Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

Non-US Reader? Consider GPP.

In America, we are lucky enough to have a near-continual smorgasbord of photo workshops and seminars from which to choose. Unfortunately, this is not always the case for those of you who live elsewhere.

If you are reading this from Europe, the Middle East, the Subcontinent or even the Far East, make the jump to see several reasons to strongly consider making a trip to Dubai this March.

If there is no way in heck you would ever jump on a plane to the Middle East, probably best to skip the jump and avoid the temptation. Read more »

Hot boy... hot beo

 Tuổi lấy chồng của con gái ngày mỗi cao, xưa quá hai mươi đã sợ ế chồng lo sốt vó, nay nhiều cô ba mươi tuổi vẫn  nhởn nhơ như tuổi đang xuân, chưa đến bốn mươi chưa lo ế.  Sở dĩ như vậy vì ngày xưa việc chồng con có cha mẹ lo, cứ đến tuần cập kê là cha mẹ đã sắp đặt cho một tấm chồng, may nhờ rủi chịu, khỏi phải lo lắng gì.


Ngày nay cha mẹ thả cho tự do chọn lựa, tưởng thế là sướng hoá ra gay cấn vô cùng, thằng mình ưa thì nó không ưa, đứa không ưa thì nó lại ưa. Vả, cô nào cô nấy đều ham trai thời thượng,  nay gọi là hot boy xưa thì gọi là người yêu lý tưởng. Người yêu lý tưởng có một nhúm, con gái có cả đàn, phân phối làm sao cho đủ.


Người yêu lý tưởng cũng tuỳ theo thời thế mà đổi thay, thời này anh là hot boy thời sau anh chỉ là hàng tồn kho, chả ai thèm. Ở đâu không biết chứ ở ta thời này chuyển sang thời kia nhanh như chớp mắt, không thể lường trước được.


Những từ năm 60-70 thế kỉ trước người yêu lý tưởng  là anh bộ đội. Có lẽ thời loạn, anh bộ đội nổi lên như mẫu người hùng, được xã hội yêu quí ngưỡng mộ. Thoạt kì thuỷ con gái hễ cứ thấy anh bộ đội là mê, sau biết phân biệt lính bộ binh, lính phòng không, lính hải quân, không quân, thiết giáp…Không quân là số 1, hải quân là số 2, bộ binh bị xếp vào hàng bét dem.


Phải cái các chị không biết phân biệt quân hàm quân hiệu. Trừ lính hải quân, còn lại thấy lính nào cũng giống lính nào. Ra đường gặp các anh  bộ đội chọc ghẹo, mặt cứ hất lên ra vẻ lắm, nhưng vừa đi qua là lập tức túm lấy con nít tụi mình hỏi rối rít, nói răng răng, quân chi quân chi.


Mê quân này quân kia chán, các chị mới để ý đến chức vụ. Ai sống thời này đều nhớ như in câu hát em yêu anh trung uý, không yêu anh binh nhì một tháng năm đồng...Lương trung uý 75 đồng, thời mà cán bộ viên chức chỉ có 39 đồng năm hào thì 75 đồng là một đồng lương mơ ước. Sĩ quan thường mặc áo đại cán bốn túi, miền trung gọi là bâu, thế nên mới có câu: râu thì râu bốn bâu em cũng lấy.


Chị em nhìn quân hàm cứ mù mịt, chẳng biết chức gì ra chức gì, cứ tưởng nhiều sao là chức to, lắm khi bị hố điếng người. Một chị thấy anh đeo quân hàm ba sao đến chơi, mừng húm. Người nhà đi hỏi, ưa liền. Sau có người nói đồ gạch vải, không phải gạch đồng. Chị hoảng lên hỏi răng răng. Người này nói ba sao một gạch vải là thượng sĩ thôi,  ba sao một gạch đồng mới là thượng uý, chị ngồi khóc sưng mắt. Lần sau có cô bạn nào sắp có chồng bộ đội chị đều nhắc gạch vải ẻ vô nha, nhiều sao cũng ẻ vô!


 Một chị tiếp anh chuẩn uý ở phòng khách. Mạ chị đi chợ về, thấy quân hàm trọc lóc một gạch, bà đi qua lờ không chào, kéo chị vào phòng trong nghiến răng nói nhỏ răng ngu rứa con, hắn có sao đom mô mà yêu với đương, ngu ngu!


Chị nói mạ tề, một gạch đồng là chuẩn uý của người ta đó. Mắt bà sáng lên nói rứa a rứa a, quăng cái rổ chạy ra túm lấy tay anh chuẩn uý cười xoe xoe, nói con tới chơi đa con! Chuyến ni dứt khoát phải ở lại ăn cơm với nhà bác, không bác giận đó.


Một chị có anh thiêú tá đến chơi, chị cứ ngồi hất mặt lên, trả lời nhát gừng. Ba mạ chị cũng ngồi trong bếp không thèm ra chào. Chán, anh này bỏ về.  Có người hỏi răng chị chê anh nớ. Chị trề môi nói đồ một sao quẹt quẹt. Sau biết một sao nhưng có hai gạch đồng là thiếu tá chị sững sờ, đập hai tay vào má kêu to: ui chao tui lại ngu rồi!


Kịp đến thời người yêu lý tưởng là lái xe. Đấy là những năm 70-80, thời này đói kinh hồn. Hậu chiến đói kém là phải, nhưng đói thế này chủ yếu là hậu quả của chế độ bao cấp, “cái gì cũng phân mà phân thì như cứt”, lại thêm ngăn sông cấm chợ khắp nơi. Phàm là hàng hoá không phải hàng quốc doanh đều bị coi là hàng lậu, cách nhau chừng vài trăm cây số giá cả có thể cách nhau chừng 4, 5 lần là chuyện thường.


Thành ra béo nhất là mấy anh lái xe, hễ ai cầm được cái xe nhà nước là coi như cầm được sự sống của cả nhà rồi. Cánh lái xe sống nhờ vào dân buôn lậu, ấm no cũng nhờ đấy mà ra. Càng ngăn sông cấm chợ thì dân buôn lậu và cánh lái xe càng béo. “ Ai ơi yêu lấy anh tài/ vào trong  thịt cá ra ngoài bảnh bao”.


Hễ tài xế xuất hiện là dân tình đã lác mắt. “Quần ximili vừa đi vừa ngắm, dép tông Lào áo trắng thảnh thơi”. Mùa hè xe đỗ đường cái, con gái đi chơi từng tốp, lái xe bật đèn pha, các cô tay che mắt liếc, dẩu môi nói chi mà vô duyên rứa hè, cười cái, ngoảy đít cái, chạy. Qua khỏi bóng đèn thì túm tụm nhón chân nhìn qua cabin ngắm trộm lái xe, thì thầm trẻ hè trẻ hè.


Có cô nào được lái xe mời ngồi cabin, bụng hí hửng lắm, nhưng mặt  làm bộ tỉnh bơ nhìn thẳng, cái cổ cứng ngắc, tay gác cửa xe. Thấy bạn quen thì thò cổ ra, kêu: nời, đi mô đó. Mấy bạn cô ngửa cổ nhìn cô đầy ngưỡng mộ, nói sướng hè sướng hè. Xe đi qua thì nhếch mép cười nhạt, người này nói đồ mặt như mặt mo mà cũng lấy được lái xe hà bay, người kia nói ừ đo, đúng là may hơn khôn, to l. hơn đẹp mặt.


