dân, cách tính giường bệnh bằng cách đếm đầu bệnh nhân bất chấp nhiều người cùng nằm trên một giường, thói kê đơn buộc người ta phải đến nơi mình cần bán thuốc… đã huỷ hoại cái chữ tâm của ngành y đến ghê gớm.


Tăng viện phí để làm gì khi mà ngành y không cho thấy “tiêu cực phí” ở các bệnh viện đã chấm dứt. Tiền lót tay cho bác sĩ, khoản “ bồi dưỡng” cho các nhân viên bệnh viện đã trở thành cái lệ hiển nhiên mỗi khi có người nhà ốm đau mang đến các bệnh viện công, đó gọi là tiêu cực phí.


 Tiêu cực phí nó là bệnh nan y nguy hiểm nhất tồn tại hơn nửa thế kỉ này không hề được giải quyết, nó giống như bệnh thành tích trong giáo dục, tiền mãi lộ trong giao thông, trò rút ruột công trình trong xây dựng… chỉ nghe nói “không” trong các văn bản giấy tờ còn ngoài đời nó là một đời sống khác, cuồn cuộn trôi giữa vô số những rêu rao.


 Hãy nâng cao trình độ bác sĩ, nâng cao cơ sở hạ tầng, dẹp bỏ các trò láu và triệt bỏ tiêu cực phí khi đó hãy nói đến chuyện tăng viện phí. Đừng một mặt hàng năm tiêu hàng chục nghìn tỉ của Nhà nước để không cải thiện được gì, một mặt ra sức tăng viện phí, móc túi người nghèo, làm vậy người ta gọi là bất lương y.


 Ngày 27/2/ 1955 trong bức thư gửi tới ngành y nước ta, Bác Hồ đã viết:  “Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng-bào.”   Lời thương mến đó toả sáng một chữ tâm, cái chữ mà ngày nay dường như người ta không còn biết nó méo hay tròn, dùng để làm gì, than ôi!