Con gái trong xóm làm gì thì làm, không thể không đi qua ngõ nhà có xe tải đỗ một lần, mắt hất lên ra cái điều không thèm nhìn vào, mắt thì liếc xéo vào nhà, thấy cô con gái đang ti toe với anh lái xe thì mím môi bịp một cái như cái rắm, nói chà, báu lắm đó mà vênh! Thế nhưng hễ lái xe gọi một tiếng em ơi là lập tức mặt đỏ rực, cười tít, liếc một cái, rồi giả đò bỏ chạy, vừa chạy vừa ngoảnh lại, sung sướng ra mặt.


 Cánh lái xe vào quán được coi là dân thượng lưu, được trọng vọng hơn cả lãnh đạo huyện. Trong làng có cô nào cưới được chồng lái xe, làng xóm bàn tán mê man cả tháng, chẳng khác gì con gái xưa vớ phải trạng nguyên.


Cùng thời này có một người yêu lý tưởng nữa là phó tiến sĩ đi tây về. Món phun thuốc sâu này ngày xưa là thứ bằng cấp quí hiếm, cao sang cực kì. Thời buổi Một yêu anh có may ô/ hai yêu  anh có cá khô để dành thì  cái bàn là, chiếc xe đạp cuốc, cái quạt tai voi…là cả một gia tài lớn, làm loá mắt các cô gái đẹp. Nếu trong nhà có ti vi neptune, tủ lạnh Saratop thì có thể cưới được hoa hậu.


  Ở Hà Nội hồi này cứ chiều chiều các đồng chí phun thuốc sâu mặc quần zin Thái, áo bay Liên xô, đeo đồng hồ ponzot, cưỡi xe đạp cuốc lượn vè vè quanh Bờ Hồ, thỉnh thoảng nhả ra mấy câu tiếng Nga. Mỹ nhân Hà thành không cô nào không dán mắt vào gáy họ.


Nhà nào có được chàng rể là phun thuốc sâu ở Tây về đều lấy làm hãnh diện lắm. Khách đến nhà thấy cái tủ lạnh Saratop đặt giữa phòng khách, trên có bình hoa tươi; góc phòng còn có cái ti vi Peko, phủ tấm voan trắng; cạnh bàn uống nước đặt cái ấm điện mới coóng sáng loá; trên vách treo ảnh chàng rể đứng ở xứ tây, nụ cười rạng rỡ… ai nấy đều trầm trồ, nói nhà bác thật tốt phúc quá. Chủ nhà mỉm cười vẻ khiêm tốn, nói cháu nó nghiên cứu sinh ở Nga về, mình chẳng ham gì, chỉ ham ba cái chữ thôi bác. Ba tiếng nghiên cứu sinh hồi đó vang lên sao mà nghe sang quá đi mất.


Nhưng rồi  phun thuốc sâu cũng chỉ tồn tại chưa đầy chục năm, những năm 80- 90 là thời kì của  người yêu lý tưởng tàu viễn dương. Nhà nào có người được một suất đi tàu viễn dương thì cả phố cả huyện đều biết, nhà đó được tôn lên bậc vương giả.


Ở nhà mái bằng hai ba tầng, xài ti vi màu, đầu băng Nhật, đi hon đa cup 50, cup 70, cup 82 kim vàng giọt lệ… đều là của mấy nhà có người đi tàu viễn dương, tuyệt không có ai. Mấy hot boy lái xe, phó tiến sĩ cứ phải xách dép chạy dài.


Nhìn thấy cô nào tay đeo vòng vàng, đồng hồ Senko, cổ quàng dây chuyền vàng hạt ngọc, đi cup 82 kim vàng giọt lệ chạy thong dong trên phố thì cầm chắc đó là vợ con mấy bác tàu viễn dương. Mấy cô xách làn vào chợ, thong thả nhặt của ngon vật lạ chất đầy làn không thèm mặc cả, dưới cái nhìn thèm khát bốc cháy của không biết bao nhiêu ánh mắt đàn bà.


Cô lại xách làn thong dong đi ra, nhất định có người gọi, nói nời… chồng mới về à? Thể nào cô cũng dừng lại khẽ gật đầu, nói về đựơc vài ngày rồi lại đi, suốt đời lênh đênh trên biển vất vả lắm. Miệng nói thế nhưng mắt long lanh rạng ngời hạnh phúc.


Có lẽ đến người yêu lý tưởng tàu viễn dương là kết thúc các loại hot boy thời bao cấp, chuyển sang thời kinh tế thị trường là các doanh nghiệp trẻ, buôn lậu trẻ, quan lại trẻ, tham nhũng trẻ. Nhưng mấy hot boy này không được hot cho lắm.


 Cuộc sống đã đổi thay, trí khôn đàn bà cũng đã thay đổi, họ biết lấy mấy ông giàu có nhờ trốn thuế nhờ tham nhũng phúc chưa kịp hưởng hoạ đã gần kề, hãi lắm. Nhưng không biết lấy họ thì chẳng biết lấy ai, kiếm đâu ra mấy anh ca sĩ, mấy chú đá bóng, mấy ông cai thầu, mấy bác đầu nậu, khó lắm.


Có lẽ vì thế mà tuổi lấy chồng ngày nay cứ tăng vọt chóng mặt, gái không chồng mà có con ngày một thêm nhiều.  Thôi thì thà kiếm lấy đứa con ngoài giá thú nuôi lấy sau này còn nhờ cậy, hot boy hot beo, lý tưởng lý teo, mệt lắm.


(Bài viết cho Tuổi trẻ cười)

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

MÙA XUÂN THĂM NHÀ VĂN NGUYỄN KHẢI

Trần Mạnh Hảo

Nhân kỉ niệm hai năm ngày mất của nhà văn Nguyễn Khải (15/01/2008 – 15/01/2010) Trần Mạnh Hảo xin gửi tới quán rượu QUECHOA bài viết này, được viết khi anh Nguyễn Khải còn sống, còn ở trong ngôi nhà nhỏ khu Khánh Hội, chưa xây nhà to như bây giờ. Cách đây trên mười năm, bài đã in trên “Văn Nghệ” với dao kéo biên tập cắt bỏ từng đoạn lỗ chỗ. Kẻ viết bài này rất ngưỡng mộ di cảo của Nguyễn Khải : “Đi tìm cái tôi đã mất” với những phản biện chính trị sắc bén và sự hoài nghi chân thành rất thời sự. Nhiều người nói : Nguyễn Khải chết rồi mới dám nói thật. Chúng tôi đã nhận ra những ẩn ý này, những biểu tượng kia, những quằn quại nọ, những hèn nhát, những vờ vịt vừa viết vừa run, vừa hé ra một tí sự thật đã phải pha trò bông phèng đặng giấu diếm bản chất của nó, kiểu con mèo giấu của quý trong văn ông. Đấy là bi kịch của ông và của cả một thế hệ dám hi sinh tính mạng để bảo vệ Tổ Quốc, nhưng không dám hi sinh cơm áo, hi sinh lợi quyền để bảo vệ sự thật, bảo vệ chân lý. Một người trí thức không biết hoài nghi thì chỉ là một con vẹt. Không có sự hoài nghi đi kèm, niềm tin kia chỉ còn là ngụy tín. ( Con gái Marx có lần hỏi ông : phẩm chất nào của người đàn ông được cha yêu nhất ? Marx trả lời : sự hoài nghi” !). Cám ơn anh Nguyễn Khải sau khi chết, đã dạy lớp hậu sinh chúng tôi một bài học : muốn tin tưởng, cần phải học cách hoài nghi.


T.M.H.


Có lẽ không hẳn vì mùa xuân, vì gió xuân phong tình thổi nỗi bướm ong của sông Sài Gòn lên con hẻm thoáng đãng khu gia binh đã được dân sự hóa này, mà sao tôi cứ đem lòng phục sát đất hai anh lính gác xanh biếc, đứng như trời trồng hai mươi bốn trên hai mươi bốn, nghiêm trang gác cửa ngôi nhà cấp bốn của nhà văn Nguyễn Khải. Vâng, tôi đâm ra táy máy hai anh lính ngự lâm cau này quá, cứ thần ra vì nể hai anh. Hai anh cau được trồng trong một chỗ chính ra để còi đi, lùn xuống, trồng trong chỗ kẹt, chỗ ép, chỗ tù túng sát sàn sạt bức tường, như được dính vào gạch, phải toát mồ hôi mọc cật lực trên nền xi măng; ấy vậy mà hai anh xanh tốt quá, mập mạp quá, lại cứ nghiêng nghiêng tám mươi độ theo kiểu tháp nghiêng nước Ý mà cao lớn, mà mướt mườn mượt như gái đang thì. Bác Nguyễn Khải thấy tôi nghiêng ngó có vẻ gian gian, cứ đứng đực ra trước cửa ngắm hai cây cau thì cười nói đon đả mời khách, rằng thì là giời cho cau mà chửa cho giầu ( trầu ) ông ạ. Tôi mới khen đẹp quá, thiên nhiên quê ta quá, cau này đực hay cái, ta hay tây mà tốt um cả và giời đất lên vậy? Bác Khải bảo nói giấu gì ông em, nó chẳng đực cũng chẳng cái, chẳng phải ta mà cũng chẳng phải tây; nó là cau hoàn cảnh, cau chơi, cau mẽ đã kế hoạch hóa gia đình từ kiếp trước. Tôi vô ý buột miệng may quá, nó không có quả, nên giời không ban cho nó giầu, với lại "được mùa cau đau mùa lúa". Nhỡ hốt nhiên nó tức khí ra quả ồ ạt, e  ảnh hưởng ít nhiều đến những mùa bội thu lúa má văn chương của chủ nhân chăng ?


Bác Nguyễn Khải được cái tính hiếm có là xưa nay vốn tỏ ra không biết giận, hay có giận mà giận ngầm, giận ai cũng cạy miệng không chịu nói ra lấy nửa câu, cứ để trong bụng rồi cũng tan đi như cục nước đá, hoặc là cho nó vào chữ nghĩa giấy mực là xong tuốt, nên mặc kệ cái thằng mẹ ranh hay cợt nhả là tôi có hỗn hào bông phèng kiểu gì bác cũng cứ cười. Mà tính bác Nguyễn Khải là thế, giời sinh ra là để bác cười, khóc cũng cười, ngủ cũng cười, cười được tý nào khỏe ra, trẻ ra tí ấy. Gớm, ngồi một tẹo, anh em mới trà thuốc tí ta tí tách bác bác, chú chú, lúc lại ông ông, tôi tôi chưa ngấm câu chuyện, mà hai anh lính cau ngoài cửa cứ quạt phành phạch, sốt cả ruột; giời mới thương khuất nẻo cho tí gió máy đã cuống cả lên, đã sướng run lên cầm cập, rối rít đập vầng lá xanh um vào tường như cũng muốn đòi vào nhà hóng hớt chuyện văn chương. Tôi mới thưa với bác Khải rằng cái giống phát về lá nom thì sướng mắt muốn chết, mà kỳ thực rõ khổ, có tí lộc giời cũng không giấu được, cứ đánh tiếng hão khoe ầm khắp xóm; gió mát thế mà cứ phành phạch như nóng bức lắm, phải quạt nấy quạt để không bằng. Cái giống cau trông vậy mà tham, ưa bất tử để đời, chết xuống rồi, tàu cau rụng cái ạch xuống đất rồi vẫn cứ cố sống lại cho kỳ được, sống làm cái thân quạt mo, làm dâu trăm họ, rơi vào tay anh Bờm mà bỡn cợt phú ông. Bác Khải lại cả cười, ấy vậy nó mới là cau cảnh, người cảnh, văn cảnh. Nghe tôi huyên thuyên vẻ sướng ý, bác chợt cười sôi như súng máy, làm bay cả tàn thuốc lá vào trang bản thảo nằm chơi lêu bêu vô bờ bến trên bàn. Bản thảo của bác Khải với lối chữ đi ra đi vào la đà con cà con kê, túc tắc như thím gà mái kiếm mồi, dòng chữ cao to mà ẻo lả, lênh láng mà thẳng thớm, kiểu chữ thời ba mươi bốn lăm xưa lắm. Thấy tôi khoái khẩu bàn chuyện cau, bác Khải nhếch cười nửa đùa nửa thật bảo tôi rằng ranh này nỡm, muốn biểu tượng hai mặt à, mượn cau kiếc nói cạnh khóe nhà văn chúng anh  à con khỉ tầu viết phê bình phê bung kia ? Thề có giời, rằng làm sao một con khỉ tầu dúm dó hậu sinh như em đây lại có thể dám xấc láo chơi trèo, tài thánh cũng chẳng học được món võ đằng vân độn thổ biểu tượng hai ba mặt của quan bác ? Ấy là nói chuyện thời bao cấp xưa, hơi có ai rách việc mới hắng giọng ho lên, dọa rằng anh biểu tượng hai mặt đấy là co vòi, co rút bút lên với nhau, ngồi run như giẽ cả một lượt, thật chả còn ra làm sao. Chứ đích thị văn chương, theo quan niệm mở cửa tự do hóa, đa phương diện hóa mà cứ là định hướng hóa xã hội chủ nghĩa của đảng ta bây giờ, phải cỡ thế giới biểu tượng muôn mặt ấy chứ, ít ra cũng như tháp Bayon bốn mặt đều thò ra cùng một lúc mới ngoan.


Có giời làm chứng, nếu tôi bịa ra chuyện này để cốt thấy người sang bắt quàng làm họ thì xin giời cứ bắt tội bé mãi bằng con kiến; rằng tôi đã giắng thấy ( nhìn thấy) bác nhà văn Nguyễn Khải này từ đúng bốn mươi hai năm về trước, khi bác về xã Thúc Kháng quê tôi lấy tài liệu viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng :"Xung đột ". Thuở ấy, tôi còn là thằng bé cu trâu giống hệt củ khoai lang lấm láp biết mặc quần đùi, vừa dắt con nghé đi toilet ngoài mương về chuồng, cũng vừa lúc giời sắp tối, lúc thằng Tý bạn chơi trò mèo chuột, chơi bịt mắt bắt dê chạy sang dấm dúi rỉ vào tai rằng đi... không khỉ gió ? Tưởng nó rủ tôi chơi trốn tìm, nào ngờ đi xem mặt một ông nhà văn mới vụt hiện về xã ta như ông bụt mọc. Nghe có nhà văn, mắt tôi nảy đom đóm sướng. Tý bảo do việc phòng gian bảo mật, nên ngoài chủ tịch bí thư, trưởng công an xã ra, thì chỉ mình nó biết cái ông tai to, mặt lớn, cao như Tây, trắng như nặn bằng bột, bận quần gụ áo gụ, đeo xà cột đen, ngồi tủm tỉm nửa cười nửa nói, ghi ghi chép chép sốt cả ruột, mặt cứ tươi hơn hớn, ngồi hút thuốc lá liên tù tì trong Ủy Ban nhân dân xã sáng hôm qua là nhà văn quân đội Nguyễn Khải. Đúng là vùng quê tôi công giáo toàn tòng Bùi Chu Phát Diệm, theo các chú công an cho biết gián điệp cứ là còn như rươi; nên khi thằng Tý rủ đi ngắm trộm ông nhà văn, mặc dù trí tò mò làm tôi rất thích nhưng mà hãi. Cuối cùng, tôi cũng liều mạng đi, quyết ngắm thật kỹ ông nhà văn cho thích mắt. Hai thằng oắt con bí mật bò qua vườn giong riềng như hai thằng ăn trộm, đoạn nép sát tường như chuột nhắt, ngó qua cửa sổ mà xem không chán mắt ông nhà văn đang xì xụp ăn uống nói cười. Cứ tưởng ông nhà văn  ma ma Phật Phật thế nào, hóa ra cũng là người như ta cả thôi. Rằng ông có vẻ hiền lành như thầy dòng, tướng đẹp hơn tướng cha Nhật nhà thờ Qũy Nhất. Mặt ông cứ tươi như hoa, phải là dân cơm trắng cá tươi, con dòng cháu giống mới đẹp thế, cao nhớn thế . Ông lại bình dân, gặp ai cũng phấn khởi, hơi tí là cười, không ai pha trò cũng cứ tủm tà tủm tỉm như con gái sắp về nhà chồng vậy. Ông này hồi bé chắc cũng là tay bợm phải biết? Ngắm no nê ông nhà văn rồi, hai thằng nhóc chợt tỉnh ra, ngộ nhỡ công an chộp được hai đứa khả nghi này, chắc chết. Hai tên xem trộm nhà văn bỗng ù té chạy, ba chân bốn cẳng bán sống bán chết vụt qua vườn giong làm người trong nhà kinh hãi đánh kẻng báo động. Lập tức du kích quát đứng lại, ai ? Còn ai vào đấy nữa, chắc là địch chứ chẳng chơi. Khi hai ba anh du kích đuổi theo bọc hậu vườn giong, chúng tôi đã như hai con ngóe vọt sang bờ ao nhà người khác, giả làm đứa mất dạy đi câu cá trộm, miệng gian dối hô ầm lên đuổi theo, đuổi theo... nên may quá thoát hiểm. Mấy hôm sau, nghe ngóng mãi không thấy bác nhà văn đâu...


Tôi tự cho mình cái vinh dự được làm quen, dù quen đơn phương kiểu rình xem trộm ấy thì vẫn cứ là quen biết với bác Nguyễn Khải từ thời còn cóc nhái, thời bác nhà văn mới hai mươi bảy tuổi, đẹp giai, tài năng, đứng đắn nhất nhì văn nghệ quân đội. Tôi học lên dần, mượn sách Nguyễn Khải đọc, ngầm coi ông là thần tượng, lại coi như họ hàng, mặc dù thời đó bác chưa nhận đồng hương Nam Định, bác còn quê nội bên Hải Hưng. Sau ngày miền Nam giải phóng, tôi mới có dịp gặp lại nhà văn Nguyễn Khải, nghĩa là cuộc gặp tay đôi, gặp để rồi sau đó, ông vẫn còn nhớ mặt mình là thằng Hảo. Tôi đã đọc hầu hết tác phẩm của ông từ "Xung đột", "Mùa lạc", cũng như sau này từng đọc "Cha và con và...", "Gặp gỡ cuối năm", "Một thời nắng nhạt", " Một thời gió bụi" ...và nhiều cuốn khác. Ông là nhà văn lớn thời nay, một trong những con chim đầu đàn của nền văn nghệ cách mạng và kháng chiến. Văn ông nhìn chung là thứ văn hoạt, thông minh, ranh mãnh, sắc như nước, lại dây dưa thừng chão, có mỏ có ngạnh mà cũng có vây có cánh, có gai có góc mà cũng chồng nụ chồng hoa, có nghịch phá dung dăng dung dẻ mà cũng cứ  nền nã, con nhà, vẫn gia phong, gia giảm, gia công, gia dụng, gia năng, gia giáo...Văn ông vượng về khí, ăn về hơi, giỏi về chữ, mạnh về hoành mà hãm về tung, hút bởi tán mà hụt hẫng khi tụ, mặn việc đạo nhưng nhãng sự đời, đi đường triết nhân hơn đường văn nhân. Các truyện ngắn, tiểu thuyết của Nguyễn Khải đọc được một hơi vì sức hút sâu xa của bút lực chữ , ma mãnh chữ, đáo để chữ, thao thức chữ , hóm hỉnh chữ, tai quái chữ và õng ẹo chữ . Nguyễn Khải họp chợ trong tiểu thuyết chỉ có một mình, hàng trăm nhân vật nhưng hầu như chỉ có độc một mình ông tự thân chia ra mấy mươi phần trăm đối tác mà khóc cười rôm rả. Ông lặn xuống bề sâu từng nhân vật mà hóa thân chúng vào mình, thành ra tưởng đông lắm, nghìn nghịt lắm, tập thể lắm mà hóa ra vắng hoe như chùa Bà Đanh, chỉ một cá thể, một mình ông sắm đủ các vai tuồng trên sân khấu chữ nghĩa. Xã hội tiểu thuyết Nguyễn Khải bên ngoài thì hợp tác xã mà bên trong thực chất là khoán hết ruộng cá thể ngay từ trước thời Kim Ngọc, là chỉ có một-ông-chủ-người-duy-nhất-sống, cứ riêng lẻ hùng hục suy nghĩ, hùng hục tâm trạng, hùng hục nỉ non, hùng hục day dứt. Nhân vật của ông mà anh nào ra anh nấy kiểu Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng là hỏng, là nhạt liền, là mất chất khải thị ma mãnh  phong cách riêng. Nguyễn Khải chỉ có một con đường độc đạo để di chuyển rào rào như con thoi trong các hệ thống hình tượng nhân vật là chính bản thân ông. Như vậy, hẳn là ông mệt lắm, vừa làm kiến lại vừa làm cá, vừa cùng một lúc gieo cả hạn hán và lũ lụt, vừa đóng vai giăng vừa sắm vai cuội. Nguyễn Khải vượt cạn văn chương một mình trên biển cả bản thảo mồ côi chỉ độc với con thuyền - ngòi bút. Mấy chục năm, nhà văn hạng xoàng như tôi cũng trèo cả lên máy vi tính mà vi vu meo mốc. Chỉ riêng Nguyễn Khải không chịu lên máy chữ cọc cạch thổ mộ ngón tay mổ cò gõ kiến đã đành, lại vẫn cứ còn chơi bút máy thò ra thụt vào như thời Tây, chơi mực tím, mực xanh ri rỉ như máu ứa. Suối một đời viết lách, một mình ông lượn lờ đi lại, nói năng, giận hờn, buồn vui, ngơ ngác, vờ vịt, chân thành, khiếp sợ, dũng mãnh, cuồng si... mà hơn nửa thế kỷ chữ nghĩa văn chương cứ rào rào như tằm ăn rỗi, cứ cuồn cuộn hàng mấy chục đầu sách làm ồn ào lênh láng cả văn đàn, thì qủa tình đáng nể thật, tài thật. Qua văn ông, các nhân vật cuồn cuộn đến và đi, cuồn cuộn sống và chết, cuồn cuộn mặn mòi, cuồn cuộn nhạt nhẽo...trong một thế giới tất cả chỉ thở bằng hai lá phổi của một con người đã nhát mà lại thích bông phèng. Một con người lúc nào cũng có vẻ như đến đây sống thử một keo xem sao, giả ngô giả ngọng mà sống, rồi kiếp sau mới xuống trần sống thật. Ông ngồi như con cóc suy tư trong gầm giường trần thế, đùng một phát to gan nhảy kễnh lên làm cậu ông giời, gọi giông gió mà biến hóa khôn lường người ngợm, làm tít mù đèn cù đủ loại anh hùng, cùng thân, sang hèn, thiện ác, ngô nghê ...Ai, vật gì đã lọt vào mắt xanh văn ông đều cứ phải nhăn răng mà sống tận cùng mình cho hết cõi tơ lơ mơ, tù lù mù Nguyễn Khải. Văn ông có khi làm ta phải nghĩ, phải sôi lên, thậm chí phải bực cả và mình chút day dứt vặt, hụt hẫng vặt, lại  giỡn chơi trốn tìm vặt vãnh con cà con kê mà có khi cũng rơm rớm lẽ đời, cũng truân chuyên nỗi sống. Ông nhìn vào đời bằng cái nhìn của anh đãi cát tìm vàng, bằng mắt kẻ đánh giậm, quyết không bỏ sót chút tôm tép tiu tiu nào của cát bụi. Sở trường ông là viết về những cái vớ vẩn, nhạt nhẽo, cái bị bỏ rơi, tí mẩn, dông dài như bã mía, vỏ ốc, vỏ lon, vỏ dừa vỏ chuối...những cái nhà văn khác đi qua không ai thèm nhìn chứ chưa nói gì hạ mình xuống lượm. Nguyễn Khải cứ ngồi một chỗ ru rú trong xó nhà mà nhặt được toàn bộ rác rưởi đời sống. Ông có biệt tài lượm ve chai trên ti-vi, trên báo, lượm phế thải nơi những tâm hồn ủ ê néo hánh ù lì thấp thoáng quanh đời ông. Chứ nếu ai bảo ông hãy viết cho tôi cái đề tài lớn lao tày trời này đi, cái vụ quốc gia đại sự  này đi là ông xin kiếu, có viết ra cũng giả giả, nhàn nhạt thế nào ấy.


Nguyễn Khải đi qua hai cuộc chiến tranh, đi qua bao buồn phiền lo âu kiếp người, lại phải làm nghề buồn vui dùm, đau khổ, khùng điên, ấm ớ, ma mãnh dùm, sang hèn, thiện căn, dúm dó dùm cho hàng trăm nhân vật từng dở sống dở chết trong văn ông, mà lạ thay, sao thoạt nhìn cứ tưởng ông sinh ra để dạo chơi, để ngồi mát ăn bát vàng. Ông to con, cao lớn vẻ nặng nề thế mà khi nhón gót di chuyển lại cứ như chim, lại cứ nhất mực nhẹ như bấc, như ông không hề có một tí trọng lượng nào. Có khi thấy ông đi thõng thẹo trên đường, hai tay cứ đuồn đuỗn thừa ra, chân vêu vao dấm dẳng như bước trên sân khấu, như thể ông sắp hô lên rằng như ta đây, rồi bất chợt sóng xoài đi một bài quyền long xà vờn mãnh hổ cho thiên hạ lác mắt. Ông sống như chơi, viết lách như chơi và chơi như chơi, thật thà nhân ái cũng như chơi. Nhìn ông cứ tưởng một thầy bốn tu xuất không đâu cho nhập hộ khẩu, đành núp hờ trong bộ quân phục, ăn đời ở kiếp trong bộ quân phục. Suốt một đời ông ngự trên cái xe đạp mua từ năm 1960 hiệu diamant tốt nhất thế giới mà xàng xê, mà vòng vèo mây bay gió thổi hết Phúc Xá qua Hàng Đậu, Hàng Than. Ông bảo chính cách mạng đã nặn ông ra thành người từ một cục đất thó bỏ đi, cục đất thó bị nỗi buồn tủi bên đời dẫm bẹp. Ông bảo thời Tây chiếm, người Việt Nam ta dúm dó, nhếch nhác, ẩm ương, rẻ rúng lắm, bị khinh khi lắm, tự coi thường nhau lắm, mặt mày cứ bạch phếch lên như mốc meo, như ám khói hết cả một lượt từ sang tới hèn, chứ chẳng hùng tráng, kiêu kỳ, trọng vọng, vi vu như bây giờ đâu. Chính là cách mạng đã dựng người Việt dậy, đặt nó lên bục cao danh dự và nhân phẩm đấy. Đất Nam Định, phố Hàng Nâu "Ở phố Hàng Nâu thật lắm quan " là quê cụ thân sinh ra ông, một nhà nho, một vị quan tri huyện thanh liêm. Tôi biết tuổi thơ ông tuy được ăn học tại Hà Nội tới năm thứ ba trung học mới đi kháng chiến, nhưng lại là một tuổi thơ buồn, mang bi kịch gia đình như mang một y phục hiu quạnh. Có lẽ việc này đã  góp phần tạo ra chất đơn độc đến tức tưởi, chất tự vệ vô thức vô can, chất vừa muốn giấu biến đi mọi thứ lại muốn chẻ hoe ra tất cả, nửa muốn xuôi chiều ba phải nửa muốn lộn trái tất cả sự vật lên cho rối tinh rối mù chơi cho hả của phong cách đa phong cách văn ông. May mà ông còn một con cáy trong người để bảo hiểm cho văn mình vẻ ngờ nghệch nhân hậu của con người từng bị khổ đau, mang cái khổ đau không biết cất vào đâu bèn cất hết vào văn chương cho tiện. Kẻ cô độc cả nghĩ, cả sợ, cả tin, cả ngờ, cả gói này may mắn quá, mặc dù chỉ ngồi một mình trong nhà như phỗng, ngồi như con ma xó đối diện với bản thảo, bị giời xiềng vào chữ nghĩa như một anh tù văn, lại có cả triệu người xa lạ tri âm tri kỷ từ tận đẩu tận đâu thì hồng phúc thật. Bác Nguyễn Khải lại nhìn tôi rất ư cảnh giác, cười ruồi khi tôi bảo đất Nam Định từ ông Tú Xương đến nay, những văn tài hầu như đều phải có ít nhiều chất tinh quái, nghịch ngợm. Nguyễn Bính, Văn Cao, Nguyên Hồng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Cao, Trần Dần, Nguyễn Thi... nghịch quá đi chứ. Nguyễn Khải là cái ông nghịch ngầm, nghịch mà tưởng ngoan. Cứ  nhìn đôi mắt ông thì biết, liếc vào cái gì là cái ấy bị Khải hóa, bị "Mùa lạc" hóa, "Cha và con và..." hóa. Đôi mắt ông có khi hiền lành lẩy bẩy chất cua lột, lại có khi đáo để ranh mãnh như quạ đến trời cũng chẳng tha, nhìn có khi như dây lòi tói,  trói hồn vía cuộc đời lôi tuốt vào trang giấy mà pha ra từng mâm cỗ giả cầy.


 Mùa xuân gió thổi quá làm tôi thêm thương hai anh lính xanh biếc trước cửa nhà bác Khải. Hai anh vẫn dùng tàu cau xùm xụp lá mà đập ràn rạt vào bức tường đời sống, toan mách lẻo với giời đất cái chuyện biết thì thưa thốt, như thể loài cau cũng tính  ăn vạ ông cao xanh. Nhìn cái bàn viết văn rộng đến gần năm mét vuông la liệt giấy mực, ngổn ngang cả gánh hàng xén sách vở của ông, tôi biết dù đã chớm bảy mươi, sức viết ông vẫn còn lừng lững. Tuổi này, bút ông vẫn chưa hưu, vẫn phải hành nghề nuôi thân, vẫn tung hoành trên các báo, vẫn cứ gõ lên trang giấy tiếng gõ sột soạt, gõ kiểu ngứa ghẻ như toan gọi vĩnh cửu ơi, vừng ơi mở cửa. Ông sống được là nhờ cái duyên văn tự , nhờ một lối viết sắc sảo đến ma mị, chữ nghĩa bò như kiến tưởng lung tung lắm, quân hồi vô phèng lắm mà khi vung bút, hô một tiếng cầu phong đảo vũ là đâu lại vào đấy, là văn ra như rượu rót tràn ly. Chỉ thương hai cây cau đứng gác ngoài cửa kia sao quyết không chịu nhảy vào trang văn ông. Giá có hai anh cau này vào văn làm cột cho Nguyễn Khải dựa mà mượn gió bẻ măng; đặng lấy tán lá um tùm quạt phành phạch cho các nhân vật của ông bớt đổ mồ hôi hột, cho dòng suy tưởng luận đề nóng bức của ông hưởng được tẹo gió mùa xuân mà chữ nghĩa lại thêm phần mát mẻ .,. 


 

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

Shoot the Bloggers: John E. McIntyre

One of the best things about spending 20 years in newspapers is getting to work with people like copy editor John E. McIntyre. He worked at The Sun for 23 years, including 14 years as head of the copy desk.

John was the last line of defense against errors -- or outright stupidity -- getting into print. And that line of defense was well-fortified.

It was not at all unusual to get a midnight call from the copy desk, beginning with, " We have a little question about something in your caption..."

And more often than not, it was your sleepy butt they were saving. Read more »

Strobist is Now Powered by Light, too

On a kinda-related note, as of late last week Strobist's HQ began running on solar power. We only had enough roof space to offset about half of the juice we were suckin'. But it's a start.

If you are on the fence about solar, take a look at some of the incentives that are being thrown around. We got a 30% federal tax credit, a Maryland state rebate, a county property tax rebate and are selling the renewable energy credits.

All in all, that knocked nearly 70% off of the bill. It made the numbers a no-brainer. (We used Greenspring Energy, if you want more info.)

We went with a solar water heater, too. So most any time Strobist finds itself in hot water, it will be because of light. Fitting, I think.
__________

EDITOR'S NOTE: If you are getting ready to launch into some kind of political manifesto in the comments about how incentives to go green are BS, please don't bother.

(Sun-catching photo by Strobist reader Wirehead.)

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Đời yếm

Chẳng biết cái yếm có từ thời nào, nghe nói nó có từ thế kỉ 12 triều Lý.  Xưa dân mình quen ăn chắc mặc bền, áo quần còn chưa đủ mấy ai để ý đến nội y. Sáng kiến cải tiến nội y đặc săc này chắc chắn là của các công chúa, các tiểu thư phu nhân nhà quí tộc.  Người ta nói cái yếm ra đời để tôn cái lưng ong, thì đúng rồi, nhưng trước hết nó che bộ ngực, nơi đàn ông hay để ý tất phải có cái che đậy, bảo vệ.


             Thoạt kì thuỷ chiếc yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét làm cổ, hai đầu đính mẩu dây để cột ra sau gáy. Sau thì thiên hình vạn trạng. Cổ khoét tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xe, đáy chữ V mà sẻ sâu xuống gọi là yếm cổ nhạn….


Nghệ thuật nửa kín nửa hở của cái yếm gọi là tuyệt chiêu, cả ba góc luôn tình trạng sắp nhìn thấy nhưng vẫn kín đáo như thường. Tấm lưng ong lộ thiên phía sau, bộ ngực nẩy rung rinh phiá trước vô cùng hấp dẫn. Về sau sinh ra cái nịt ngực để bảo vệ bộ ngực, làm cho ngực khỏi sệ lại tránh được hoàn toàn mọi góc nhìn xéo của cánh mày râu.


Cái nịt ngực lúc đầu chỉ là tấm vải thô buộc chặt ngực, sau mới khoét lỗ cho thoáng, làm dây buộc cho tiện, gọi là cái xu chiêng. Đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xâm lược luôn cái yếm, mẫu corset của đàn bà tây chế ngự ngực đàn bà ta rất nhanh. Gái tân thời nêu gương đeo trước, về sau cả tân thời lẫn nạ dòng, cả gái quê lẫn gái thị thành đều đua nhau đeo, cái yếm tuồng như biến mất, chỉ còn lại nơi đàn bà thuần chất quê.


Thực ra nịt ngực là biến dạng của cái yếm, nó sinh ra vì nhu cầu có bộ ngực đẹp của phụ nữ, độ nửa kín nửa hở rõ ràng hơn. Đàn bà xưa nay đều vậy, vừa muốn che vừa thích khoe, cái yếm tưởng hở nhưng kín như bưng, nịt ngực khác, góc nào cũng lồ lộ những khoảng da thịt trắng ngần, gợi cảm hấp dẫn.


Ngày nay nơi gọi xu chiêng, nơi gọi nịt ngực, nơi gọi cooc-sê tùm lum tùm la. Trước 1975 không biết miền Nam gọi là gì chứ miền Bắc đều gọi  là cooc- sê, gọi thế vừa thanh lại vừa oách. Thời này chiến tranh ác liệt, dân chúng đào hầm phòng chống bom đạn thì cái cooc- sê cũng cố thủ bằng một lớp vỏ rất dày.


Lúc đầu chị em còn cho may chồng lớp nhiều lớp vải dày cộp, sau còn lót cả catton , giống hai cái phễu nhọn cứng. Ra đường cô nào cô nấy hai khối nhọn hoắt, càng nhọn càng oách. Chả hiểu ngực cứng nhọn thì đẹp kiểu gì nhưng các cô đua nhau cứng nhọn.


Đã thế còn thắt rất chặt, ép bộ tuyệt lê trong hầm catton, thời này chị em toàn cài cúc, mỗi lần cài cúc vô cùng khó, phải có người đứng sau giúp cài cho, rất phức tạp nhưng chẳng ai chịu nới rộng ra. Nhiều người bị viêm loét ngực cũng vì thế nhưng chẳng ai rời mốt nhọn cứng, cứ đua nhau cứng hơn nữa, nhọn hơn nữa, rất lạ.


Cô nào ngực nhỏ còn độn cả một lớp vải dày cứng, đôn cái cooc- sê lên thật cao thật nhọn cho bằng chị bằng em. Nhiều cô đầu nhọn cooc- sê đâm thủng cả áo. Đi xem phim đứng trước chị em, lỡ cô nào đè ngực vào lưng, hai cái đầu nhọn đâm một phát, đau chết điếng.


Miền Nam giải phóng, ngực chị em  miền Bắc cũng được giải phóng luôn, cái cooc-sê cứng nhọn chật cứng của chị em miền Bắc gần như đồng loạt biến mất, thay vào đó là cooc-sê mút mềm mại nhẹ nhàng rộng rãi của miền Nam.


 Cho  đến năm 1980 trở đi mốt nhọn hoắt nhường chỗ cho mốt tròn đều. Các cooc –sê có thêm một gọng đỡ bằng thép hay nhựa cứng, ngoài có viền đăng ten nhìn rất ngon mắt. Dần dà các loại cooc-sê được cải tiến thiên hình vạn trạng, cooc –sê không dây vai, cooc- sê khuy móc phía trước, cooc- sê may liền áo, cooc- sê hoàn toàn không dây, chỉ hai cái kẹp móc liền ngực vô cùng giản tiện.


Ngày nay hình như chị em đang chán các loại cooc-sê, nhiều người không thèm đeo nó nữa, họ thích sự rung rinh gợi cảm khi di chuyển hơn là cứ đóng đinh chật cứng, mất cả mềm mại. Cái yếm ngàn xưa lại trở về, trên sân khấu, ngoài đường phố ta thấy gái tân thời ngay nay đang đeo những cái yếm tân thời thay luôn cả áo. Cái yếm khéo phô cái eo thon và làn da trắng mềm mại, khoe luôn đôi cánh tay tròn lẳn, ba góc chéo luôn ở tình trạng sắp nhìn thấy, mỗi bước đi lại rung rinh rung rinh.


 Thế mới biết ông bà ta xưa thật khéo chơi.


( Bài viết cho Thời trang trẻ)


 

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

Đứa con chung của bốn người đàn bà+ ĐỌC SÁCH CỦA TỨ QUÁI CÔ NƯƠNG TRÊN Vnweblogs

Chiều nay (Ngày 15/01/2010) vào lúc 17h tại Vườn Thiên Thai 699-701 đường Trường Chinh quận Tân Phú t/p HCM sẽ có buổi ra mắt cuốn sách Tin nhắn một chiều của bốn cây bút nữ: Thanh Chung, Lâm Cúc, Hoài Vân, Kim Oanh. Họ là những bloggers thân thiết của bọ. Bà con ai có điều kiện xin mời đến chung vui cùng với họ. Nhân dịp này bọ xin giới thiệu cái tựa bọ đã viết cho cuốn sách. Mời bà con ngự lãm, hi hi


Bốn người đàn bà bốn góc trời, có thể nói như vậy, nhờ blog mà quen nhau, rồi thân nhau và bây giờ cùng nhau ghép những mảnh văn riêng lẻ của mỗi người thành một cuốn sách chung. Thế mới biết thế giới ảo đôi khi gần gũi thân thiết, làm cho người ta xích lại gần nhau nhanh hơn, chân thật mặn mà hơn cả thế giới thật.


Có lẽ không có ai trong họ trong đời có một lần mơ mình sẽ trở thành nhà văn. Những gì viết ra đây họ cũng chẳng nghĩ là văn, chỉ vì nhu cầu giao lưu trong thế giới ảo, cũng như bao nhiêu blogger khác, họ đã gom nhặt kí ức, ném lên trời tiếng reo của niềm vui, tiếng thở dài của nỗi buồn, tiếng kêu của nỗi đau, cả tiếng thét của giận dữ, của uất hận nữa... Tất cả đã tạo ra văn mà họ không hề biết, đúng hơn là không để ý.


Văn chương suy cho cùng là phần kết tủa của kí ức được các con chữ gồng gánh bày bán giữa đời, chẳng có gì khác hơn. Phàm là kí ức tất nhiên là phải thật, chỉ khi kí ức bị cắt xén, bị xào nấu, bị thổi phồng thì cái thật biến mất nhường chỗ cho cái giả. Thật ở đây là chân thật, không ai tính nó có thật hay là không.


Trong ba mươi năm cầm bút trần ai của mình, tôi nghiệm ra rằng nếu cố tình rặn ra văn, tô son trát phấn chữ nghĩa, thổi phồng, uốn éo cái tôi rồi gói ghém bằng thứ bao bì có tên là Chân Thật  thì may lắm chỉ loè được đôi ba người, đôi ba trăm người, nhiều lắm là một thế hệ, thứ văn đó nhất định sẽ chết yểu.


Cho nên cũng như tình yêu, không biết mình yêu vì cái gì, đến với nhau từ lúc nào nữa, văn chương cũng vậy, một ngày đẹp trời bỗng thấy hồn mình muốn hót lên như chim trời, thế là viết, cứ viết thế thôi chẳng biết mình muốn nói điều gì, theo thể loại nào, đấy là việc của các nhà lý luận, không phải việc của nhà văn.


 Viết đến một lúc nào đấy ta bỗng nhận ra giọng điệu của riêng ta, nẻo đường của riêng ta, cả cái đích mà ta đang đi tới cũng sáng sủa rõ ràng, khi đó ta đã là nhà văn rồi đấy.


Tôi đồ rằng bốn người đàn bà này cũng đến với văn chương cũng theo cách ấy. Một ngày đẹp giời họ chợt nhận trái tim mà họ tưởng đã cằn cỗi bỗng muốn cất lên một nỗi gì đó, cũng là lúc văn học mạng mở cánh tự do chào đón những ai có nhu cầu chia sẻ mọi nỗi niềm.


 Thế là họ viết và gửi, viết trong im lặng gửi vào hư vô. Chẳng ngờ họ nhận được vô số những lời chia sẻ động viên  từ thế giới mênh mông vô hình vô ảnh. Thế giới ảo ngọt ngào và chân thật, sòng phẳng và vô tư dần dần cho họ thấy nẻo vào văn chương của họ, và thế là hôm nay họ có cuốn sách rất thật để gửi vào đời thật.


Đặt gần nhau mới thấy rõ mỗi người một giọng riêng, một nẻo riêng để đến với đời, không ai lẫn vào ai.


Thanh Chung thảng thốt về cái sự mất, văn chị là văn buồn, cái nỗi buồn bỗng dưng. Nỗi buồn đang có bỗng dưng không, đang phúc bỗng dưng hoạ, đang đôi bỗng dưng một chập chờn trên tất cả các trang văn, có vẻ như chị đang cố tình nói với mọi người, rằng chị viết ra chỉ là để kể chơi vui, không không đời chị không phải vậy.


 Lâm Cúc xốn xang với nhiều số phận trớ trêu, tuồng như lúc nào chị cũng muốn kêu lên, kêu to lên nhưng nghẹn lại, văn chị vì thế là văn đau. Chị đau vì những va đập phi lý và trớ trêu, đau vì nuốt nước mắt gắng gỏi tìm kiếm những lẽ đời an ủi, rốt cuộc vẫn va vào trớ trêu và phi lý, kể cả khi chị tìm đến những con người dễ thương, những số phận ngọt ngào.


Hoài Vân tủm tỉm trong những chuyện bi hài nho nhỏ, những ngộ nhận và sai lầm. Văn chị là văn hờn, hình như chị đang hờn ai, cũng có thể chị đang hờn chị. Chị đang hờn dỗi vớí tuổi thanh xuân nhiều ngộ nhận của chị chăng?


Kim Oanh tưng tửng về những nẻo đời đắng ngắt, tấn bi hài nhập nhằng giữa sáng và tối, thiện và ác, cho thấy cái mà người ta gọi là hạnh phúc hình như không có thật. Văn chị là văn đắng. Đau quá hoá đắng, một khi không khóc được thường người ta nở một nụ cười đắng ngắt. Nụ cười đắng khó quên, văn đắng cũng vậy chăng.


Tôi không dám nói văn các chị hay dở thế nào, bởi vì cái đó luỵ vào bạn đọc, vào thời gian, vả chăng các chị có viết văn đâu mà nói chuyện văn hay dở. Các chị viết ra để giãi bày, để sẻ chia, ở thế giới ảo các chị đã có được điều đó. Vậy thì Tin nhắn một chiều của các chị một khi vào đời thật cũng sẽ nhận được chia sẻ nồng nàn của người đời, tôi tin là như vậy.


Hà Nội ngày Lập Đông - 2009



ĐỌC SÁCH CỦA TỨ QUÁI CÔ NƯƠNG TRÊN Vnweblogs
(Tin nhắn một chiều - Nxb Hội Nhà Văn)


Nguyễn Trọng Tạo

 Nguyễn Quang Lập thật mả khi gọi tên văn của 4 quái nữ Vnweblogs là văn buồn, văn đau, văn hờn, văn đắng. Đó là văn của Thanh Chung, Lâm Cúc, Hoài Vân, Kim Oanh.


Thanh Chung viết nhiều viết đều viết khỏe. Văn blog của nàng dù là ký ức hay bịa đặt đều làm cho người ta tin là nó đã như thế, đang như thế, sẽ như thế. Một đời sống Việt Nam quá vãng hay hiện tại được nhìn từ Mỹ mà không phải Mỹ. Thanh Chung là một người Việt chân thật hoặc ít nhất bằng văn blog nàng cũng cũng đã xây đắp được điều đó. Nàng là người thích đùa, nhưng nàng buồn, và thường vượt qua được nỗi buồn bằng thông minh và kiên nghị. Vì thế mà văn của nàng từ sắc đến sâu sắc.

 Lâm Cúc có sự độc đáo của một người viết, nếu không viết ra được chắc nàng sẽ phát bệnh đau thương. Tôi nhìn thấy trong những con chữ đôi mắt của nàng luôn chứa những nỗi buồn nghiêm nghị. Buồn và nghiêm nghị với người với đời. Làm bạn của nàng chắc phải nói chuyện nghiêm túc đừng có cợt nhả dễ bị chỉnh bị phăng như chơi; hoặc tốt nhất là im lặng mà cùng phát bệnh đau thương với nàng.


 Hoài Vân thích thăm thú những kỳ quan, và không thích cỡi ngựa xem hoa nên nàng thường mệt mỏi sau cơn khám phá bí mật của kỳ tích. Nói chung, nàng làm việc gì cũng hết sức, đến nơi đến chốn. Nàng thích truy căn nguyên nên ghét kẻ dối trá. Muốn đùa với nàng thật khó. Đùa vô duyên sẽ bị nàng hờn. Mà nàng đã hờn là hờn muôm kiếp, he he. Nhưng văn nàng lại dịu dàng và giàu tình thương mến.


 Văn Kim Oanh đẹp và đa cảm nhưng biết thoát khỏi những rườm rà thừa mứa. Nàng có thể kiệm lời quá vì quá ít thì giờ, nhưng có nhiều thì giờ chắc văn nàng cũng kiệm lời như thế. Vì thế mà văn nàng lắm khi hiện đại bất ngờ. Báo chí và văn chương luôn là cặp đối lập nhưng ở Kim Oanh ta thấy nhuần nhị khi nàng khép con mắt nhà báo để mở ra con mắt nhà văn. Đọc nàng ta có khoái cảm như ăn mướp đắng còn tươi xanh cặp với ruốc bông trắng.


 Cả 4 nàng in chung một tập sách. 4 trong 1 và 1 trong 4. Cả 4 nàng có gì đó khá gần nhau mà rất riêng biệt. Nhưng có lẽ điều chung nhất là yêu. Yêu đến đau thương bởi các nàng tự biết lùi, biết ngậm ngải. Bởi các nàng cá tính thích yêu cá tính, và cũng thất vọng vì cá tính. Có lẽ vì thế mà các nàng chơi blogs và trở thành người viết văn lúc nào không hay biết. Văn chương với các nàng không phải để trổ tài mà để giãi bày và chia sẻ. Văn chương làm vợi đau thương và hiện ra khát vọng. Văn chương của các nàng gần gũi như tin nhắn như comment như ngôi nhà ảo giác luôn ấm áp hồn người. Không ngẫu nhiên truyện của nàng nào cũng vương vào điện thoại, tin nhắn, internet... Và đôi khi "tin nhắn một chiều"...


 

[caption id="attachment_4371" align="alignleft" width="210" caption="Bìa của Nguyễn Trọng Tạo, bốn bà rất thích nhưng không dám duyệt, he he"][/caption]

 Tôi đã đọc các nàng trên mạng nhưng khi đọc trên giấy, thấy các nàng như rõ hơn, đẹp hơn và cũng... quái hơn. Thấy các nàng đang ngồi đứng chạy nhảy và nằm duỗi bên nhau khóc cười lườm nguýt... Ôi, blog không chỉ mang đến văn chương mà điều quan trọng hơn là mang đến tình bạn tình người thật đẹp. Chúc mừng tập sách của "Tứ quái cô nương" ra mắt và chúc mừng từng nàng mà tôi rất quý mến.


 


Hà Nội, 14.1.2009